Sacombank vượt 21,4% kế hoạch lợi nhuận 2019, dịch vụ chiếm gần ¼ tổng thu nhập thuần
Kết thúc năm 2019, lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2019 của Sacombank đạt 3.217 tỷ đồng, vượt 21,4% so với kế hoạch đã cam kết tại đại hội đồng cổ đông; tổng tài sản đạt gần 453.600 tỷ đồng, huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư đạt hơn 410.330 tỷ đồng, cho vay khách hàng đạt hơn 296.000 tỷ đồng.
Trong đó, thu dịch vụ có đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập thuần năm 2019 của Sacombank, chiếm tỷ trọng 23%, đạt 3.323 tỷ đồng (tăng 23,9% so với năm trước), thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu từ khách hàng của hệ thống sản phẩm dịch vụ được ngân hàng phát triển theo hướng hiện đại, an toàn, bảo mật, gia tăng tiện ích và trải nghiệm tối ưu. Sacombank duy trì nhịp độ tăng trưởng tích cực đối với các dịch vụ truyền thống, đồng thời từng bước chuyển dịch kênh phân phối sản phẩm dịch vụ sang các kênh số hóa, kết hợp phát triển dịch vụ liên kết bảo hiểm với mức tăng trưởng cao.
Về hoạt động thẻ, phát triển 5,3 triệu khách hàng sử dụng thẻ cùng mạng lưới chấp nhận thẻ lên đến hơn 1 triệu máy ATM và gần 48.000 máy POS. Hiệu quả kinh doanh đem lại trên từng ATM và POS được đánh giá cao, với doanh số lần lượt tăng 8,1% và 75,6%. Từ đó, giúp tăng lợi nhuận của hoạt động thẻ lên hơn 38%. Về hoạt động ngân hàng điện tử, Sacombank phát triển công nghệ mới nhất, mở rộng các tính năng, chú trọng trải nghiệm cho khách hàng, góp phần thúc đẩy gia tăng lượng người dùng thanh toán thêm gần 40% (đạt gần 1,9 triệu khách hàng) với số lượng và doanh số giao dịch lần lượt tăng hơn 66% và 47%, đẩy mạnh nguồn thu dịch vụ tăng 87%. Về hoạt động bảo hiểm, quy mô và hiệu quả tăng mạnh trong năm thứ 2 liên kết với Dai-ichi Life Việt Nam, thu hút gần 100.000 khách hàng mới tham gia bảo hiểm với doanh số FYP tăng 89% so với năm trước, đem về khoản thu dịch vụ bảo hiểm tăng 86,6%.
Ngoài ra, Sacombank duy trì được hệ khách hàng ổn định gần 6 triệu cá nhân và doanh nghiệp; mạng lưới hoạt động hiệu quả gồm 570 điểm giao dịch tại 52 tỉnh thành Việt Nam cùng hai nước Lào, Campuchia. Đặc biệt, Sacombank đã ứng dụng Basel II vào hoạt động từ ngày 01/01/2020 theo đúng lộ trình của Thông tư 41. Mục tiêu trọng tâm của Sacombank trong năm 2020 là: Gia tăng hiệu quả kinh doanh, phát triển quy mô và thị phần, cải thiện các chỉ số tài chính; Quyết liệt xử lý nợ xấu và kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng; Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu; Tối đa hoá giá trị và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng; Tiên phong trong nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và an toàn bảo mật; Thiết thực đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp và các thành phần kinh tế; Thực hiện triệt để việc tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng nhân sự và cải thiện môi trường làm việc.
Nguồn: TCNH Số 04/2020
Tin bài khác
Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ
Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp
Thanh niên với tương lai đất nước
Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam