Những “phép màu” năm mới của nền kinh tế

Infographics
Khoa học kinh tế cho thấy, thực tế phong phú hơn nhiều so với lý thuyết kinh tế tiêu chuẩn. Có những hiện tượng trong nền kinh tế trái ngược với khoa học, đặc biệt là những hiện tượng kinh tế nổi bật trong năm mới.
aa

Tóm tắt: Có những câu hỏi đặt ra: Khi nào có thể “bỏ hết trứng vào một giỏ”? Tại sao việc phá hủy giá trị lại có thể gia tăng phúc lợi? Tại sao tất cả các nhà đầu tư đều tin vào ông già Noel? Trong kỳ nghỉ đông, có các hiện tượng trong nền kinh tế trái ngược với khoa học, nhưng chúng hoàn toàn có những giải thích hợp lý.

Khoa học kinh tế giống cũng như những ngành khoa học khác, hoạt động dựa trên lý thuyết và giả thuyết, nhưng vào dịp lễ, Tết, khoa học kinh tế xuất hiện những điều kỳ diệu. “Phân tích kinh tế” cho thấy, thực tế phong phú hơn nhiều so với lý thuyết kinh tế tiêu chuẩn. Bài viết này đề cập và lý giải những hiện tượng kinh tế nổi bật nhất trong năm mới.

Từ khóa: “Bỏ hết trứng vào một giỏ”, vở kịch ballet “Kẹp hạt dẻ”, nền kinh tế “Kẹp hạt dẻ”, hiệu ứng tăng giá của ông già Noel, giá trị của món quà.

NEW YEAR'S "MIRACLES" IN THE ECONOMY

Abstract: When can you “Put all your eggs in one basket,” why does destroying value sometimes increase welfare, and why do all investors believe in Santa Claus? During the winter holidays, the economy exhibits phenomena that seem to contradict science, yet they have entirely rational explanations.

Like any other science, economics operates based on theories and hypotheses. However, during the festive season, it often encounters miracles that defy standard logic. Economic analysis reveals that life is far richer and more nuanced than conventional economic theories suggest. Below are some of the most striking New Year economic phenomena - along with their explanations.

Keywords: Put all your eggs in one basket, The Nutcracker, The economics of the Nutcracker, Santa Claus Rally, value of gift.

1. Nền kinh tế “Kẹp hạt dẻ”

“Kẹp hạt dẻ” là một trong những tác phẩm âm nhạc và ballet nổi tiếng nhất của Pyotr Ilyich Tchaikovsky, được sáng tác vào năm 1892. Vở ballet này dựa trên câu chuyện “Kẹp hạt dẻ và Vua chuột” của Ernst Theodor Amadeus Hoffmann, với phần chuyển thể kịch bản của Marius Petipa và Lev Ivanov.

“Nhỡ đâu vở kịch ba lê “Kẹp hạt dẻ” lại là một thứ tệ hại...” - Pyotr Ilyich Tchaikovsky1 đã viết cho em trai Modest Tchaikovsky ngay trước buổi ra mắt vở ballet, diễn ra tại Nhà hát Mariinsky (Saint Petersburg, Nga) vào tháng 12/1892. Việc dàn dựng từ truyện cổ tích “Kẹp hạt dẻ và Vua chuột” của nhà văn và nhạc sĩ người Đức Ernst Theodor Amadeus Hoffmann đã khiến Hoàng đế Alexander III2 hài lòng, nhưng lại khiến báo giới và các nhà phê bình thất vọng. Họ coi màn trình diễn là “vô vị” và “nhàm chán”, còn âm nhạc thì “khá yếu”. Constantin Skalkovsky3 đã viết: “Nhìn chung, vở kịch “Kẹp hạt dẻ” được dàn dựng chủ yếu dành cho trẻ em, trong đó, có rất ít nội dung dành cho vũ công và hoàn toàn không có gì dành cho nghệ thuật. Ngay cả âm nhạc cũng trở nên khá yếu”.

Nikolai Bezobrazov4, một quan chức Nga và nhà phê bình trên tờ báo “Petersburg”, đã công kích: “Thật khó để tưởng tượng điều gì nhàm chán và vô nghĩa hơn vở kịch “Kẹp hạt dẻ”. Những khán giả thông thường của ballet đang mong mỏi từng ngày để cuối cùng có thể thấy tác phẩm nghèo nàn của ông Tchaikovsky bị gỡ khỏi lịch diễn, nhưng có vẻ họ sẽ còn phải chờ lâu”. Lời nhận xét của ông là một lời tiên tri, nhưng hoàn toàn không như ông mong đợi. “Kẹp hạt dẻ” đã trở thành vở ballet nổi tiếng nhất thế giới và nhân vật chính của câu chuyện cổ tích này - một món đồ chơi bằng gỗ, đơn giản kẹp hạt dẻ đã trở thành biểu tượng của Lễ Giáng sinh.

“Kẹp hạt dẻ” là một sản phẩm kinh doanh thiết yếu , không những mang lại nguồn doanh thu chính cho các nhà hát mà còn hỗ trợ những ngành công nghiệp khác liên quan

“Kẹp hạt dẻ” là một sản phẩm kinh doanh thiết yếu, không những mang lại nguồn doanh thu chính cho các nhà hát mà còn hỗ trợ những ngành công nghiệp khác liên quan (Nguồn: Internet)

Vở diễn “Kẹp hạt dẻ” mang đến một nửa doanh thu của cả mùa cho các đoàn ballet của Mỹ và một số nhà hát; thậm chí, họ xây dựng mô hình kinh doanh xoay quanh vở diễn này. Sức ảnh hưởng của vở diễn lan tỏa ra toàn ngành công nghiệp múa, thúc đẩy doanh số bán trang phục, đạo cụ và quà lưu niệm. Tầm ảnh hưởng chưa từng có của một vở diễn duy nhất đã tạo ra một khái niệm riêng để mô tả quy mô của nó - “Nền kinh tế Kẹp hạt dẻ” (The Nutcracker Economics).

Vượt ra ngoài nước Nga, vở ballet “Kẹp hạt dẻ” được dàn dựng lần đầu tiên tại London vào năm 1934 bởi Nikolai Sergeev, cựu Giám đốc đoàn múa ballet của Nhà hát Imperial Mariinsky ở St. Petersburg, người di cư từ Nga sau cuộc cách mạng năm 1917.

Tại Mỹ, khán giả lần đầu tiên đã xem vở ballet “Kẹp hạt dẻ” vào năm 1944 ở San Francisco. Nhưng nền tảng cho “nền kinh tế Kẹp hạt dẻ” đã được đặt ra khi George Balanchine, người nhập cư từ Liên Xô cũ, được coi là cha đẻ của ballet Mỹ, dàn dựng vở ballet “Kẹp hạt dẻ” ở New York vào năm 1954. Bảy năm sau, khi Đệ nhất phu nhân nước Mỹ, Jacqueline Kennedy công bố vở ballet “Kẹp hạt dẻ” là chủ đề Giáng sinh ở Nhà Trắng và trang trí cây thông Noel bằng đồ chơi có hình các nhân vật múa ballet, “Kẹp hạt dẻ” đã trở thành một truyền thống Giáng sinh ở Mỹ.

Không lâu sau, “cơn sốt” “Kẹp hạt dẻ” vào dịp Giáng sinh đã lan sang châu Âu, và ngày nay, dường như chỉ có Nam Cực là nơi không diễn vở này trước thềm năm mới. Vào năm 2014, đoàn múa ballet Johannesburg đã múa phiên bản Nam Phi của vở kịch, trong đó, bối cảnh diễn ra ở sa mạc Kalahari và vào năm 2016, Nhà hát Ballet Quốc gia Trung Quốc cũng giới thiệu cách diễn múa ballet riêng, khi thay chuột bằng rồng.

Vì vậy, câu chuyện Giáng sinh của Đức về chiến thắng của cái thiện trước cái ác đã trở thành một ngành công nghiệp toàn cầu. Tại Mỹ, nơi vở ballet “Kẹp hạt dẻ” đã được dàn dựng ở mọi tiểu bang kể từ những năm 1980, vở ballet này được gọi là “bánh mì và bơ” (Bread - And - Butter Ballet) và đôi khi chỉ đơn giản là “con bò tiền mặt” (cash cow) của ngành kinh doanh khiêu vũ. Một nghiên cứu năm 2017 cho thấy, doanh thu trung bình mà “Kẹp hạt dẻ” tạo ra cho các công ty múa ballet của Mỹ chỉ trong vài tuần mùa đông là 55% doanh thu theo mùa và 15% doanh thu hằng năm của họ. Một số đoàn được thành lập chỉ để múa “Kẹp hạt dẻ”.

Chỉ chuyên về múa “Kẹp hạt dẻ” có vẻ không hiệu quả về mặt chi phí vì đây là một ví dụ về việc bỏ tất cả trứng vào một giỏ. Đối với bất kỳ nhà phân tích kinh doanh nào cân nhắc về rủi ro, điều này nghe có vẻ giống như một cơn ác mộng. Nhưng thực tế nhiều năm cho thấy, nhu cầu về vở kịch ballet này luôn rất lớn và việc đặt cược vào nó hầu như không có rủi ro, Shakira Segundo, Giám đốc tài chính của Orlando Ballet, thừa nhận. Đoàn kịch do cô chịu trách nhiệm về tài chính chỉ biểu diễn một vở kịch duy nhất mang tên “Kẹp hạt dẻ” từ ngày 6 đến ngày 24/12 hằng năm.

Trong thế giới ballet, “Kẹp hạt dẻ” là một sản phẩm kinh doanh thiết yếu. Theo một khảo sát của Dance/Mỹ về mùa diễn 2017 - 2018 của 24 công ty thành viên, vở diễn này mang lại trung bình 48% tổng doanh thu từ các buổi biểu diễn (tương đương trung bình 2,8 triệu USD tiền bán vé mỗi năm). Đây thường là sản phẩm có doanh thu cao nhất trong một mùa diễn. Doanh thu từ “Kẹp hạt dẻ” không chỉ để trả lương hay hóa đơn điện. Các đoàn ballet dựa vào nguồn thu này để đặt hàng các tác phẩm mới và thử nghiệm những sản phẩm không có danh tiếng tại phòng vé. “Kẹp hạt dẻ” đóng vai trò rất quan trọng đối với chu kỳ doanh thu gộp của một đoàn múa và ballet, Amy Fitterer, Giám đốc điều hành của Dance/Mỹ, chia sẻ. Mikko Nissinen, Giám đốc nghệ thuật của Boston Ballet cho biết: “Kẹp hạt dẻ là sản phẩm duy nhất tạo ra doanh thu - còn các sản phẩm đều thua lỗ”. Theo một đại diện của công ty, vào năm 2019, mùa diễn “Kẹp hạt dẻ” gồm 41 buổi diễn của Boston Ballet đã mang lại hơn 8 triệu USD doanh thu gộp.

Vở ballet huyền thoại Tchaikovsky còn hỗ trợ những ngành công nghiệp khác liên quan với nhà hát. Thông thường, cả gia đình sẽ đi xem “Kẹp hạt dẻ”, một chuyến đi chơi như vậy bao gồm cả mua hoa cho các diễn viên múa ba lê, vũ công, mua quà lưu niệm, trả tiền đỗ xe, ăn tối tại nhà hàng. Siêu phẩm đình đám mùa đông của Tchaikovsky thu hút hàng nghìn người, điều đó có nghĩa là không chỉ điệu nhảy ma thuật của Nàng tiên Kẹo viên (Dance of the Sugar Plum Fairy) mới đáng được tán thưởng, mà còn là truyền thống đi xem “Kẹp hạt dẻ” vào đêm giao thừa có sức ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế.

2. Hiệu ứng tăng giá của ông già Noel (The Santa Claus Rally)

Nghe có vẻ khó tin nhưng ông già Noel thường tặng quà năm mới cho các nhà đầu tư: Trong 5 ngày giao dịch cuối năm và 2 ngày đầu năm mới, thị trường chứng khoán có xu hướng tăng cao hơn bình thường. Hiện tượng này, được gọi là “Hiệu ứng tăng giá của ông già Noel” (“Santa Claus Rally”)5, được Yale Hirsch6 phát hiện và công bố lần đầu tiên trong ấn bản “Stock Trader’s Almanac” (Niên giám các nhà giao dịch chứng khoán) năm 1973. Khi đó, ông tính toán rằng, từ năm 1950 - 1971, sự tăng giá kéo dài bảy ngày của ông già Noel đã khiến chỉ số S&P 500 tăng trung bình 1,5%.

Hiệu ứng tăng giá của ông già Noel thường mang đến những “món quà năm mới” cho các nhà đầu tư

Hiệu ứng tăng giá của ông già Noel thường mang đến những “món quà năm mới” cho các nhà đầu tư (Nguồn: Internet)

Điều tương tự cũng xảy ra trong nửa thế kỷ tiếp theo. Từ năm 1950 - 2023, S&P 500 tăng 80% vào những ngày cuối tháng 12 cho đến những ngày đầu tiên của tháng 1 năm kế tiếp. Trong hơn 70 năm, mức tăng trung bình của chỉ số này là 1,3%; đây là mức tăng hằng tuần nhanh nhất của chỉ số trong một năm.

Sự tăng giá trong năm mới không chỉ đặc trưng ở thị trường phương Tây. Năm 2016, các nhà nghiên cứu Mỹ nhận thấy, hiệu ứng tương tự ở các quốc gia chào đón năm mới không phải vào đêm 31/12 đến ngày 01/01 mà vào những ngày khác. Sau khi phân tích dữ liệu từ 11 quốc gia, bao gồm Trung Quốc, Thái Lan và Israel, nơi năm mới được tổ chức lần lượt vào tháng 1, tháng 2, giữa tháng 4 và tháng 9, tháng 10, các tác giả kết luận rằng, trung bình trong tháng mà năm mới diễn ra, lợi nhuận chứng khoán trên thị trường chứng khoán địa phương cao hơn 2,5% so với các tháng khác.

Hiệu ứng tăng giá của ông già Noel không chỉ được quan sát thấy ở các thị trường tài chính truyền thống, mà còn ở thị trường tài sản tiền điện tử. Theo CoinGecko, 8 trong số 10 năm qua, thị trường tiền điện tử đã cho thấy, một đợt tăng giá vào dịp lễ từ ngày 27/12 đến ngày 02/01 năm kế tiếp - với mức tăng bình quân 3,7%. Trong khi vào tuần trước Giáng sinh (25/12), chỉ có 5 trên 10 năm ghi nhận mức tăng.

Thoạt nhìn, hiệu ứng tăng giá của ông già Noel còn một đặc tính khác khó giải thích. Người ta tin rằng, nếu đợt tăng giá này diễn ra, thị trường sẽ cho thấy sự tăng trưởng trong cả năm tới. Ngược lại, nếu không có hiện tượng này thì thị trường sẽ rơi vào vùng tiêu cực trong cả năm. Nhà phân tích Hirsch từng cảnh báo, nếu ông già Noel không đến Phố Broad và Phố Wall (tức là, khu tài chính New York, nơi đặt Sở Giao dịch Chứng khoán New York), thì sẽ có một thị trường giá xuống (ông thậm chí còn gieo vần để dễ nhớ hơn: “Nếu ông già Noel không gọi, thị trường gấu có thể đến Broad và Wall” (“If Santa Claus should fail to call, bears may come to Broad and Wall”).

Quy tắc này cũng có một số biến thể như, kết quả của 5 ngày giao dịch đầu tiên trong năm được coi là dự đoán chính xác hơn. Trong 73 năm qua, kể từ năm 1950, 5 ngày giao dịch đầu tiên dự đoán đúng kết quả của năm với tỉ lệ 69% trường hợp. Jim O’Neill, cựu Chủ tịch của Goldman Sachs Asset Management, tác giả của từ viết tắt BRIC, thừa nhận vào tháng 01/2022: “Tôi tuân theo quy tắc 5 ngày theo bản năng, mặc dù nó không có cơ sở lý thuyết hay cơ sở hợp lý”. Khi đó, chỉ số S&P 500, dù tăng vào cuối tháng 12/2021 và trong “tuần lễ ông già Noel”, nhưng lại giảm trong 5 ngày giao dịch đầu tiên của năm mới. Vào cuối năm 2022, nó đã giảm 18%. Đây là kết quả tồi tệ nhất kể từ năm 2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra. Trong 5 ngày giao dịch đầu tiên của năm 2008 (cũng như trong “tuần lễ ông già Noel”), chỉ số S&P 500 cũng giảm. Cả hai chỉ báo - năm ngày đầu tiên và “tuần lễ ông già Noel” - đều dự báo đúng vào đầu năm 2000: Chỉ số này sụt giảm và vào tháng 3/2000, bong bóng dot-com đổ vỡ, khiến thị trường rơi vào tình trạng suy giảm kéo dài ba năm.

Tuy nhiên, hiện tượng này không xảy ra hoặc chỉ số giảm trong giai đoạn này đôi khi được coi là dấu hiệu cảnh báo sớm những khó khăn tiềm ẩn trong nền kinh tế hoặc thị trường vào năm mới, các tác giả của cuốn sách Stock Trader’s Almanac giải thích mô hình này. Nhưng ông già Noel có thể sai. Ví dụ vào đầu năm 2016, chỉ số S&P 500 đã giảm (trong tháng 1 và tháng 2), gây lo ngại trên thị trường. Tuy nhiên, đến cuối năm, chỉ số này đã tăng, nhờ vào: (i) Cải thiện dần các chỉ số kinh tế ở Mỹ; (ii) Niềm tin của nhà đầu tư vào chính sách ổn định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ; (iii) Kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ, sau đó thị trường phục hồi mạnh mẽ.

Hiệu ứng tăng giá của ông già Noel được giải thích với nhiều lý do. Thứ nhất, vào những ngày cuối tháng 12, các nhà đầu tư tổ chức (như các quỹ đầu tư và nhà quản lý chuyên nghiệp) thường nghỉ lễ và thị trường trở nên “mỏng” (ít giao dịch hơn), phần lớn được chi phối bởi các nhà đầu tư cá nhân, những người thường có xu hướng mua vào và kỳ vọng tăng giá. Thứ hai, các quỹ thường bán cổ phiếu đã giảm giá vào cuối năm để tối ưu hóa nộp thuế; việc bán này thường kéo theo việc tăng giá vào tháng 1 do việc mua lại chứng khoán đã bị bán trước đó. Thứ ba, trước thềm năm mới, nhiều người lao động nhận được các khoản thưởng cuối năm và đầu tư số tiền này ngay lập tức, thúc đẩy thị trường tăng trưởng. Và cuối cùng, tâm lý thị trường trước kỳ nghỉ lễ thường cải thiện, dẫn đến sự gia tăng tâm lý lạc quan. Nhà đầu tư có xu hướng mua vào trong giai đoạn này, góp phần làm tăng giá cổ phiếu. Yếu tố này có thể được kết hợp với các yếu tố về hành vi bầy đàn và hiệu ứng Pygmalion7 - nếu các nhà đầu tư tin rằng thị trường sẽ tăng giá vào cuối năm, chính niềm tin này sẽ thúc đẩy họ hành động (mua vào), qua đó, biến kỳ vọng thành hiện thực. Những yếu tố trên cùng tác động lẫn nhau, tạo ra hiện tượng tăng giá thường thấy vào cuối năm, dù không phải lúc nào cũng chắc chắn xảy ra.

Trong vài thập kỷ qua, nền kinh tế toàn cầu và cách thức giao dịch cổ phiếu đã thay đổi rất nhiều. Vào thời kỳ nghiên cứu của Yale Hirsch, không tồn tại giao dịch thuật toán hay giao dịch tần suất cao như ngày nay. Các công cụ phái sinh phức tạp cũng chưa xuất hiện, cấu trúc nhân khẩu học của nhà đầu tư cũng hoàn toàn khác biệt.

George Smith, chiến lược gia danh mục đầu tư tại LPL Financial, bày tỏ sự hoài nghi: “Nhiều dữ liệu lịch sử (ủng hộ sự tồn tại của “Hiệu ứng tăng giá của ông già Noel” trong các giai đoạn lịch sử dài) thuộc về một thời kỳ mà thành phần tham gia thị trường hoàn toàn khác”8. Ví dụ, một trong những nghiên cứu gần đây cho thấy, không có bằng chứng rõ ràng về hiệu ứng ông già Noel tại thị trường Mỹ kể từ năm 2000, trong khi một nghiên cứu khác cho thấy, hiệu ứng dần suy yếu qua thời gian. Ngược lại, một nghiên cứu dựa trên dữ liệu của New Zealand cho thấy, hiệu ứng này đang dần trở nên rõ rệt hơn.

Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của thị trường chứng khoán là, kết quả trong quá khứ không đảm bảo cho kết quả trong tương lai. Giá cổ phiếu tại bất kỳ thời điểm nào đều chịu ảnh hưởng của hàng chục yếu tố khác nhau, nhà đầu tư Rick Orford, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng về tài chính đã nhắc nhở trong một bài viết trên trang web của sàn NASDAQ. Rick Orford khuyến nghị không nên hoàn toàn bỏ qua quy tắc năm ngày (hoặc bất kỳ chỉ báo nào khác), bởi lẽ: (i) Mỗi chỉ báo đều có thể đóng vai trò hữu ích trong việc hiểu rõ hơn về thị trường chứng khoán, vốn vô cùng phức tạp; (ii) Tuy nhiên, chỉ dựa vào một chỉ báo duy nhất để phân tích và đưa ra quyết định đầu tư không phải là chiến lược đầu tư tốt nhất.

3. Lợi ích của những “món quà vô dụng”

Các nhà kinh tế học thường bị xem là những người ít lãng mạn nhất trên thế giới, và điều này không hẳn là không có cơ sở9. Chỉ có nhà kinh tế mới có thể coi truyền thống tặng quà trong các dịp lễ là một sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả.

Người tiên phong cho ý tưởng về tính “phi hiệu quả kinh tế” của quà tặng là nhà kinh tế học Joel Waldfogel, Đại học Yale. Trong một cuộc khảo sát, ông đã hỏi hàng trăm sinh viên rằng, họ đánh giá giá trị những món quà nhận được từ bạn bè và gia đình như thế nào; so sánh điều đó với giá trị thực tế của những món quà. Kết quả khảo sát cho thấy, chi phí trung bình của một món quà là 438 USD, nhưng người nhận chỉ định giá chúng là 313 USD.

Giá trị của một món quà không bị giới hạn, thậm chí không nhất thiết được xác định bởi giá trị vật chất của nó

Giá trị của một món quà không bị giới hạn, thậm chí không nhất thiết được xác định bởi giá trị vật chất của nó (Nguồn: Internet)

Khi tự mua đồ cho mình, con người có xu hướng cảm thấy thỏa mãn ở mức tương đương hoặc cao hơn số tiền đã chi, bởi món đồ được chọn đáp ứng đúng nhu cầu, sở thích của mình. Khi mua quà cho người khác, việc thiếu thông tin về sở thích hoặc nhu cầu của người nhận dẫn đến nguy cơ món quà không phù hợp hoặc không cần thiết. Do đó, người nhận thường đánh giá thấp món quà hơn giá trị thực tế.

Trong bài viết xuất bản năm 1993, Waldfogel đã lượng hóa chênh lệch giữa giá trị thực của quà tặng và giá trị mà người nhận sẵn sàng trả là khoảng 10 - 30% giá bán lẻ. Điều này có nghĩa là hành động tặng quà đã “phá hủy” từ 1/10 đến 1/3 giá trị của món hàng. Waldfogel gọi đó là sự mất mát vĩnh viễn của những ngày lễ.

Vào năm 2009, Waldfogel đã trình bày những kết luận của mình trong cuốn sách “Scroogenomics: Why You Shouldn't Buy Presents for the Holidays” (tạm dịch: “Kinh tế học hà tiện: Vì sao bạn không nên mua quà trong các dịp lễ”), trong đó, ông gọi mùa lễ hội cuối năm, đi kèm với việc mua sắm quà tặng trị giá hàng chục tỉ USD, là “một cuộc hoan lạc phá hoại giá trị”. Chi tiêu của người tiêu dùng, vốn thường đóng vai trò hỗ trợ nền kinh tế, lại biến thành tổn thất kinh tế trong dịp lễ. Theo lý thuyết này, món quà hiệu quả nhất về mặt kinh tế sẽ là tiền hoặc thẻ quà tặng, bởi chúng cho phép người nhận thỏa mãn nhu cầu tốt hơn, hoặc món quà chính xác là thứ mà người nhận đã yêu cầu.

Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà kinh tế đều đồng tình với quan điểm này. Năm 2013, Diễn đàn IGM (một cộng đồng toàn cầu gồm các nhà nghiên cứu học thuật, nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo ngành tài chính có trụ sở tại University of Chicago Booth School of Business) đã tiến hành một cuộc khảo sát các nhà kinh tế danh tiếng về việc tặng quà có thực sự “không hiệu quả” hay việc tặng tiền có phải là giải pháp tốt hơn. Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ 17% đồng tình với Waldfogel, trong khi 54% phản đối (22% không đưa ra ý kiến)10.

Nhìn quà tặng dưới góc độ “hiệu quả kinh tế” là chưa tính đến chức năng xã hội của chúng, điều vốn quan trọng không kém đối với sự lành mạnh của nền kinh tế11. Theo Laura Birg, nhà xã hội học từ University of Bremen (Đức), quà tặng không đơn thuần như tiêu dùng thông thường, mà là phương thức thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội. Quà tặng là một tín hiệu cho thấy người tặng đã bỏ ra bao nhiêu công sức để lựa chọn và tìm kiếm nó, qua đó, thể hiện mức độ quan trọng của người nhận đối với họ12.

Giá trị của một món quà không bị giới hạn và thậm chí không nhất thiết được xác định bởi giá trị vật chất của nó. Cách tiếp cận kinh tế học chính thống, xem giá trị hay mức độ hữu ích của một món đồ là khả năng đáp ứng nhu cầu cá nhân, không xét đến lợi ích mà người nhận có được từ chính hành động nhận quà, cũng như niềm vui mà người tặng cảm nhận từ quá trình chọn và tặng quà. Vì vậy, ngay cả một món quà rẻ tiền hoặc hoàn toàn không thực tế cũng có thể mang ý nghĩa to lớn đối với người nhận. Điều này được minh họa trong truyện ngắn “Món quà Giáng sinh” (The Gift of the Magi)13 của O. Henry: Một người chồng trẻ bán chiếc đồng hồ vàng - tài sản quý giá nhất của anh - để mua tặng vợ một chiếc lược làm từ mai rùa mà cô ao ước. Trong khi đó, người vợ cắt mái tóc dài - thứ mà cô trân trọng nhất - để mua dây đồng hồ cho chồng. Kết quả là, lợi ích được hiểu về mặt kinh tế của cả hai món quà giảm về gần như bằng không, nhưng giá trị cảm xúc và tình yêu mà họ dành cho nhau, ngược lại, lại tăng lên vô giá.

Anthony Gill, Giáo sư Kinh tế chính trị Đại học Washington ở Seattle cho rằng, quà tặng không chỉ là ước tính thống kê về chi phí và lợi ích. Ngay cả khi chúng gây ra tổn thất nặng nề do sở thích khác nhau, quà tặng cho thấy, một người sẵn sàng từ bỏ nguồn lực ở hiện tại để duy trì mối quan hệ trong tương lai14.

Theo nhà nhân chủng học nổi tiếng Marcel Mauss, việc tặng quà đã xuất hiện từ rất lâu trước khi tiền tệ và thị trường ra đời như một hình thức trao đổi xã hội. Thể chế thị trường chỉ là một hình thức trao đổi như vậy. Việc tặng những món quà xa hoa thông qua các nghi lễ cầu kỳ cho thấy một bộ tộc sẵn sàng trả giá cao để tương tác với bộ tộc khác, việc có đi, có lại trong việc tuân thủ các nghi lễ trao đổi lễ vật là điều quan trọng để khẳng định niềm tin của cả hai bên. Và từ thời xa xưa, tặng quà đã là một tập tục văn hóa gần như phổ biến trong mọi xã hội, thể hiện sự tin tưởng và mong muốn gia nhập hoặc duy trì mạng lưới kết nối xã hội. Niềm tin cùng sự hợp tác là rất quan trọng để vận hành hiệu quả nền kinh tế cũng như phát triển phúc lợi xã hội.

1 Пётр Ильи́ч Чайко́вский (1840 - 1893): Tchaikovsky là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất thế giới, đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn trong âm nhạc và là một trong những nhà thơ trữ tình, biên kịch tâm lý xuất sắc. Ông đã đi sâu vào việc phân tích tâm lý các hiện tượng phức tạp và đầy mâu thuẫn trong cuộc sống.

2 Александр III Александрович (1845 - 1894), Sa hoàng áp chót Đế chế Nga, Đại vương Công xứ Phần Lan và Vua Ba Lan.

3 Константин Скальковский (1843-1906): Kĩ sư mỏ, nhà kinh tế, nhà báo và vũ công ballet, Đế chế Nga.

4 Николай Безобразов (1848 -1912): Quan chức, thành viên Hội đồng Bộ trưởng Bộ Công thương, Uỷ viên cơ mật, nhà phê bình múa ballet, Đế chế Nga.

5 CFI, “Santa Claus Rally”; https://corporatefinanceinstitute.com/resources/career-map/sell-side/capital-markets/santa-claus-rally/

6 Yale Hirsch là người sáng lập Hirsch Organization và là tác giả của Stock Trader’s Almanac (Niên giám Nhà giao dịch Chứng khoán). Ấn bản đầu tiên của niên giám này được xuất bản vào năm 1968, cho phép ông tổng hợp niềm đam mê cả đời với lịch sử thị trường chứng khoán, các chu kỳ và mô hình thành một công cụ hữu ích và thực tiễn dành cho các nhà đầu tư bình thường.

7 Hiệu ứng Pygmalion (hay còn gọi là Hiệu ứng Rosenthal) là một hiện tượng tâm lý, trong đó, kỳ vọng của một người (ví dụ, giáo viên, cha mẹ hoặc lãnh đạo) về năng lực hoặc hành vi của một người khác (ví dụ, học sinh, con cái hoặc nhân viên cấp dưới) có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoặc hành vi thực tế của người đó.

8 Martha C. White, Why the Odds of a “Santa Claus Rally” in the Stock Market Are High This Year, 2024; https://money.com/2024-santa-claus-rally-stocks/

9 Art Carden, “Ruining Christmas: An Economist’s Guide”, 2011; https://www.forbes.com/sites/artcarden/2011/12/18/ruining-christmas-an-economists-guide/

10 https://www.kentclarkcenter.org/surveys/bah-humbug/

11 George Loewenstein, R. Sunstein, “The Behavioral Economics of Christmas”, 2012; https://newrepublic.com/article/110860/commerce-claus

12 Andrew Silver, “Economists want you to have the most boring Christmas”, 2020; https://www.wired.com/story/economists-christmas-gift-giving/

13 Bá Đỗ Thế, “Truyện ngắn “The gift of the Magi” (Món quà Giáng sinh”, 2023; https://jaxtina.com/truyen-ngan-song-ngu-the-gift-of-the-magi/

14 Anthony Gill, “Gift Giving is Better for Society than Economists Say”, 2019; https://thedailyeconomy.org/article/gift-giving-is-better-for-society-than-economists-think/

Tài liệu tham khảo:

1. “125 лет балету «Щелкунчик»”, 2017; https://tvspb.ru/programs/stories/466399

2. «Щелкунчик»: путешествие во времени, 2020; https://www.culture.ru/s/shchelkunchik/.

3. SNOB (2023). “Танец Щелкунчика. Как балет Чайковского завоевал мир”; https://snob.ru/history/tanec-shelkunchika-kak-balet-chajkovskogo-zavoeval-mir/

4. Shakira Segundo, “Nutraker by the Numbers: Results from Dance/USA’s Annual Survey”, 2018; https://www.danceusa.org/ejournal/2018/12/03/nutcracker-again

5. The New York Times, “Why the Nutcracker’s is America’s Bread-and- Butter Ballet”, 1981; https://www.nytimes.com/1981/11/29/arts/why-the-nutcracker-is-america-s-bread-and-butter-ballet.html

6. Balletmet, “The Nutcracker History”,1998; http://www.balletmet.org/Notes/NutHist.html

7. Sara Wagenmaker, “Who is George Balanchine?”, 2023; https://www.balletmet.org/who-is-george-balanchine/

8. Jenifer Fisher, Nutcraker Nation, Yale University Press, 2008.

9. “History of the Nutcraker”, 2020; https://nutcrackerballetgifts.com/blogs/blog/history-of-the-nutcracker

10. Ballet Lovers, “The Nutcracker – A Money Making Machine”, 2018; https://balletloversblog.com/2023/12/19/did-you-know-that-the-nutcracker-ballet-is-a-cash-cow-for-us-ballet-companies/

11. Jessica Skinker, “The History of the Nutcracker in the US”, 2024; https://balletloversblog.com/2023/12/19/did-you-know-that-the-nutcracker-ballet-is-a-cash-cow-for-us-ballet-companies/

12. Thomas Heath, “Value Added: The economics behind “The Nutcracker’ are no fairy tale”, 2011; https://www.washingtonpost.com/business/economy/value-added-the-economics-behind-the-nutcracker-are-no-fairy-tale/2011/12/08/gIQATNX0nO_story.html

13. Cory Stieg, “Land of the Bittersweet: Covid’s Effect on Nutcraker”, 2020; https://www.dancemagazine.com/2020-nutcracker/#gsc.tab=0

14. Bryan Hayes, “Famed Santa Claus Rally Begins: Stocks to Watch”, 2023; https://www.nasdaq.com/articles/famed-santa-claus-rally-begins:-stocks-to-watch

15. Kelley Bergsman and Danling Jiang, “Cultural New Year Holiday and Stock Returns around the World”, 2016. Financial Management, Vol. 45, No 1; https://www.jstor.org/stable/24736516

16. Lim Yu Qian, Crypto Recorrded “Santa Claus Rally” 8 Times in Last 10 Years”, 2024; https://www.coingecko.com/research/publications/santa-claus-rally-crypto

17. Rick Orford, “First Five Days Indicator”- Myth or Market Magic for 2024?, 2024; https://www.nasdaq.com/articles/first-five-days-indicator-myth-or-market-magic-for-2024

18. Jim O’Neil, “A Bad Year for Market?”, 2022; https://www.project-syndicate.org/commentary/stock-markets-2022-five-day-rule-by-jim-o-neill-2022-01

19. B. Maverick, “S&P 500 Average Returns and Historical Performance”, 2024; https://www.investopedia.com/ask/answers/042415/what-average-annual-return-sp-500.asp

20. A. Hirsch & M. Mistal, “Santa Fails to Call, But Trifecta 2 Out of 3 Ain’t Bad”, 2024; https://www.stocktradersalmanac.com/Alert/20240103.aspx

21. CFI, “Santa Claus Rally”, 2024; https://corporatefinanceinstitute.com/resources/career-map/sell-side/capital-markets/santa-claus-rally/

22. B. Patel, “The Santa Claus Rally in U.S Stock Market Returns”. JAF- Journal of Accounting and Finance, 23 (1): 166-178, 2023; http://dx.doi.org/10.33423/jaf.v23i1

23. Chong, Ryan & Hudson, Robert & Keasey, Kevin & Littler, Kevin, "Pre-holiday effects: International evidence on the decline and reversal of a stock market anomaly", Journal of International Money and Finance, Elsevier, vol. 24(8), pages 1226-1236, 2005.

24. Xiaoli Cao, I.M. Premachandra, S. Bhabra, Y. Tang, “Firm Size and the Pre-Holiday Effect in New Zealand”. Intenational Research Journal of Finance and Economics, 32: 1450-2887, 2009.

25. Joel Waldfogel, “The Deadweight Loss of Christmas”. The American Economic Review, Vol. 83, No. 5, 1993.

26. Francesca Gino, J. Flynn, “Give them what they want: The benefits of explicitness in gift exchange”. Journal of Experimental Social Psychology, Vol. 47, Issue 5, 2011.

27. Marcel Mauss, The Gift - The form and reason for Exchange in archaic societies. Taylor & Francis e-Library, London, 2002.

TS. Nguyễn Đình Trung
Trường Đại học Hòa Bình

Tin bài khác

Bức thư gửi về quá khứ

Bức thư gửi về quá khứ

Trong không khí tươi vui của những ngày mừng Xuân đại thắng, "Bức thư gửi về quá khứ" không chỉ là lời tri ân sâu sắc đến thế hệ cha ông đã hi sinh vì độc lập dân tộc, mà còn là nhịp cầu kết nối giữa quá khứ huy hoàng và tương lai rạng rỡ, giữa những năm tháng lịch sử gian lao và một non sông hôm nay hùng cường, thịnh vượng, vững vàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Kinh tế Việt Nam quý I/2025: Tăng trưởng ấn tượng, khẳng định đà phục hồi vững chắc

Kinh tế Việt Nam quý I/2025: Tăng trưởng ấn tượng, khẳng định đà phục hồi vững chắc

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý I/2025 khởi sắc mạnh mẽ, đạt 6,93% - mức cao nhất so với cùng kỳ trong 6 năm qua. Động lực tăng trưởng đến từ sự bứt phá của khu vực công nghiệp - xây dựng (tăng 7,42%), dịch vụ (tăng 7,70%) và nông - lâm - thủy sản (tăng 3,74%). Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, kết quả này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi vững chắc nhờ vào cải thiện tiêu dùng nội địa, xuất khẩu tăng trưởng 2 con số và dòng vốn đầu tư nước ngoài khởi sắc. Đây là nền tảng quan trọng để kỳ vọng một năm 2025 bứt phá mạnh mẽ hơn nữa.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng