Thanh toán không dùng tiền mặt: Thành quả và thách thức

Công nghệ & ngân hàng số
Khuôn khổ pháp lí, hạ tầng công nghệ, truyền thông giáo dục tài chính là những trụ cột quan trọng tạo nền tảng cho thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai tích cực các giải pháp để TTKDTM ngày càng phổ biến trong xã hội, đưa lại nhiều tiện ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
aa

Khuôn khổ pháp lí, hạ tầng công nghệ, truyền thông giáo dục tài chính là những trụ cột quan trọng tạo nền tảng cho thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai tích cực các giải pháp để TTKDTM ngày càng phổ biến trong xã hội, đưa lại nhiều tiện ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội và thành quả là những thách thức về vấn đề an ninh, bảo mật, sự đồng bộ, kết nối hạ tầng kĩ thuật và hành lang pháp lí cho TTKDTM. Do đó, ngành Ngân hàng cần tiếp tục phối hợp các bộ, ngành, cơ quan liên quan đồng bộ các giải pháp để dần hiện thực hóa các mục tiêu của Chính phủ tại Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025.

Tại Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025 có đề ra mục tiêu tổng quát: Tạo sự chuyển biến tích cực về TTKDTM trong nền kinh tế với mức tăng trưởng cao, đưa việc sử dụng các phương tiện TTKDTM trong xã hội thành thói quen của người dân ở khu vực đô thị và từng bước phát triển ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt; ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng thanh toán, dịch vụ TTKDTM, đáp ứng nhu cầu thanh toán một cách thuận tiện, hiệu quả của tổ chức, cá nhân; đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động TTKDTM; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng và hiệu quả quản lí, giám sát của các cơ quan quản lí Nhà nước, minh bạch hóa các giao dịch thanh toán trong nền kinh tế, góp phần vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tội phạm kinh tế, phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố. Đề án cũng đề ra một số mục tiêu cụ thể như sau:

Mục tiêu tăng trưởng sử dụng phương tiện, dịch vụ TTKDTM: Tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng và giá trị giao dịch TTKDTM đạt 20 - 25%/năm; tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng giao dịch qua kênh điện thoại di động đạt 50 - 80%/năm và giá trị giao dịch đạt 80 - 100%/năm; tốc độ tăng trưởng bình quân số lượng và giá trị giao dịch qua kênh Internet đạt 35 - 40%/năm; tỉ lệ cá nhân, tổ chức sử dụng phương tiện TTKDTM qua các kênh thanh toán điện tử đạt 40%.

Mục tiêu TTKDTM đối với dịch vụ công: Từ 90 - 100% cơ sở giáo dục trên địa bàn đô thị chấp nhận thanh toán học phí bằng phương thức TTKDTM; từ 90 - 100% các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn đô thị triển khai thanh toán học phí trực tuyến trên Cổng dịch vụ công Quốc gia; 60% các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn đô thị chấp nhận thanh toán dịch vụ y tế bằng phương thức TTKDTM; 60% số người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn đô thị được chi trả thông qua các phương thức TTKDTM.


Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai tích cực các giải pháp để TTKDTM ngày càng phổ biến trong xã hội, đưa lại nhiều tiện ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế (Nguồn: Internet)


TTKDTM gặt hái nhiều “trái ngọt”

Thời gian qua, khuôn khổ pháp lí, cơ chế, chính sách cho hoạt động TTKDTM, hoạt động ngân hàng số ngành Ngân hàng liên tục được rà soát, bổ sung, hoàn thiện, tạo sự đồng bộ và điều kiện thuận lợi cho phát triển TTKDTM, ứng dụng công nghệ mới và đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán, thúc đẩy hoạt động ngân hàng số, cụ thể: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã trình Chính phủ bộ hồ sơ Nghị định mới về TTKDTM (thay thế Nghị định số 101/2012/NĐ-CP), Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng; tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các văn bản hướng dẫn Nghị định mới về TTKDTM và nghiên cứu, dự thảo Chiến lược phát triển các hệ thống thanh toán tại Việt Nam đến năm 2030.

NHNN tiếp tục tổ chức triển khai tích cực các đề án, chương trình, kế hoạch, chính sách nhằm thúc đẩy TTKDTM và hoạt động ngân hàng số, như: Kế hoạch triển khai Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025; Kế hoạch Chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch của ngành Ngân hàng triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06)...; đồng thời thực hiện tốt công tác giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng và giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Đối với việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đã được quy định tại Nghị định số
101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về TTKDTM (đã được sửa đổi, bổ sung), bên cạnh đó, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó:

Đối với quy trình mở tài khoản thanh toán, NHNN đã quy định chặt chẽ về hồ sơ, thủ tục mở tài khoản thanh toán, trong đó, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải áp dụng đầy đủ các biện pháp nhận biết và xác minh thông tin khách hàng mở tài khoản thanh toán, bảo đảm tuân thủ quy định về phòng, chống rửa tiền; đồng thời, đã có quy định chặt chẽ về quy trình mở và sử dụng tài khoản thanh toán: (i) Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ tài khoản thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; (ii) Quy định về các hành vi bị cấm trong mở, sử dụng tài khoản thanh toán bao gồm mở hoặc duy trì tài khoản nặc danh, mạo danh, chủ tài khoản thanh toán không được cho thuê, cho mượn tài khoản thanh toán của mình và không được sử dụng tài khoản thanh toán để thực hiện cho các giao dịch nhằm mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Đối với việc mở tài khoản bằng phương thức điện tử (eKYC), ngoài việc tuân thủ các quy định chung về mở, sử dụng tài khoản thanh toán, tại Thông tư số 16/2020/TT-NHNN ngày 04/12/2020 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN còn bổ sung các quy định chặt chẽ về quy trình mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử, cụ thể:

- Về đối tượng áp dụng: Chỉ áp dụng đối với khách hàng cá nhân là người Việt Nam, không áp dụng đối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài và các đối tượng quy định tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 11 Thông tư số 23/2014/TT-NHNN.

- Về quy trình mở tài khoản thanh toán, phải đáp ứng các yêu cầu: (i) Có giải pháp, công nghệ để thu thập, kiểm tra, đối chiếu, bảo đảm sự khớp đúng giữa thông tin nhận biết khách hàng, dữ liệu sinh trắc học của khách hàng với các thông tin, yếu tố sinh trắc học tương ứng trên giấy tờ tùy thân của khách hàng; (ii) Xây dựng quy trình quản lí, kiểm soát, đánh giá rủi ro, trong đó có biện pháp ngăn chặn các hành vi mạo danh, can thiệp, chỉnh sửa, làm sai lệch việc xác minh thông tin nhận biết khách hàng trước, trong và sau khi mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; biện pháp để kiểm tra, xác minh thông tin nhận biết khách hàng bảo đảm khách hàng thực hiện giao dịch trên tài khoản thanh toán được mở bằng phương thức điện tử là chủ tài khoản thanh toán đó.

- Về hạn mức: Áp dụng hạn mức giao dịch (ghi Nợ) qua tài khoản thanh toán được mở bằng eKYC: Không vượt quá 100 triệu đồng/tháng/khách hàng.

Ngoài ra, NHNN đã tích cực phối hợp với Bộ Công an nghiên cứu, xây dựng phương án cho phép ngành Ngân hàng kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC), cơ sở dữ liệu căn cước công dân (CSDLCCCD), thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp để phục vụ xác minh thông tin nhận biết khách hàng. Ngày 17/10/2022, NHNN đã ban hành Công văn số 7262/NHNN-TT yêu cầu các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nghiên cứu ứng dụng dữ liệu về CCCD, định danh và xác thực điện tử trong hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán.

Đồng thời, NHNN cũng đã ban hành các văn bản chỉ đạo toàn Ngành trong việc tăng cường phòng, chống, ngăn ngừa hành vi gian lận liên quan mở và sử dụng tài khoản thanh toán và văn bản yêu cầu các ngân hàng tăng cường các biện pháp quản lí rủi ro, đặc biệt công tác hậu kiểm để kịp thời phát hiện các sai lệch thông tin định danh và dấu hiệu bất thường trong quá trình khách hàng mở và sử dụng tài khoản thanh toán bằng eKYC.

Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã không ngừng đầu tư hạ tầng kĩ thuật, công nghệ hiện đại nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ hiện đại, tiện ích, gia tăng trải nghiệm cho khách hàng. Công tác truyền thông, giáo dục tài chính được ngành Ngân hàng chú trọng, ứng dụng công nghệ và đổi mới hình thức thể hiện, với nhiều chương trình có tính lan tỏa trong xã hội và nhiều cuộc thi về tài chính - ngân hàng dành cho học sinh, sinh viên..., qua đó góp phần nâng cao kiến thức, kĩ năng cho công chúng trong tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số.

Theo Vụ Thanh toán - NHNN, hoạt động TTKDTM và hoạt động ngân hàng số ngành Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Các chỉ số TTKDTM tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Trong 8 tháng đầu năm 2023 so với cùng kì năm 2022: Giao dịch TTKDTM tăng 49,71% về số lượng; giao dịch qua kênh Internet tăng 62,25% về số lượng và 5,65% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 61,43% về số lượng và 9,46% về giá trị; qua phương thức QR Code tăng 112,71% về số lượng và 11,18% về giá trị; qua POS tăng 23,24% về số lượng và 23,45% về giá trị; giao dịch qua ATM có xu hướng giảm, tỉ lệ giảm tương ứng 7,33% về số lượng và 8,30% về giá trị; giao dịch qua thẻ tăng 15,48% về số lượng và 23,41% về giá trị. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động an toàn, thông suốt. Giao dịch qua hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 62,21% về số lượng và 13,12% về giá trị. Đến cuối tháng 8/2023, toàn thị trường có 21.337 ATM, 490.096 POS và 141,27 triệu thẻ tăng tương ứng 2,29%; 28,57% và 1,60% về số lượng so với cùng kì năm 2022.

Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác trong nền kinh tế, nhiều ngân hàng Việt Nam có tỉ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số. NHNN đang phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn việc triển khai chi trả qua tài khoản (tài khoản ngân hàng, ví điện tử, tài khoản Mobile-Money...) cho các đối tượng hưởng chính sách an sinh xã hội theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/11/2022 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy chuyển đổi số trong chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt; chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán tiếp tục đẩy mạnh TTKDTM. Theo Vụ Thanh toán - NHNN, đến cuối tháng 6/2023, có 27 tổ chức phát hành thẻ triển khai phát hành thẻ bằng eKYC, số lượng thẻ ngân hàng phát hành bằng eKYC đang hoạt động đạt 10,8 triệu thẻ, có khoảng 40 ngân hàng thực hiện mở tài khoản thanh toán bằng eKYC, với khoảng 27 triệu tài khoản thanh toán mở bằng eKYC đang hoạt động.

Thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ, dịch vụ hành chính đạt được kết quả khả quan; công tác thu ngân sách nhà nước, dịch vụ giáo dục, y tế, điện, nước, chi trả lương hưu, bảo hiểm y tế, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp không dùng tiền mặt được chú trọng, tăng cường và đạt kết quả tích cực. Đến cuối năm 2022, khoảng 61% số người hưởng nhận các chế độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp qua tài khoản cá nhân tại khu vực đô thị (vượt chỉ tiêu được giao tại Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025). Tỉ lệ đơn vị sử dụng Ngân sách thực hiện thanh toán qua tài khoản đạt 96,76%; tỉ lệ cán bộ hưởng lương từ ngân sách nhà nước (không bao gồm quân số của các đơn vị khối an ninh - quốc phòng) đạt 96,85%; 87,9% (29/33) các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế và thuộc các trường Đại học Y, Dược đã triển khai TTKDTM; khoảng 63,8% địa phương - sở y tế (30/47 có báo cáo) có số cơ sở khám chữa bệnh đã triển khai TTKDTM, đạt tỉ lệ từ 50% trở lên, trong đó có 12/47 (25,5%) sở y tế đạt tỉ lệ 100% các cơ sở khám chữa bệnh đã triển khai TTKDTM.

NHNN đã chỉ đạo các NHTM, các tổ chức trung gian thanh toán tích cực đầu tư ứng dụng công nghệ, nghiên cứu, có giải pháp kết nối với Cổng dịch vụ công Quốc gia (để thực hiện thanh toán trực tuyến cho các dịch vụ đã được tích hợp trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, áp dụng chính sách miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán đối với các giao dịch thanh toán trên Cổng dịch vụ công Quốc gia. NHNN cũng kịp thời có văn bản gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo về hỗ trợ triển khai thanh toán trực tuyến lệ phí đăng kí xét tuyển đại học năm 2023, theo đó: 100% các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn đô thị đã thực hiện TTKDTM; 100% cơ sở giáo dục nước ngoài đã triển khai giao dịch trực tuyến trên Cổng dịch vụ công Quốc gia.

Tăng cường an ninh, bảo mật trước sự gia tăng của tội phạm công nghệ cao

Quá trình phát triển TTKDTM, trong đó có bao gồm thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực như trên; tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Tình trạng lừa đảo trực tuyến, tội phạm công nghệ, tội phạm trên không gian mạng tấn công vào hoạt động thanh toán ngày càng gia tăng trên quy mô toàn cầu với nhiều cách thức, thủ đoạn tinh vi nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản của khách hàng. Theo đó, các đối tượng chủ động lừa đảo, lấy cắp thông tin tài khoản của khách hàng (tên đăng nhập, mã xác thực…); hoặc mua, bán, thuê, mượn tài khoản thanh toán để thực hiện giao dịch cho mục đích bất hợp pháp, rửa tiền, trốn thuế, gian lận, lừa đảo... Điều này đặt ra thách thức lớn cho các ngân hàng trong việc đầu tư cho công nghệ bảo mật đòi hỏi chi phí, nguồn lực không hề nhỏ. Chưa kể, một bộ phận người dân còn thói quen sử dụng tiền mặt, ngại tiếp cận công nghệ, chưa có đủ thông tin và kĩ năng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số, trong đó có các dịch vụ thanh toán số, dẫn đến bị lừa, bị lộ, lọt thông tin do cung cấp hoặc click vào các link giả mạo của các đối tượng lừa đảo.

Một số hình thức lừa đảo phổ biến hiện nay như: Thứ nhất, kẻ gian giả danh cơ quan công an, viện kiểm sát, cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội… để yêu cầu người bị hại cài đặt các ứng dụng (App) giả mạo trên điện thoại. Sau đó, tội phạm âm thầm kiểm soát điện thoại, thực hiện giao dịch chuyển tiền để chiếm đoạt. Thứ hai, tội phạm sẽ tuyển cộng tác viên bán hàng online, người mẫu, làm nhiệm vụ đơn hàng, kêu gọi đầu tư chứng khoán... Sau khi người bị hại chuyển tiền, các đối tượng chiếm đoạt, thông qua tiền ảo chuyển ra nước ngoài. Thứ ba, tội phạm lập website, giả mạo nhân viên các ngân hàng, công ty tài chính đăng bài quảng cáo cho vay thủ tục nhanh, gọn… nhưng yêu cầu nộp các loại phí để chiếm đoạt tài sản. Thứ tư, tội phạm dùng các thủ đoạn mới của công nghệ AI (Deepfake) để giả mạo khuôn mặt, giọng nói (Deep voice) rồi liên hệ người thân, bạn bè nhờ chuyển tiền. Ngoài ra, các đối tượng sẽ giả mạo dịch vụ lấy lại tiền đã bị lừa đảo hay lập doanh nghiệp "ma", mở tài khoản ngân hàng để nhận tiền đầu tư chứng khoán… sau đó chiếm đoạt tiền của họ.

Việc ngăn chặn, xử lí tin nhắn rác, sim rác, “tài khoản ảo” còn chưa triệt để, cũng tạo kẽ hở cho kẻ gian lợi dụng. Công an Thành phố Hà Nội đã đánh giá, tài khoản ngân hàng “ảo”, số lượng sim “rác” hiện vẫn tràn lan. Việc tung ra các tài khoản sim cho người sử dụng mà không có kiểm soát, không kiểm tra đã dẫn đến không chỉ lãng phí nguồn tài nguyên số từ sim điện thoại mà còn “góp phần” tạo thêm những công cụ cho các đối tượng tội phạm lợi dụng để gây án. Chỉ cần vài chục, vài trăm nghìn đồng, chúng dễ dàng mua một hay rất nhiều thẻ sim điện thoại, thoải mái kích hoạt để sử dụng mà không phải đăng nhập, trình báo bất cứ thông tin cá nhân nào. Sau khi sử dụng xong, các đối tượng vứt bỏ sim “rác” và tiếp tục mua số sim điện thoại mới để thực hiện hành vi phạm tội. Không chỉ “thả lỏng” sim điện thoại, hiện nay việc tạo, mở, mua bán tài khoản ngân hàng đang diễn ra khá dễ dàng. Các đối tượng lừa đảo tổ chức mua những sim điện thoại chúng đã kích hoạt sẵn, thuê người mở tài khoản ngân hàng bằng số điện thoại trên, có chức năng Internet Banking. Khi lừa đảo được tiền của nạn nhân chuyển vào tài khoản này, chúng nhanh chóng rút, hoặc chuyển sang tài khoản khác, dẫn đến việc truy vết, thu hồi nguồn tiền của cơ quan Công an gặp rất nhiều khó khăn.

Đối với dịch vụ công, việc phối hợp thu ngân sách nhà nước đối với các khoản thu từ đất và lệ phí trước bạ còn một số vấn đề phát sinh liên quan đến quá trình trao đổi dữ liệu nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước giữa các cơ quan gây ảnh hưởng đến người nộp thuế. Việc đẩy mạnh chi trả lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp qua ngân hàng mới tập trung chủ yếu ở khu vực đô thị. Hệ thống công nghệ thông tin, quy trình thanh toán nhiều cơ quan, đơn vị cung ứng dịch vụ công còn chưa thực sự sẵn sàng để ứng dụng các hình thức thanh toán điện tử và kết nối với các ngân hàng (chưa có dữ liệu tập trung, dữ liệu chưa được chuẩn hóa hoặc không đầy đủ...) dẫn đến khó khăn trong việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị với ngân hàng.

Ngoài ra còn có những khó khăn, thách thức trong việc đảm bảo an ninh, an toàn và bảo mật dữ liệu khách hàng (trước tình trạng lộ, lọt thông tin và dữ liệu khách hàng, rao bán thông tin cá nhân); sự thiếu đồng bộ của các quy định pháp lí hiện hành liên quan về giao dịch điện tử, chữ kí, chứng từ điện tử, việc định danh và xác thực khách hàng điện tử, việc chia sẻ dữ liệu và bảo mật thông tin khách hàng, quy trình nghiệp vụ với thực tiễn ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng.

Chưa kể, việc đầu tư hạ tầng phục vụ thanh toán dịch vụ công tốn kém chi phí do đó cũng cần có cơ chế tài chính phù hợp về lâu dài để tạo động lực cho các ngân hàng, trung gian thanh toán tích cực trong việc tham gia cung ứng dịch vụ thanh toán điện tử đối với dịch vụ công; bên cạnh vấn đề huy động, bố trí nguồn lực phục vụ thanh toán số, chuyển đổi số…

Triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy TTKDTM

Thời gian tới, để triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp tại Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021 - 2025, về phía ngành Ngân hàng cần tiếp tục phối hợp các bộ, ngành liên quan (như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông…) triển khai các giải pháp sau:

Thứ nhất, NHNN tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lí, cơ chế, chính sách về TTKDTM, thúc đẩy hoạt động ngân hàng số, trong đó tập trung nghiên cứu, xây dựng các văn bản hướng dẫn và triển khai có hiệu quả Nghị định mới về TTKDTM và Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng sau khi Chính phủ kí ban hành.

Thứ hai, tiếp tục tăng cường phối hợp giữa NHNN và Bộ Công an: (i) Triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung tại Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng và Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNNVN triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06, nhằm thúc đẩy, tạo thuận lợi cho các NHTM, tổ chức trung gian thanh toán cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán an toàn, bảo mật, tiện ích, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Theo đó, tiếp tục triển khai, kết nối với CSDLQGvDC, cho phép các tổ chức tín dụng có thể xác minh thông tin nhận biết khách hàng, làm sạch dữ liệu và hỗ trợ khách hàng trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng; (ii) Xây dựng quy trình phối hợp nhằm hạn chế tình trạng sử dụng tài khoản ngân hàng, ví điện tử không chính chủ, ngăn chặn sớm dòng tiền và việc vi phạm pháp luật; (iii) Tăng cường an ninh, bảo mật hệ thống thông tin, phòng, chống mã độc, mua bán dữ liệu khách hàng; (iv) Cần tăng chế tài xung quanh việc mua, bán tài khoản ngân hàng để phòng tránh tội phạm lừa đảo.

Thứ ba, NHNN tổng kết, đánh giá thí điểm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm dịch vụ Mobile-Money và có những đề xuất xử lí phù hợp đối với những khó khăn, hạn chế.

Thứ tư, tiếp tục các giải pháp đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với dịch vụ công. Theo đó, tăng cường công tác phối hợp với các bộ, ngành liên quan để triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh thanh toán điện tử. NHNN tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán nghiên cứu có giải pháp về mô hình kết nối phù hợp, hiệu quả giữa các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với Cổng dịch vụ công Quốc gia, hệ thống một cửa điện tử của các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, đơn vị liên quan nhằm đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện thanh toán điện tử đối với các khoản phí, lệ phí, thanh toán hóa đơn điện, nước, học phí, viện phí... Các ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai ứng dụng thêm các hình thức, phương thức thanh toán qua ngân hàng tiên tiến, hiện đại phù hợp với đặc thù thanh toán của mỗi loại hình dịch vụ công. Mở rộng hợp tác giữa các đơn vị cung ứng dịch vụ công với các ngân hàng, tổ chức cung ứng giải pháp thanh toán; đẩy nhanh khả năng kết nối, trao đổi thông tin dữ liệu giữa đơn vị cung ứng dịch vụ công với ngân hàng.

Thứ năm, tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán qua ngân hàng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Bên cạnh việc đầu tư, triển khai các giải pháp về công nghệ và chuẩn hóa hạ tầng cung cấp dịch vụ ngân hàng theo các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế về an ninh, bảo mật, nâng cao kiến thức, kĩ năng tự bảo vệ cho khách hàng trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng, NHNN cần tiếp tục triển khai một số giải pháp sau:

(i) Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lí đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán. Theo đó, NHNN nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan mở và sử dụng tài khoản thanh toán theo hướng quy định chặt chẽ hơn quy trình nhận biết, định danh khách hàng mở và sử dụng tài khoản thanh toán.

(ii) Để góp phần hạn chế tình trạng các đối tượng tội phạm lừa đảo khách hàng, lợi dụng dịch vụ thanh toán để sử dụng cho mục đích bất hợp pháp, cần thiết lập hạn mức giao dịch tối thiểu phải áp dụng giải pháp xác thực sinh trắc học để đảm bảo định danh chính chủ người sử dụng tài khoản thanh toán. Giải pháp xác thực sinh trắc học là công nghệ cho phép nhận diện và xác minh cá nhân thông qua các đặc điểm sinh trắc học như vân tay, mống mắt, giọng nói, hình ảnh khuôn mặt... Đây được xem là giải pháp có mức độ định danh chính chủ cao nhất và có tính bảo mật cao; hạn chế tối đa nguy cơ giả mạo, lừa đảo, gian lận khi sử dụng tài khoản thanh toán. Hiện nay, NHNN đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quyết định 630/QĐ-NHNN ngày 31/3/2017 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch áp dụng các giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng để cho phép các TCTD áp dụng xác thực sinh trắc học đối với giao dịch chuyển tiền vượt hạn mức nhất định. NHNN đang nghiên cứu để đưa ra hạn mức áp dụng phù hợp, đảm bảo cân bằng giữa trải nghiệm khách hàng và phòng, chống gian lận.

(iii) Chủ động theo dõi để cảnh báo tới các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong thanh toán, yêu cầu các tổ chức: Tăng cường thực hiện các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn phòng, chống hành vi lừa đảo, gian lận liên quan đến hoạt động thanh toán, trung gian thanh toán; kịp thời thông tin, tuyên truyền cho khách hàng về các biện pháp bảo mật thông tin tài khoản (đặc biệt là các giao dịch thanh toán trực tuyến); thường xuyên cập nhật, cảnh báo khách hàng các thủ đoạn lừa đảo, gian lận trong hoạt động thanh toán và các hành vi bị cấm.

(iv) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, cảnh báo, chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để phát hiện, xử lí nghiêm các vi phạm quy định pháp luật; thường xuyên có cảnh báo, chỉ đạo, chấn chỉnh kịp thời các tổ chức tín dụng nghiêm túc chấp hành các quy định pháp luật, đảm bảo an toàn hoạt động thanh toán, an toàn tài sản cho khách hàng.

(v) Tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan trong công tác phòng, chống tội phạm, phát hiện và ngăn chặn các hành vi gian lận, lừa đảo, bất hợp pháp.

Về phía Bộ Thông tin và Truyền thông cần đẩy mạnh xử lí tình trạng sim rác, tiến tới loại bỏ sim rác, tin nhắn rác, từ đó phối hợp Bộ Công an trong việc ngăn chặn các hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản của khách hàng.

Về phía khách hàng: Cần tuân thủ theo các hướng dẫn của tổ chức cung ứng dịch vụ; đặc biệt, cần nâng cao cảnh giác với những thủ đoạn của tội phạm trên mạng, chủ động cập nhật các thông tin cảnh báo về các phương thức thủ đoạn tội phạm trên các phương tiện truyền thông; bảo mật thông tin cá nhân, thông tin tài khoản… để tránh bị đánh cắp, lợi dụng (không trả lời tin nhắn hay email nặc danh nhằm lấy cắp thông tin của khách hàng); tuyệt đối không thuê, cho thuê, trao đổi, mua bán, tiết lộ thông tin cá nhân/thông tin tài khoản thanh toán dưới mọi hình thức.


Mai Trà (NHNN)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Bài viết này làm rõ xu hướng chuyển dịch sang mô hình ngân hàng dựa trên dữ liệu, phân tích các thách thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị rủi ro công nghệ và an toàn thông tin, từ đó đề xuất khuôn khổ quản trị tích hợp nhằm nâng cao khả năng chống chịu vận hành của các tổ chức tín dụng trong môi trường số.
Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành Ngân hàng. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới, ảnh hưởng đến niềm tin thị trường. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích sự hội tụ giữa trí tuệ nhân tạo (AI) tác nhân (Agentic AI) và AI tạo sinh (Generative AI) trong quá trình tái định hình hoạt động ngân hàng hiện đại, qua đó cho thấy AI đang trở thành nền tảng chiến lược giúp các ngân hàng chuyển từ mô hình vận hành phản ứng sang chủ động, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, cá nhân hóa dịch vụ và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng khai thác yếu tố con người, việc xây dựng “human firewall” trở thành trụ cột chiến lược giúp ngành Ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực phòng vệ và thích ứng với môi trường số hóa.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng