Thanh toán không dùng tiền mặt: Thành quả và thách thức

Công nghệ & ngân hàng số
Khuôn khổ pháp lí, hạ tầng công nghệ, truyền thông giáo dục tài chính là những trụ cột quan trọng tạo nền tảng cho thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai tích cực các giải pháp để TTKDTM ngày càng phổ biến trong xã hội, đưa lại nhiều tiện ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
aa

Khuôn khổ pháp lí, hạ tầng công nghệ, truyền thông giáo dục tài chính là những trụ cột quan trọng tạo nền tảng cho thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai tích cực các giải pháp để TTKDTM ngày càng phổ biến trong xã hội, đưa lại nhiều tiện ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội và thành quả là những thách thức về vấn đề an ninh, bảo mật, sự đồng bộ, kết nối hạ tầng kĩ thuật và hành lang pháp lí cho TTKDTM. Do đó, ngành Ngân hàng cần tiếp tục phối hợp các bộ, ngành, cơ quan liên quan đồng bộ các giải pháp để dần hiện thực hóa các mục tiêu của Chính phủ tại Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025.

Tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025 có đề ra mục tiêu tổng quát: Tạo sự chuyển biến tích cực về TTKDTM trong nền kinh tế với mức tăng trưởng cao, đưa việc sử dụng các phương tiện TTKDTM trong xã hội thành thói quen của người dân ở khu vực đô thị và từng bước phát triển ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt; ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng thanh toán, dịch vụ TTKDTM, đáp ứng nhu cầu thanh toán một cách thuận tiện, hiệu quả của tổ chức, cá nhân; đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động TTKDTM; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng và hiệu quả quản lí, giám sát của các cơ quan quản lí Nhà nước, minh bạch hóa các giao dịch thanh toán trong nền kinh tế, góp phần vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tội phạm kinh tế, phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố. Đề án cũng đề ra một số mục tiêu cụ thể như sau:

Mục tiêu tăng trưởng sử dụng phương tiện, dịch vụ TTKDTM: Tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng và giá trị giao dịch TTKDTM đạt 20 - 25%/năm; tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng giao dịch qua kênh điện thoại di động đạt 50 - 80%/năm và giá trị giao dịch đạt 80 - 100%/năm; tốc độ tăng trưởng bình quân số lượng và giá trị giao dịch qua kênh Internet đạt 35 - 40%/năm; tỉ lệ cá nhân, tổ chức sử dụng phương tiện TTKDTM qua các kênh thanh toán điện tử đạt 40%.

Mục tiêu TTKDTM đối với dịch vụ công: Từ 90 - 100% cơ sở giáo dục trên địa bàn đô thị chấp nhận thanh toán học phí bằng phương thức TTKDTM; từ 90 - 100% các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn đô thị triển khai thanh toán học phí trực tuyến trên Cổng dịch vụ công Quốc gia; 60% các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn đô thị chấp nhận thanh toán dịch vụ y tế bằng phương thức TTKDTM; 60% số người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn đô thị được chi trả thông qua các phương thức TTKDTM.


Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai tích cực các giải pháp để TTKDTM ngày càng phổ biến trong xã hội, đưa lại nhiều tiện ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế (Nguồn: Internet)


TTKDTM gặt hái nhiều “trái ngọt”

Thời gian qua, khuôn khổ pháp lí, cơ chế, chính sách cho hoạt động TTKDTM, hoạt động ngân hàng số ngành Ngân hàng liên tục được rà soát, bổ sung, hoàn thiện, tạo sự đồng bộ và điều kiện thuận lợi cho phát triển TTKDTM, ứng dụng công nghệ mới và đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán, thúc đẩy hoạt động ngân hàng số, cụ thể: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã trình Chính phủ bộ hồ sơ Nghị định mới về TTKDTM (thay thế Nghị định số 101/2012/NĐ-CP), Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng; tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các văn bản hướng dẫn Nghị định mới về TTKDTM và nghiên cứu, dự thảo Chiến lược phát triển các hệ thống thanh toán tại Việt Nam đến năm 2030.

NHNN tiếp tục tổ chức triển khai tích cực các đề án, chương trình, kế hoạch, chính sách nhằm thúc đẩy TTKDTM và hoạt động ngân hàng số, như: Kế hoạch triển khai Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025; Kế hoạch Chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06)...; đồng thời thực hiện tốt công tác giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng và giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Đối với việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đã được quy định tại Nghị định số
101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về TTKDTM (đã được sửa đổi, bổ sung), bên cạnh đó, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó:

Đối với quy trình mở tài khoản thanh toán, NHNN đã quy định chặt chẽ về hồ sơ, thủ tục mở tài khoản thanh toán, trong đó, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải áp dụng đầy đủ các biện pháp nhận biết và xác minh thông tin khách hàng mở tài khoản thanh toán, bảo đảm tuân thủ quy định về phòng, chống rửa tiền; đồng thời, đã có quy định chặt chẽ về quy trình mở và sử dụng tài khoản thanh toán: (i) Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ tài khoản thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; (ii) Quy định về các hành vi bị cấm trong mở, sử dụng tài khoản thanh toán bao gồm mở hoặc duy trì tài khoản nặc danh, mạo danh, chủ tài khoản thanh toán không được cho thuê, cho mượn tài khoản thanh toán của mình và không được sử dụng tài khoản thanh toán để thực hiện cho các giao dịch nhằm mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Đối với việc mở tài khoản bằng phương thức điện tử (eKYC), ngoài việc tuân thủ các quy định chung về mở, sử dụng tài khoản thanh toán, tại Thông tư số 16/2020/TT-NHNN ngày 04/12/2020 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN còn bổ sung các quy định chặt chẽ về quy trình mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử, cụ thể:

- Về đối tượng áp dụng: Chỉ áp dụng đối với khách hàng cá nhân là người Việt Nam, không áp dụng đối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài và các đối tượng quy định tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 11 Thông tư số 23/2014/TT-NHNN.

- Về quy trình mở tài khoản thanh toán, phải đáp ứng các yêu cầu: (i) Có giải pháp, công nghệ để thu thập, kiểm tra, đối chiếu, bảo đảm sự khớp đúng giữa thông tin nhận biết khách hàng, dữ liệu sinh trắc học của khách hàng với các thông tin, yếu tố sinh trắc học tương ứng trên giấy tờ tùy thân của khách hàng; (ii) Xây dựng quy trình quản lí, kiểm soát, đánh giá rủi ro, trong đó có biện pháp ngăn chặn các hành vi mạo danh, can thiệp, chỉnh sửa, làm sai lệch việc xác minh thông tin nhận biết khách hàng trước, trong và sau khi mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; biện pháp để kiểm tra, xác minh thông tin nhận biết khách hàng bảo đảm khách hàng thực hiện giao dịch trên tài khoản thanh toán được mở bằng phương thức điện tử là chủ tài khoản thanh toán đó.

- Về hạn mức: Áp dụng hạn mức giao dịch (ghi Nợ) qua tài khoản thanh toán được mở bằng eKYC: Không vượt quá 100 triệu đồng/tháng/khách hàng.

Ngoài ra, NHNN đã tích cực phối hợp với Bộ Công an nghiên cứu, xây dựng phương án cho phép ngành Ngân hàng kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC), cơ sở dữ liệu căn cước công dân (CSDLCCCD), thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp để phục vụ xác minh thông tin nhận biết khách hàng. Ngày 17/10/2022, NHNN đã ban hành Công văn số 7262/NHNN-TT yêu cầu các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nghiên cứu ứng dụng dữ liệu về CCCD, định danh và xác thực điện tử trong hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán.

Đồng thời, NHNN cũng đã ban hành các văn bản chỉ đạo toàn Ngành trong việc tăng cường phòng, chống, ngăn ngừa hành vi gian lận liên quan mở và sử dụng tài khoản thanh toán và văn bản yêu cầu các ngân hàng tăng cường các biện pháp quản lí rủi ro, đặc biệt công tác hậu kiểm để kịp thời phát hiện các sai lệch thông tin định danh và dấu hiệu bất thường trong quá trình khách hàng mở và sử dụng tài khoản thanh toán bằng eKYC.

Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã không ngừng đầu tư hạ tầng kĩ thuật, công nghệ hiện đại nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ hiện đại, tiện ích, gia tăng trải nghiệm cho khách hàng. Công tác truyền thông, giáo dục tài chính được ngành Ngân hàng chú trọng, ứng dụng công nghệ và đổi mới hình thức thể hiện, với nhiều chương trình có tính lan tỏa trong xã hội và nhiều cuộc thi về tài chính - ngân hàng dành cho học sinh, sinh viên..., qua đó góp phần nâng cao kiến thức, kĩ năng cho công chúng trong tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số.

Theo Vụ Thanh toán - NHNN, hoạt động TTKDTM và hoạt động ngân hàng số ngành Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Các chỉ số TTKDTM tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Trong 8 tháng đầu năm 2023 so với cùng kì năm 2022: Giao dịch TTKDTM tăng 49,71% về số lượng; giao dịch qua kênh Internet tăng 62,25% về số lượng và 5,65% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 61,43% về số lượng và 9,46% về giá trị; qua phương thức QR Code tăng 112,71% về số lượng và 11,18% về giá trị; qua POS tăng 23,24% về số lượng và 23,45% về giá trị; giao dịch qua ATM có xu hướng giảm, tỉ lệ giảm tương ứng 7,33% về số lượng và 8,30% về giá trị; giao dịch qua thẻ tăng 15,48% về số lượng và 23,41% về giá trị. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động an toàn, thông suốt. Giao dịch qua hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 62,21% về số lượng và 13,12% về giá trị. Đến cuối tháng 8/2023, toàn thị trường có 21.337 ATM, 490.096 POS và 141,27 triệu thẻ tăng tương ứng 2,29%; 28,57% và 1,60% về số lượng so với cùng kì năm 2022.

Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế, nhiều ngân hàng Việt Nam có tỉ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số. NHNN đang phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn việc triển khai chi trả qua tài khoản (tài khoản ngân hàng, ví điện tử, tài khoản Mobile-Money...) cho các đối tượng hưởng chính sách an sinh xã hội theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/11/2022 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy chuyển đổi số trong chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt; chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán tiếp tục đẩy mạnh TTKDTM. Theo Vụ Thanh toán - NHNN, đến cuối tháng 6/2023, có 27 tổ chức phát hành thẻ triển khai phát hành thẻ bằng eKYC, số lượng thẻ ngân hàng phát hành bằng eKYC đang hoạt động đạt 10,8 triệu thẻ, có khoảng 40 ngân hàng thực hiện mở tài khoản thanh toán bằng eKYC, với khoảng 27 triệu tài khoản thanh toán mở bằng eKYC đang hoạt động.

Thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ, dịch vụ hành chính đạt được kết quả khả quan; công tác thu ngân sách nhà nước, dịch vụ giáo dục, y tế, điện, nước, chi trả lương hưu, bảo hiểm y tế, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp không dùng tiền mặt được chú trọng, tăng cường và đạt kết quả tích cực. Đến cuối năm 2022, khoảng 61% số người hưởng nhận các chế độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp qua tài khoản cá nhân tại khu vực đô thị (vượt chỉ tiêu được giao tại Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025). Tỉ lệ đơn vị sử dụng Ngân sách thực hiện thanh toán qua tài khoản đạt 96,76%; tỉ lệ cán bộ hưởng lương từ ngân sách nhà nước (không bao gồm quân số của các đơn vị khối an ninh - quốc phòng) đạt 96,85%; 87,9% (29/33) các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế và thuộc các trường Đại học Y, Dược đã triển khai TTKDTM; khoảng 63,8% địa phương - sở y tế (30/47 có báo cáo) có số cơ sở khám chữa bệnh đã triển khai TTKDTM, đạt tỉ lệ từ 50% trở lên, trong đó có 12/47 (25,5%) sở y tế đạt tỉ lệ 100% các cơ sở khám chữa bệnh đã triển khai TTKDTM.

NHNN đã chỉ đạo các NHTM, các tổ chức trung gian thanh toán tích cực đầu tư ứng dụng công nghệ, nghiên cứu, có giải pháp kết nối với Cổng dịch vụ công Quốc gia (để thực hiện thanh toán trực tuyến cho các dịch vụ đã được tích hợp trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, áp dụng chính sách miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán đối với các giao dịch thanh toán trên Cổng dịch vụ công Quốc gia. NHNN cũng kịp thời có văn bản gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo về hỗ trợ triển khai thanh toán trực tuyến lệ phí đăng kí xét tuyển đại học năm 2023, theo đó: 100% các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn đô thị đã thực hiện TTKDTM; 100% cơ sở giáo dục nước ngoài đã triển khai giao dịch trực tuyến trên Cổng dịch vụ công Quốc gia.

Tăng cường an ninh, bảo mật trước sự gia tăng của tội phạm công nghệ cao

Quá trình phát triển TTKDTM, trong đó có bao gồm thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực như trên; tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Tình trạng lừa đảo trực tuyến, tội phạm công nghệ, tội phạm trên không gian mạng tấn công vào hoạt động thanh toán ngày càng gia tăng trên quy mô toàn cầu với nhiều cách thức, thủ đoạn tinh vi nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản của khách hàng. Theo đó, các đối tượng chủ động lừa đảo, lấy cắp thông tin tài khoản của khách hàng (tên đăng nhập, mã xác thực…); hoặc mua, bán, thuê, mượn tài khoản thanh toán để thực hiện giao dịch cho mục đích bất hợp pháp, rửa tiền, trốn thuế, gian lận, lừa đảo... Điều này đặt ra thách thức lớn cho các ngân hàng trong việc đầu tư cho công nghệ bảo mật đòi hỏi chi phí, nguồn lực không hề nhỏ. Chưa kể, một bộ phận người dân còn thói quen sử dụng tiền mặt, ngại tiếp cận công nghệ, chưa có đủ thông tin và kĩ năng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số, trong đó có các dịch vụ thanh toán số, dẫn đến bị lừa, bị lộ, lọt thông tin do cung cấp hoặc click vào các link giả mạo của các đối tượng lừa đảo.

Một số hình thức lừa đảo phổ biến hiện nay như: Thứ nhất, kẻ gian giả danh cơ quan công an, viện kiểm sát, cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội… để yêu cầu người bị hại cài đặt các ứng dụng (App) giả mạo trên điện thoại. Sau đó, tội phạm âm thầm kiểm soát điện thoại, thực hiện giao dịch chuyển tiền để chiếm đoạt. Thứ hai, tội phạm sẽ tuyển cộng tác viên bán hàng online, người mẫu, làm nhiệm vụ đơn hàng, kêu gọi đầu tư chứng khoán... Sau khi người bị hại chuyển tiền, các đối tượng chiếm đoạt, thông qua tiền ảo chuyển ra nước ngoài. Thứ ba, tội phạm lập website, giả mạo nhân viên các ngân hàng, công ty tài chính đăng bài quảng cáo cho vay thủ tục nhanh, gọn… nhưng yêu cầu nộp các loại phí để chiếm đoạt tài sản. Thứ tư, tội phạm dùng các thủ đoạn mới của công nghệ AI (Deepfake) để giả mạo khuôn mặt, giọng nói (Deep voice) rồi liên hệ người thân, bạn bè nhờ chuyển tiền. Ngoài ra, các đối tượng sẽ giả mạo dịch vụ lấy lại tiền đã bị lừa đảo hay lập doanh nghiệp "ma", mở tài khoản ngân hàng để nhận tiền đầu tư chứng khoán… sau đó chiếm đoạt tiền của họ.

Việc ngăn chặn, xử lí tin nhắn rác, sim rác, “tài khoản ảo” còn chưa triệt để, cũng tạo kẽ hở cho kẻ gian lợi dụng. Công an Thành phố Hà Nội đã đánh giá, tài khoản ngân hàng “ảo”, số lượng sim “rác” hiện vẫn tràn lan. Việc tung ra các tài khoản sim cho người sử dụng mà không có kiểm soát, không kiểm tra đã dẫn đến không chỉ lãng phí nguồn tài nguyên số từ sim điện thoại mà còn “góp phần” tạo thêm những công cụ cho các đối tượng tội phạm lợi dụng để gây án. Chỉ cần vài chục, vài trăm nghìn đồng, chúng dễ dàng mua một hay rất nhiều thẻ sim điện thoại, thoải mái kích hoạt để sử dụng mà không phải đăng nhập, trình báo bất cứ thông tin cá nhân nào. Sau khi sử dụng xong, các đối tượng vứt bỏ sim “rác” và tiếp tục mua số sim điện thoại mới để thực hiện hành vi phạm tội. Không chỉ “thả lỏng” sim điện thoại, hiện nay việc tạo, mở, mua bán tài khoản ngân hàng đang diễn ra khá dễ dàng. Các đối tượng lừa đảo tổ chức mua những sim điện thoại chúng đã kích hoạt sẵn, thuê người mở tài khoản ngân hàng bằng số điện thoại trên, có chức năng Internet Banking. Khi lừa đảo được tiền của nạn nhân chuyển vào tài khoản này, chúng nhanh chóng rút, hoặc chuyển sang tài khoản khác, dẫn đến việc truy vết, thu hồi nguồn tiền của cơ quan Công an gặp rất nhiều khó khăn.

Đối với dịch vụ công, việc phối hợp thu ngân sách nhà nước đối với các khoản thu từ đất và lệ phí trước bạ còn một số vấn đề phát sinh liên quan đến quá trình trao đổi dữ liệu nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước giữa các cơ quan gây ảnh hưởng đến người nộp thuế. Việc đẩy mạnh chi trả lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp qua ngân hàng mới tập trung chủ yếu ở khu vực đô thị. Hệ thống công nghệ thông tin, quy trình thanh toán nhiều cơ quan, đơn vị cung ứng dịch vụ công còn chưa thực sự sẵn sàng để ứng dụng các hình thức thanh toán điện tử và kết nối với các ngân hàng (chưa có dữ liệu tập trung, dữ liệu chưa được chuẩn hóa hoặc không đầy đủ...) dẫn đến khó khăn trong việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị với ngân hàng.

Ngoài ra còn có những khó khăn, thách thức trong việc đảm bảo an ninh, an toàn và bảo mật dữ liệu khách hàng (trước tình trạng lộ, lọt thông tin và dữ liệu khách hàng, rao bán thông tin cá nhân); sự thiếu đồng bộ của các quy định pháp lí hiện hành liên quan về giao dịch điện tử, chữ kí, chứng từ điện tử, việc định danh và xác thực khách hàng điện tử, việc chia sẻ dữ liệu và bảo mật thông tin khách hàng, quy trình nghiệp vụ với thực tiễn ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng.

Chưa kể, việc đầu tư hạ tầng phục vụ thanh toán dịch vụ công tốn kém chi phí do đó cũng cần có cơ chế tài chính phù hợp về lâu dài để tạo động lực cho các ngân hàng, trung gian thanh toán tích cực trong việc tham gia cung ứng dịch vụ thanh toán điện tử đối với dịch vụ công; bên cạnh vấn đề huy động, bố trí nguồn lực phục vụ thanh toán số, chuyển đổi số…

Triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy TTKDTM

Thời gian tới, để triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp tại Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025, về phía ngành Ngân hàng cần tiếp tục phối hợp các bộ, ngành liên quan (như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông…) triển khai các giải pháp sau:

Thứ nhất, NHNN tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lí, cơ chế, chính sách về TTKDTM, thúc đẩy hoạt động ngân hàng số, trong đó tập trung nghiên cứu, xây dựng các văn bản hướng dẫn và triển khai có hiệu quả Nghị định mới về TTKDTM và Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng sau khi Chính phủ kí ban hành.

Thứ hai, tiếp tục tăng cường phối hợp giữa NHNN và Bộ Công an: (i) Triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung tại Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng và Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNNVN triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06, nhằm thúc đẩy, tạo thuận lợi cho các NHTM, tổ chức trung gian thanh toán cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán an toàn, bảo mật, tiện ích, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Theo đó, tiếp tục triển khai, kết nối với CSDLQGvDC, cho phép các tổ chức tín dụng có thể xác minh thông tin nhận biết khách hàng, làm sạch dữ liệu và hỗ trợ khách hàng trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng; (ii) Xây dựng quy trình phối hợp nhằm hạn chế tình trạng sử dụng tài khoản ngân hàng, ví điện tử không chính chủ, ngăn chặn sớm dòng tiền và việc vi phạm pháp luật; (iii) Tăng cường an ninh, bảo mật hệ thống thông tin, phòng, chống mã độc, mua bán dữ liệu khách hàng; (iv) Cần tăng chế tài xung quanh việc mua, bán tài khoản ngân hàng để phòng tránh tội phạm lừa đảo.

Thứ ba, NHNN tổng kết, đánh giá thí điểm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm dịch vụ Mobile-Money và có những đề xuất xử lí phù hợp đối với những khó khăn, hạn chế.

Thứ tư, tiếp tục các giải pháp đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với dịch vụ công. Theo đó, tăng cường công tác phối hợp với các bộ, ngành liên quan để triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh thanh toán điện tử. NHNN tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán nghiên cứu có giải pháp về mô hình kết nối phù hợp, hiệu quả giữa các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với Cổng dịch vụ công Quốc gia, hệ thống một cửa điện tử của các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, đơn vị liên quan nhằm đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện thanh toán điện tử đối với các khoản phí, lệ phí, thanh toán hóa đơn điện, nước, học phí, viện phí... Các ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai ứng dụng thêm các hình thức, phương thức thanh toán qua ngân hàng tiên tiến, hiện đại phù hợp với đặc thù thanh toán của mỗi loại hình dịch vụ công. Mở rộng hợp tác giữa các đơn vị cung ứng dịch vụ công với các ngân hàng, tổ chức cung ứng giải pháp thanh toán; đẩy nhanh khả năng kết nối, trao đổi thông tin dữ liệu giữa đơn vị cung ứng dịch vụ công với ngân hàng.

Thứ năm, tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán qua ngân hàng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Bên cạnh việc đầu tư, triển khai các giải pháp về công nghệ và chuẩn hóa hạ tầng cung cấp dịch vụ ngân hàng theo các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế về an ninh, bảo mật, nâng cao kiến thức, kĩ năng tự bảo vệ cho khách hàng trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng, NHNN cần tiếp tục triển khai một số giải pháp sau:

(i) Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lí đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán. Theo đó, NHNN nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan mở và sử dụng tài khoản thanh toán theo hướng quy định chặt chẽ hơn quy trình nhận biết, định danh khách hàng mở và sử dụng tài khoản thanh toán.

(ii) Để góp phần hạn chế tình trạng các đối tượng tội phạm lừa đảo khách hàng, lợi dụng dịch vụ thanh toán để sử dụng cho mục đích bất hợp pháp, cần thiết lập hạn mức giao dịch tối thiểu phải áp dụng giải pháp xác thực sinh trắc học để đảm bảo định danh chính chủ người sử dụng tài khoản thanh toán. Giải pháp xác thực sinh trắc học là công nghệ cho phép nhận diện và xác minh cá nhân thông qua các đặc điểm sinh trắc học như vân tay, mống mắt, giọng nói, hình ảnh khuôn mặt... Đây được xem là giải pháp có mức độ định danh chính chủ cao nhất và có tính bảo mật cao; hạn chế tối đa nguy cơ giả mạo, lừa đảo, gian lận khi sử dụng tài khoản thanh toán. Hiện nay, NHNN đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quyết định 630/QĐ-NHNN ngày 31/3/2017 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch áp dụng các giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng để cho phép các TCTD áp dụng xác thực sinh trắc học đối với giao dịch chuyển tiền vượt hạn mức nhất định. NHNN đang nghiên cứu để đưa ra hạn mức áp dụng phù hợp, đảm bảo cân bằng giữa trải nghiệm khách hàng và phòng, chống gian lận.

(iii) Chủ động theo dõi để cảnh báo tới các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong thanh toán, yêu cầu các tổ chức: Tăng cường thực hiện các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn phòng, chống hành vi lừa đảo, gian lận liên quan đến hoạt động thanh toán, trung gian thanh toán; kịp thời thông tin, tuyên truyền cho khách hàng về các biện pháp bảo mật thông tin tài khoản (đặc biệt là các giao dịch thanh toán trực tuyến); thường xuyên cập nhật, cảnh báo khách hàng các thủ đoạn lừa đảo, gian lận trong hoạt động thanh toán và các hành vi bị cấm.

(iv) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, cảnh báo, chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để phát hiện, xử lí nghiêm các vi phạm quy định pháp luật; thường xuyên có cảnh báo, chỉ đạo, chấn chỉnh kịp thời các tổ chức tín dụng nghiêm túc chấp hành các quy định pháp luật, đảm bảo an toàn hoạt động thanh toán, an toàn tài sản cho khách hàng.

(v) Tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan trong công tác phòng, chống tội phạm, phát hiện và ngăn chặn các hành vi gian lận, lừa đảo, bất hợp pháp.

Về phía Bộ Thông tin và Truyền thông cần đẩy mạnh xử lí tình trạng sim rác, tiến tới loại bỏ sim rác, tin nhắn rác, từ đó phối hợp Bộ Công an trong việc ngăn chặn các hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản của khách hàng.

Về phía khách hàng: Cần tuân thủ theo các hướng dẫn của tổ chức cung ứng dịch vụ; đặc biệt, cần nâng cao cảnh giác với những thủ đoạn của tội phạm trên mạng, chủ động cập nhật các thông tin cảnh báo về các phương thức thủ đoạn tội phạm trên các phương tiện truyền thông; bảo mật thông tin cá nhân, thông tin tài khoản… để tránh bị đánh cắp, lợi dụng (không trả lời tin nhắn hay email nặc danh nhằm lấy cắp thông tin của khách hàng); tuyệt đối không thuê, cho thuê, trao đổi, mua bán, tiết lộ thông tin cá nhân/thông tin tài khoản thanh toán dưới mọi hình thức.


Mai Trà (NHNN)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Chuyển đổi số ngân hàng: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu

Thời gian qua, bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, ngành Ngân hàng tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng và năng lực ứng phó sự cố hiệu quả; chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung toàn Ngành, phục vụ nâng cao chất lượng ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Ngân hàng mở và vấn đề quản trị dữ liệu cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Ngân hàng mở và vấn đề quản trị dữ liệu cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực cốt lõi trong nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Sự phát triển của ngân hàng mở phản ánh sự chuyển dịch quan trọng từ mô hình ngân hàng truyền thống sang hệ sinh thái tài chính dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, quá trình này đồng thời đặt ra những thách thức đáng kể đối với quản trị dữ liệu cá nhân, đặc biệt là trong việc cân bằng giữa mục tiêu thúc đẩy cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền riêng tư. Bài viết phân tích mối quan hệ giữa ngân hàng mở và quản trị dữ liệu cá nhân, so sánh ba mô hình quản trị dữ liệu tiêu biểu trên thế giới và đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng tiếp cận linh hoạt, kết hợp giữa mở dữ liệu và kiểm soát hiệu quả.
Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO

Nâng cao mức độ an toàn đối với các dịch vụ ngân hàng trên kênh số nhờ “lá chắn số” SIMO

Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) là công cụ hỗ trợ hiệu quả trong công tác quản lý rủi ro, phòng, chống gian lận, đồng thời góp phần nâng cao mức độ an toàn và niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với các dịch vụ thanh toán trên kênh số nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung.
Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ

Stablecoin neo tiền pháp định - hình thức ngân hàng ngầm kỹ thuật số: Rủi ro hệ thống và thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích bản chất kinh tế, cơ chế rủi ro và tác động của stablecoin tới truyền dẫn chính sách tiền tệ, đồng thời thảo luận hàm ý chính sách đối với Việt Nam trong việc xây dựng khuôn khổ quản lý phù hợp, gắn với phát triển tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) và thúc đẩy đổi mới an toàn trong hệ thống ngân hàng.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ sinh thái thanh toán số: Nền tảng cho phát triển thanh toán hiện đại và bền vững

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, dữ liệu đã trở thành một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán, dữ liệu không chỉ là yếu tố hỗ trợ vận hành hệ thống mà còn là nền tảng để phát triển các dịch vụ tài chính số hiện đại, tiện ích và an toàn.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và những tác động đối với lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và những tác động đối với lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Luật số 91/2025/QH15) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư và quản trị dữ liệu tại Việt Nam. Với đặc thù xử lý khối lượng lớn dữ liệu khách hàng, lĩnh vực ngân hàng chịu tác động trực tiếp và sâu sắc từ các quy định mới. Bài viết phân tích những nội dung cốt lõi của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, đặc biệt về nguyên tắc xử lý dữ liệu, quyền của chủ thể dữ liệu và nghĩa vụ của tổ chức xử lý dữ liệu; đồng thời đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm giúp ngành Ngân hàng thích ứng hiệu quả với khung pháp lý mới, hướng tới phát triển an toàn và bền vững.
Khai thác dữ liệu đảm bảo tính riêng tư trong lĩnh vực ngân hàng: Phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân

Khai thác dữ liệu đảm bảo tính riêng tư trong lĩnh vực ngân hàng: Phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân

Trong kỷ nguyên của dữ liệu hiện nay, khai thác dữ liệu đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra tri thức và thông tin có giá trị tiềm ẩn trong các tập dữ liệu lớn hỗ trợ nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác dữ liệu của một số ngành đặc thù như ngân hàng, những thông tin bí mật và nhạy cảm của khách hàng (như thông tin cá nhân, thu nhập, quan hệ tín dụng, dư nợ…) nếu không được bảo vệ an toàn sẽ trở thành lỗ hổng để tội phạm mạng lợi dụng thực hiện các hành vi độc hại. Bài viết này giới thiệu các nhóm giải pháp kỹ thuật điển hình về khai thác dữ liệu có đảm bảo tính riêng tư (PPDD) và phân tích khả năng áp dụng cho những bài toán khai thác dữ liệu ngân hàng trong bối cảnh yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân nghiêm ngặt hiện nay.
Xu hướng nghiên cứu toàn cầu về sự giao thoa giữa AI, tài chính xanh và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng

Xu hướng nghiên cứu toàn cầu về sự giao thoa giữa AI, tài chính xanh và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng

Bài viết phân tích xu hướng nghiên cứu toàn cầu tại giao điểm giữa tài chính xanh, trí tuệ nhân tạo (AI) và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng, qua đó làm rõ vai trò của AI như một động lực thúc đẩy phát triển bền vững và tăng cường gắn kết khách hàng, đồng thời đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách liên quan.
Xem thêm
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành