Hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu - Kinh nghiệm từ châu Á và gợi ý cho Việt Nam

Quốc tế
Xếp hạng tín nhiệm không phải là một thuật ngữ xa lạ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đặc biệt là đối với hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn.
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á liên quan đến hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế nhằm đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa khi các chủ thể này có nhu cầu huy động vốn thông qua thị trường trái phiếu. Đây có thể là một giải pháp giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa xây dựng lòng tin vào các nhà đầu tư, qua đó tiếp cận hiệu quả với thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết gợi ý một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp phát hành trái phiếu tại Việt Nam; qua đó, cung cấp các giải pháp cần thiết để doanh nghiệp có quy mô nhỏ tại Việt Nam có thể khơi thông dòng vốn từ thị trường trái phiếu.

Từ khóa: Hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa, châu Á, trái phiếu doanh nghiệp, nhà đầu tư.

ALTERNATIVE CREDIT RATING OF SMALL AND MEDIUM-SIZED ENTERPRISES - EXPERIENCE
FROM ASIA AND SUGGESTION FOR VIETNAM

Abstract: The article focuses on analyzing the legal experience of several Asian countries and territories related to alternative credit rating systems that promote the debt repayment ability of small and medium-sized enterprises when these entities need to mobilize capital through the bond market. This can be a solution to help and medium-sized enterprises build trust in investors, and thereby effectively accessing the corporate bond market. On that basis, the article proposes recommendations for perfecting the law on corporate credit ratings for corporate bond issuance in Vietnam, thereby providing necessary solutions for small and medium sized enterprises in our country can mobilize capital from the bond market.

Keywords: Alternative credit rating systems, small and medium-sized enterprises, Asia, corporate bonds, investors.

1. Xếp hạng tín nhiệm

Xếp hạng tín nhiệm không phải là một thuật ngữ xa lạ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đặc biệt là đối với hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn. Đây là cơ chế đánh giá các tổ chức phát hành và công cụ nợ; theo đó, một bên thứ ba độc lập đánh giá dựa trên nhiều nguồn dữ liệu khác nhau để đưa ra ý kiến về khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính của một doanh nghiệp cụ thể1. Một doanh nghiệp muốn huy động vốn, ngoài việc kêu gọi vốn góp từ thành viên hoặc cổ đông, còn có thể tìm kiếm tài trợ doanh nghiệp từ phát hành trái phiếu. Việc đi vay nợ không phải là dễ dàng và doanh nghiệp vay cần phải chứng minh được khả năng trả nợ trong tương lai nhằm củng cố lòng tin và tạo động lực để các nhà đầu tư chấp nhận giải ngân, cung cấp tài trợ cho doanh nghiệp đó. Chính vì vậy, hoạt động xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc kiểm tra, đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp phát hành trái phiếu; đó cũng là thước đo để các nhà đầu tư tham khảo, cân nhắc khi lựa chọn trái phiếu doanh nghiệp là kênh đầu tư để giải ngân.

Từ những phân tích trên có thể thấy, sự phát triển ổn định của thị trường trái phiếu doanh nghiệp không thể thiếu vai trò của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm. Đây là cơ sở quan trọng để nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp có thể đặt lòng tin vào thị trường và quyết định giải ngân dựa trên tham khảo kết quả xếp hạng tín nhiệm được cung cấp bởi các đơn vị xếp hạng tín nhiệm.

Hoạt động xếp hạng tín nhiệm được xem là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, tuy nhiên cũng có thể tạo ra những khó khăn nhất định đối với một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi muốn tiếp cận với nguồn vốn trái phiếu. Tổ chức phát hành có năng lực tài chính hạn chế hoặc mới khởi nghiệp sẽ khó có khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn, điều kiện để tham gia xếp hạng tín nhiệm, do vậy, cơ hội tiếp cận thị trường trái phiếu doanh nghiệp là rất mong manh. Cùng với đó là bài toán liên quan đến chi phí đối với hoạt động xếp hạng tín nhiệm, hiện nay đa phần được thanh toán bởi tổ chức phát hành cũng là một áp lực không nhỏ đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa khi muốn tiếp cận với thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Vậy giải pháp nào cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khi muốn tiếp cận nguồn tài trợ trái phiếu doanh nghiệp và gia tăng lòng tin của các nhà đầu tư? Một số quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á đã xây dựng khung pháp lý dành cho hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế (alternative credit rating systems - ACRS). Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), ở khu vực châu Á hiện nay chỉ có ba quốc gia và vùng lãnh thổ đang áp dụng ACRS, đó là: Hàn Quốc, Malaysia và Hồng Kông (Trung Quốc)2. Đây là giải pháp mà ở đó, một hệ thống xếp hạng tín nhiệm được thành lập nhằm thực thi các chức năng của một tổ chức xếp hạng tín nhiệm3. Việc phân tích các quy định về ACRS sẽ là gợi ý quan trọng thúc đẩy hoạt động xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp, qua đó, nâng cao chất lượng thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam.

2. Quy định về hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á

2.1. Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, các nhà hoạch định chính sách đã thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng Hàn Quốc (KODIT), là tổ chức tài chính được thành lập vào năm 1976 với mục tiêu hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa. KODIT được xem như cánh tay nối dài của Chính phủ Hàn Quốc và Ủy ban Dịch vụ tài chính trong nỗ lực thúc đẩy phát triển hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ bằng việc cung cấp dịch vụ bảo lãnh tín dụng và bảo hiểm tín dụng.

Đặc biệt, vào năm 2021, KODIT đã giới thiệu một chương trình với tên gọi là cơ chế bảo lãnh nghĩa vụ trái phiếu có thế chấp (P-CBO)4 với mục đích tạo khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính với chi phí hợp lý dành cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hàn Quốc. Với giải pháp này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hàn Quốc có thể nhận tài trợ trực tiếp từ thị trường tài chính thông qua phương thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Với P-CBO, KODIT đã dùng hệ thống xếp hạng tín nhiệm nội bộ để đánh giá rủi ro tín dụng của các tổ chức phi tài chính nhằm hỗ trợ tài chính với chi phí thấp hơn, qua đó, cho phép các nhà đầu tư, tổ chức có thể tiếp cận được với trái phiếu doanh nghiệp có chất lượng cao. Các chương trình mà KODIT cung cấp liên quan đến việc cấp bảo đảm tín dụng cho các doanh nghiệp tầm trung cũng như doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hàn Quốc gồm: (i) Bảo lãnh P-CBO cho ngành phụ tùng ô tô; (ii) Bảo lãnh P-CBO hỗ trợ ngành công nghiệp then chốt; (iii) Bảo lãnh P-CBO để phản ứng với dịch Covid-19; và (iv) Bảo lãnh P-CBO để ổn định thị trường.

Với chương trình do KODIT cung cấp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hàn Quốc không phải thuê các công ty xếp hạng tín nhiệm có chi phí cao mà hoàn toàn có thể sử dụng dịch vụ tài chính với chi phí thấp từ KODIT để bảo đảm cho khả năng tiếp cận thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Với biện pháp này, cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hàn Quốc có thêm một sự lựa chọn khả thi hơn để đáp ứng các điều kiện pháp lý khi chuẩn bị phát hành trái phiếu huy động vốn, thông qua đó có thể tiếp cận được với nhà đầu tư có nhu cầu.

2.2. Malaysia

Malaysia là một trong ba quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế tại châu Á. Với mục tiêu tương tự như Hàn Quốc, hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế tại Malaysia được thành lập nhằm mục đích hỗ trợ cho hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại nước này trong vấn đề tiếp cận nguồn vốn thông qua hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế này được thực hiện bởi Tập đoàn SMEs Malaysia (SME Corp. Malaysia) - tổ chức được thành lập với nhiệm vụ là cơ quan điều phối trung tâm được quản lý bởi Bộ Doanh nhân và Phát triển Hợp tác xã (MECD)5. Đây là nơi tích hợp và cung cấp các thông tin tham chiếu về doanh nghiệp nhỏ và vừa cho nhà đầu tư tại Malaysia. SME Corp. Malaysia đã cung cấp nhiều chương trình về tài chính nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa nước này có thể tiếp cận trực tiếp với thị trường vốn thông qua phát hành trái phiếu. Theo đó, SME Corp. Malaysia thiết lập Bảng Xếp hạng nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SCORE)6 nhằm tạo động lực để cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa của nước này tăng cường khả năng cạnh tranh và đẩy mạnh hiệu quả hoạt động. Đây cũng là công cụ quan trọng để nhà đầu tư trái phiếu tại Malaysia tham khảo nhằm đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp với khẩu vị của mình.

SCORE được chính thức áp dụng thí điểm vào năm 2007, để đánh giá hiệu quả những khoản tài trợ mà các công ty trong lĩnh vực sản xuất nhận được7. Với SCORE, SME Corp. Malaysia đã tạo ra một công cụ đo lường khả năng cạnh tranh cũng như năng lực trả nợ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được xếp hạng theo SCORE sẽ được đánh giá bằng sao, dựa trên các tiêu chí gồm: (i) Sức mạnh tài chính; (ii) Hiệu quả kinh doanh; (iii) Nguồn nhân lực; (iv) Tiếp thu và áp dụng công nghệ; (v) Chứng nhận; (vi) Sự hiện diện trên thị trường.

Với sự hiện diện của SME Corp. Malaysia, Malaysia đã tạo nên một trong những hệ thống xếp hạng tín nhiệm đầu tiên tại khu vực Đông Nam Á dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mà không cần thông qua các tổ chức xếp hạng tín nhiệm truyền thống, qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có quy mô nhỏ tại đất nước này có thể nhận được cơ hội tài trợ từ các nhà đầu tư.

2.3. Hồng Kông (Trung Quốc)

Tương tự như Hàn Quốc và Malaysia, các nhà chức trách tại Hồng Kông (Trung Quốc) cũng đã tạo ra một hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế tại vùng lãnh thổ này. Với tên gọi là Hệ thống chấm điểm tín dụng thay thế (The alternative credit scoring system in Hong Kong), đây là cơ sở dữ liệu chấm điểm và xếp hạng dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm mục tiêu tiếp cận nguồn vốn trên thị trường thông qua các phương thức huy động được pháp luật Hồng Kông cho phép, trong đó có trái phiếu doanh nghiệp8.

Hệ thống chấm điểm tín dụng thay thế tại Hồng Kông sử dụng công nghệ mới để thu thập dữ liệu, thông tin của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sau đó đánh giá để cung cấp những thông tin có giá trị cũng như mức độ tin cậy tín dụng. Các thông tin này liên quan đến khoản thanh toán thương mại, hồ sơ giao dịch bán hàng, báo cáo tín dụng và đặc điểm hành vi của các nhà điều hành kinh doanh.

Với phương thức xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp phát hành trái phiếu truyền thống, khi mà các tổ chức xếp hạng tín nhiệm sẽ dựa vào thông tin về tài sản có giá trị và báo cáo tài chính của doanh nghiệp phát hành để chấm điểm tín nhiệm. Vì vậy, các doanh nghiệp muốn huy động vốn từ thị trường trái phiếu phải thể hiện một lịch sử tín dụng tốt hoặc sở hữu tài sản thế chấp có giá trị. Điều này có thể xem là bất khả thi đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa. Chính vì vậy, hệ thống chấm điểm tín dụng thay thế tại Hồng Kông đã sử dụng các thông tin có tính khả thi cao nhằm đánh giá khả năng trả nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang có nhu cầu huy động vốn. Những thông tin này dựa trên tài sản truyền thống để đánh giá mức độ tin cậy của một doanh nghiệp nhỏ và vừa khi dự định đi vay trên thị trường trái phiếu.

Những thông tin được sử dụng để chấm điểm tín dụng thay thế được gọi là dữ liệu thay thế. Dữ liệu thay thế này được cung cấp bởi bên thứ ba như công ty viễn thông, các doanh nghiệp cung cấp tiện ích xã hội, các nền tảng phương tiện truyền thông xã hội. Dữ liệu thay thế này cũng tích hợp cả những thông tin được đánh giá dựa trên những phương pháp phi truyền thống như thông tin được thiết lập bởi phương pháp tâm lý học hay thông tin được tìm kiếm dữ liệu từ hoạt động kỹ thuật số trên các nền tảng mạng xã hội. Tất cả những dữ liệu được khai thác phi truyền thống như trên đều có thể được sử dụng để đánh giá rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa phát hành trái phiếu tại Hồng Kông.

Về nội dung, dữ liệu thay thế này được chia làm hai loại chính: Dữ liệu giao dịch và dữ liệu phi giao dịch. Dữ liệu giao dịch bao gồm các dữ liệu chi tiết khác, gồm: Dữ liệu về dòng tiền, dữ liệu phi dòng tiền. Trong khi đó, dữ liệu phi giao dịch lại tích hợp báo cáo bên ngoài, đặc điểm hành vi và những thông tin tham khảo khác. Các dữ liệu thứ cấp này tiếp tục được cấu thành bởi nhiều dữ liệu chi tiết khác, tạo cho việc đánh giá chấm điểm tín nhiệm các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hồng Kông có độ tin cậy rất cao.

3. Kinh nghiệm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á về việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế

Từ kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á, có thể thấy, việc phát triển hệ thống tín nhiệm thay thế là một trong những sáng kiến để giải bài toán tiếp cận thị trường trái phiếu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây vốn là những chủ thể có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay trên thị trường nợ rất hạn chế, do chủ nợ không có đủ thông tin để đánh giá khả năng trả nợ của những chủ thể này. Với sự ra đời của hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế tại Hàn Quốc, Malaysia và Hồng Kông, những quốc gia và vùng lãnh thổ này đã cung cấp nhiều kinh nghiệm cũng như bài học quý báu để các nước trên thế giới và khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam tiếp thu, học hỏi.

Ở Việt Nam, hiện nay, chưa phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc gọi vốn thông qua thị trường trái phiếu đối với các chủ thể này vẫn là bất khả thi do hành lang pháp lý liên quan đến vấn đề này chưa được thiết lập. Do đó, trong tương lai, để thúc đẩy sự phát triển của thị trường nợ, cũng như gia tăng khả năng kết nối của nhà đầu tư với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước, cần xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động huy động vốn bằng phát hành trái phiếu của chủ thể này. Qua đó, hoạt động xếp hạng tín nhiệm thay thế sẽ là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho hoạt động gọi vốn cộng đồng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta.

Một số kinh nghiệm rút ra từ Hàn Quốc, Malaysia và Hồng Kông về hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế như sau:

Một là, thiết lập hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc sở hữu của Nhà nước. Dễ dàng nhận thấy, hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế của một số quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á hiện nay đều thuộc sở hữu nhà nước. Điều đó phản ánh vai trò tối quan trọng của nhà nước trong việc quản lý cũng như hỗ trợ hoạt động gọi vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thị trường. Đây là cách làm mà các nước có hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế hiện nay đều áp dụng. Nhà nước cần thể hiện vai trò đi đầu trong việc hỗ trợ sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó, tạo mọi điều kiện để các chủ thể này có thể tiếp cận được với nguồn vốn đến từ các nhà đầu tư thông qua các khoản vay trái phiếu.

Hai là, vận dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ nhằm tối ưu hóa hoạt động và tiết giảm chi phí của hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Với tư cách là một công cụ được tạo ra nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc đánh giá khả năng trả nợ, qua đó là cơ sở để góp phần giúp chủ thể có thể tiếp cận được với những nhà đầu tư tiềm năng trên thị trường trái phiếu, hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế tỏ ra ưu việt hơn so sới phương thức xếp hạng tín hạng tín nhiệm truyền thống về mặt chi phí. Đây là một hạn chế không nhỏ của phương thức xếp hạng tín nhiệm truyền thống vốn đòi hỏi chi phí cao mà không phải doanh nghiệp nào, đặc biệt là doanh nghiệp mới gia nhập thị trường cũng có thể đáp ứng được9. Do đó, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật thông qua phát triển các thuật toán khiến cho hệ thống chấm điểm tín dụng doanh nghiệp phát hành khoản vay sẽ là cách làm giảm bớt gánh nặng kinh tế trong quá trình vận hành hệ thống. Qua đó, tiếp tục tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận với nguồn vốn vay từ thị trường trái phiếu.

Ba là, thu thập thông tin của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm dựa trên nguồn dữ liệu và các phương pháp thu thập thông tin phi truyền thống.

Có thể thấy, để tạo ra hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế, các quốc gia và vùng lãnh thổ đang sử dụng hệ thống này đều đã nỗ lực tìm kiếm thông tin của doanh nghiệp nhỏ và vừa để xây dựng cơ sở dữ liệu về cộng đồng doanh nghiệp nhằm phục vụ chấm điểm tín nhiệm doanh nghiệp. Các thông tin được sử dụng để xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa không giống với các doanh nghiệp khác, do đặc thù về quy mô vốn cũng như lịch sử tín dụng chưa được hoàn thiện. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Malaysia và Hồng Kông đều rất đáng học hỏi khi thu thập các thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, bao gồm thông tin về doanh nghiệp nhỏ và vừa trên các nền tảng mạng xã hội, các phương tiện truyền thông. Điều này giúp cho cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp cần được chấm điểm trở nên đầy đủ hơn, tạo cơ sở để việc chấm điểm tín nhiệm doanh nghiệp có tính tin cậy cao hơn.

4. Một số gợi ý hoàn thiện pháp lý về hệ thống xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam

Thứ nhất, cần cho phép doanh nghiệp nhỏ và vừa được quyền huy động vốn bằng phương thức phát hành trái phiếu.

Để phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế tại Việt Nam, điều đầu tiên cần thực hiện đó chính là cho phép doanh nghiệp nhỏ và vừa được quyền huy động vốn bằng phát hành trái phiếu. Pháp luật hiện hành chưa cho phép doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn trên thị trường trái phiếu, đó chính là điểm nghẽn khiến cho doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam chưa thể khơi thông được dòng vốn từ thị trường nợ. Do đó, để bổ sung kênh huy động vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần tạo điều kiện về mặt pháp lý cho các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, từ đó, mở ra khả năng áp dụng hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế với tư cách là một công cụ cần thiết nhằm gia tăng khả năng của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như là cơ sở để thu hút nhà đầu tư trái phiếu rót vốn vào chủ thể này.

Thứ hai, xây dựng và vận hành hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế dưới sự quản lý trực tiếp của cơ quan nhà nước.

Từ kinh nghiệm của các nước, có thể thấy, hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế với mục tiêu hỗ trợ cho hoạt động huy động vốn trên thị trường nợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa đều được quản lý trực tiếp bởi các cơ quan nhà nước. Vấn đề thiết lập hành lang pháp lý để kết nối giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhà đầu tư chỉ có thể được thực hiện bởi các nhà hoạch định chính sách và pháp luật. Do đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần thể hiện vai trò chủ động, đi đầu trong việc xây dựng và hỗ trợ sự phát triển của hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế. Tại Việt Nam, việc quản lý hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế có thể được đảm nhiệm bởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoặc Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Việc xem xét cơ quan nào là cơ quan chủ quản của hệ thống xếp hạng tín nhiệm cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan cũng như mục tiêu của hệ thống xếp hạng tín nhiệm nhằm hướng tới hiệu quả của hoạt động huy động vốn cũng như hoạt động đầu tư của các chủ thể liên quan.

Thứ ba, thiết lập một hệ thống dữ liệu nhằm thu thập các thông tin liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm đánh giá khả năng trả nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm tiền đề cho hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế.

Để đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc tạo cơ sở dữ liệu về các chủ thể này là vô cùng quan trọng. Do đó, càng có nhiều thông tin về doanh nghiệp nhỏ và vừa được thu thập, càng có thêm căn cứ quan trọng đánh giá và chấm điểm tín nhiệm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo kinh nghiệm của các nước châu Á, cần xây dựng một hệ thống hoặc nền tảng tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, là nơi các chủ thể mới gia nhập thị trường có thể chủ động cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý, vừa là địa chỉ để các nhà đầu tư có thể tìm kiếm, lựa chọn những doanh nghiệp phù hợp để đưa ra quyết định cấp vốn. Chính vì vậy, việc thiết lập hệ thống dữ liệu tập trung cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta nên được thực hiện sớm nhất nhằm xây dựng tiền đề cho hệ thống xếp hạng tín nhiệm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó, tạo điều kiện mở rộng quy mô cũng như chất lượng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Thứ tư, sử dụng công nghệ vận hành hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế hiệu quả.

5. Kết luận

Hệ thống xếp hạng tín nhiệm thay thế có thể được xem là một trong những sáng kiến hiệu quả để giải quyết bài toán huy động vốn rất nan giải của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam và các nước trong khu vực. Việc tham khảo kinh nghiệm từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á có thể giúp cơ quan lập pháp tại Việt Nam rút ra được một số gợi mở quan trọng nhằm hoàn thiện pháp luật về trái phiếu doanh nghiệp nói chung và hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nói riêng. Quan trọng hơn nữa, đó chính là sự tham gia của cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý về huy động vốn cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nói riêng. Có như vậy, thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam mới có thể tiếp tục đạt được nhiều thành tựu và tạo thêm nhiều đóng góp cho nền kinh tế nước nhà.


1 Lê Hồng Khang, Xếp hạng tín nhiệm góp phần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch, hiệu quả, Tạp chí Tài chính kỳ 1, tháng 12/2021. https://s.net.vn/rLyK, truy cập ngày 23/6/2022.
2 OECD, Corporate bond markets in Asia: Challenges and Opportunities for Growth Companies, https://s.net.vn/AeBE, truy cập ngày

14/4/2024.

3 OECD, Corporate bond markets in Asia: Challenges and Opportunities for Growth Companies, ltđd, http://s.net.vn/AeBE truy cập ngày 14/4/2024.
4 Korea Credit Guarantee Fund (2023), Sustainability Financing Framework, https://s.net.vn/X7kG, truy cập ngày 14/4/2024.
5 SME Corp. Malaysia, https://www.smecorp.gov.my/index.php/en/, truy cập ngày 16/4/2024.
6 SME Competitiveness Rating for Enhancement.
7 SME Competitiveness Rating for Enhancement (SCORE), https://s.net.vn/XvDP, truy cập ngày 16/4/2024.
8 Hong Kong Monetary Authority (2018), Alternative Credit Scroring of Micro-, Small and Meidum-Sized Enterprises, page 5.
9 Lê Hồng Khang, Xếp hạng tín nhiệm góp phần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch, hiệu quả, https://s.net.vn/ThMQ, Tạp chí Tài chính online, truy cập ngày 02/4/2024.

Tài liệu tham khảo:

1. Lê Hồng Khang, Xếp hạng tín nhiệm góp phần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch, hiệu quả, Tạp chí Tài chính kỳ 1, tháng 12/2021.

2. OECD, Corporate bond markets in Asia: Challenges and Opportunities for Growth Companies, https://s.net.vn/AeBE

3. Korea Credit Guarantee Fund (2023), Sustainability Financing Framework, https://s.net.vn/X7kG

4. SME Corp. Malaysia, https://www.smecorp.gov.my/index.php/en/

5. SME Competitiveness Rating for Enhancement (SCORE), https://s.net.vn/XvDP

6. Hong Kong Monetary Authority (2018), Alternative Credit Scroring of Micro-, Small and Meidum-Sized Enterprises.


Trần Thị Nhật Anh
Trường Đại học Luật, Đại học Huế


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Xem thêm
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng