Tiên phong đổi mới, sáng tạo, ứng dụng công nghệ mới thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế

Công nghệ & ngân hàng số
Trong những năm qua, nhiều sản phẩm, dịch vụ, phương thức thanh toán an toàn, tiện lợi, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp được các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán quan tâm, phát triển. Các dịch vụ, phương thức thanh toán, chuyển tiền mới như rút tiền tại ATM bằng QR Code, thanh toán phi tiếp xúc, thanh toán, chuyển tiền qua QR Code... đã được tích hợp vào trong sản phẩm, dịch vụ để nâng cao tiện ích, tăng cường an toàn bảo mật, qua đó góp phần phổ biến thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) đến với người dân, doanh nghiệp.
aa

Năm 2024 đánh dấu sự ra đời của nhiều chính sách mới trong hoạt động thanh toán như đại lý thanh toán, áp dụng công nghệ mới để xác định chính chủ trong mở và sử dụng tài khoản của cá nhân và tổ chức... Tiên phong đổi mới, sáng tạo là phương châm xuyên suốt và tạo động lực thúc đẩy hoạt động TTKDTM đạt nhiều thành công mới.

TTKDTM là xu hướng tất yếu trong quá trình đổi mới, sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng của xu hướng này, ngành Ngân hàng luôn tiên phong ứng dụng các thành tựu công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) trong cải tiến quy trình, nghiệp vụ, phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới, tiện ích để tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong hành vi thanh toán của khách hàng. Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển TTKDTM trong nền kinh tế, góp phần tăng nhanh vòng quay vốn, thúc đẩy phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế - xã hội.

1. Một số kết quả nổi bật về TTKDTM tại Việt Nam

Trong năm 2024, hoạt động TTKDTM trong nền kinh tế đạt được một số kết quả đáng ghi nhận như sau:

Khuôn khổ pháp lý và chính sách trong hoạt động thanh toán tiếp tục được hoàn thiện, tạo sự đồng bộ và điều kiện thuận lợi hơn nhằm khuyến khích phát triển TTKDTM, ứng dụng công nghệ mới và bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán, thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng.

NHNN đã nghiên cứu ban hành, trình ban hành và triển khai nhiều chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy TTKDTM và hoạt động ngân hàng số, tạo lập hành lang pháp lý vững chắc và đầy đủ cho hoạt động thanh toán trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán (TGTT) phát triển thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán an toàn, tiện lợi đáp ứng nhu cầu TTKDTM của người dân, tổ chức.

Cụ thể, NHNN đã tích cực nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các vấn đề cần được luật hóa để phù hợp với thực tiễn hoạt động thanh toán số và chuyển đổi số hoạt động ngân hàng tại Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) (được Quốc hội thông qua ngày 18/01/2024); trình Chính phủ ký ban hành Nghị định số 52/2024/NĐ-CP về TTKDTM ngày 15/5/2024, trong đó đề xuất nhiều chính sách mới về TTKDTM thích ứng với bối cảnh CMCN 4.0.

Đồng thời, NHNN cũng tập trung xây dựng và ban hành các thông tư mới như thông tư về hoạt động đại lý thanh toán1; việc quản lý, vận hành và sử dụng Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng Quốc gia2; cung ứng dịch vụ TTKDTM3; việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán4; hoạt động thẻ ngân hàng5; hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT6; giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng, hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT7. Các thông tư đã kịp thời hướng dẫn, cụ thể hóa những quy định tại Luật Các TCTD, Nghị định về TTKDTM, hoàn thiện hệ thống pháp lý về hoạt động TTKDTM và đề xuất nhiều quy định mới phù hợp với xu thế chuyển đổi số của ngành Ngân hàng, như Thông tư về hoạt động mở và sử dụng tài khoản thanh toán, về hoạt động thẻ ngân hàng... hướng dẫn triển khai việc mở tài khoản thanh toán, phát hành thẻ, mở ví điện tử bằng phương tiện điện tử (eKYC), giúp khách hàng tiếp cận, sử dụng dịch vụ ngân hàng mà không phải đến quầy giao dịch của ngân hàng, góp phần thực hiện quá trình chuyển đổi số của ngân hàng.

Hạ tầng thanh toán được nâng cấp, phát triển, hoạt động an toàn, hiệu quả và có khả năng kết nối, tích hợp với các hệ thống khác, góp phần nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán ngày càng tăng của xã hội.

Hạ tầng công nghệ ngân hàng thường xuyên được đầu tư nâng cấp, phát triển, bảo đảm hoạt động liên tục, thông suốt, an toàn. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả và thông suốt, tiếp tục phát huy vai trò là hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia, đáp ứng tốt nhu cầu thanh toán liên ngân hàng trong toàn quốc. Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử tự động phục vụ các giao dịch thanh toán bán lẻ (ACH) với khả năng thanh toán theo thời gian thực, hoạt động 24x7x365, xử lý giao dịch đa kênh, đa phương tiện, phục vụ nhu cầu chuyển tiền, giao dịch thanh toán bán lẻ, thanh toán các dịch vụ tiện ích. Trong 11 tháng đầu năm 2024, giá trị giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đạt hơn 240 triệu tỉ đồng, tăng 33,09% so với cùng kỳ năm 2023, nghĩa là xử lý bình quân khoảng trên 1 triệu tỉ VND/ngày. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử xử lý bình quân khoảng 25 triệu giao dịch/ngày, tăng 33,09% so với cùng kỳ năm 2023.

Hệ thống ATM, POS tiếp tục được các ngân hàng quan tâm đầu tư, nâng cao chất lượng và hiện đã được lắp đặt tại hầu hết các đơn vị cung cấp dịch vụ công, điểm bán lẻ, trung tâm thương mại, siêu thị... Trên cả nước có hơn 21 nghìn ATM, 700 triệu POS cùng hàng triệu điểm thanh toán qua QR Code, đáp ứng nhu cầu TTKDTM của người dân, tổ chức, doanh nghiệp.

Nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán ứng dụng thành tựu của CMCN 4.0 đã được phát triển đa dạng trên nền tảng số hóa, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật, mang lại sự thuận tiện cho người sử dụng và đi vào cuộc sống, góp phần tăng cao tỉ lệ TTKDTM trong nền kinh tế.

Trong những năm qua, nhiều sản phẩm, dịch vụ, phương thức thanh toán an toàn, tiện lợi, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp được các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT quan tâm, phát triển. Các dịch vụ, phương thức thanh toán, chuyển tiền mới như rút tiền tại ATM bằng QR Code, thanh toán phi tiếp xúc, thanh toán, chuyển tiền qua QR Code... đã được các ngân hàng, tổ chức TGTT tích hợp vào trong sản phẩm, dịch vụ để nâng cao tiện ích, tăng cường an toàn bảo mật, qua đó góp phần phổ biến TTKDTM đến với người dân, doanh nghiệp.

Trong 11 tháng đầu năm 2024 so với cùng kỳ năm 2023, giao dịch TTKDTM tăng 56,86% về số lượng và 33,73% về giá trị, qua kênh Internet tăng 50,67% về số lượng và 33% về giá trị, qua kênh điện thoại di động tăng 54,51% về số lượng và 34,34% về giá trị, qua QR Code tăng 106,68% về số lượng và 84,77% về giá trị. Số lượng thẻ ngân hàng đang lưu hành đến ngày 30/11/2024 đạt hơn 157,1 triệu thẻ; số lượng tài khoản thanh toán của cá nhân đạt hơn 201,5 triệu tài khoản, đạt tỉ lệ khoảng 87% người trưởng thành có tài khoản thanh toán, cho thấy hoạt động TTKDTM đã dần trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế, ngày càng được người dân, doanh nghiệp hưởng ứng và đón nhận.

NHNN cũng đang phối hợp tích cực với Bộ Công an và Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai thí điểm dịch vụ dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile Money), góp phần cung ứng cho nhóm khách hàng không có tài khoản ngân hàng một kênh giao dịch, phương tiện TTKDTM, góp phần đẩy mạnh phát triển TTKDTM, thanh toán trực tuyến. Đến ngày 31/10/2024, tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile Money là hơn 10 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản của khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo là gần 7,2 triệu tài khoản (chiếm khoảng 72% tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ).

Hoạt động thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh; các khoản thu, chi của cơ quan, tổ chức, đơn vị, lương, thưởng và chi khác có tính chất thường xuyên phần lớn đã thực hiện qua TTKDTM.

Thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ, dịch vụ hành chính công đạt được kết quả khả quan; công tác thu ngân sách nhà nước, dịch vụ giáo dục, y tế, điện, nước, chi trả lương hưu, bảo hiểm y tế, trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH), trợ cấp thất nghiệp bằng phương thức TTKDTM được chú trọng, tăng cường và đạt kết quả tích cực. NHNN cũng tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn việc triển khai chi trả qua tài khoản (tài khoản ngân hàng, ví điện tử, tài khoản Mobile Money...) cho các đối tượng hưởng chính sách an sinh xã hội và chỉ đạo các ngân hàng thương mại (NHTM), các tổ chức TGTT tích cực đầu tư ứng dụng công nghệ, nghiên cứu, có giải pháp kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia (DVCQG) để thực hiện thanh toán trực tuyến cho các dịch vụ đã được tích hợp trên Cổng DVCQG, áp dụng chính sách miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán đối với các giao dịch thanh toán trên Cổng DVCQG. Đến nay, 63 kho bạc nhà nước cấp tỉnh trong cả nước đã kết nối với Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, 100% các dịch vụ công trực tuyến lĩnh vực hải quan được thanh toán trên cổng DVCQG, 100% các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn đô thị triển khai thanh toán học phí không dùng tiền mặt, 80% số người hưởng nhận các chế độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp qua tài khoản cá nhân tại khu vực đô thị.

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng được tăng cường, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực thanh toán tiếp tục được quan tâm, góp phần bảo đảm sự ổn định, an toàn và hiệu quả của hoạt động thanh toán trong nền kinh tế.

Triển khai Kế hoạch Chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, các TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT đã ứng dụng các công nghệ số tiên tiến để tối ưu hóa, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động và trải nghiệm giao dịch khách hàng. Các TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT cũng đã ứng dụng nhiều công nghệ số tiên tiến như điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn, tự động hóa quy trình bằng robot... để tối ưu hóa, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động và trải nghiệm giao dịch khách hàng. Đến nay, hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được thực hiện hoàn toàn trên kênh số (mở tài khoản, thanh toán, chuyển tiền, tiền gửi tiết kiệm...); nhiều ngân hàng đạt tỉ lệ trên 95% giao dịch thực hiện trên kênh số.

Trong năm 2024, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai tích cực Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm thúc đẩy, tạo thuận lợi cho việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán an toàn, bảo mật, tiện ích, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng; trong đó tập trung triển khai, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để có thể xác minh thông tin nhận biết khách hàng, làm sạch dữ liệu và hỗ trợ khách hàng trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng; tiếp tục chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ ngân hàng; đồng thời thực hiện tốt công tác giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng và giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán.

Những kết quả trên đã khẳng định hoạt động TTKDTM tại Việt Nam thời gian qua đã có những bước tiến mạnh mẽ, đem lại giá trị thiết thực cho người dân, doanh nghiệp, toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

2. Những đột phá trong hoạt động thanh toán

Năm 2024 là năm hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng được hoàn thành một cách nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển TTKDTM, thúc đẩy hoạt động ngân hàng số, ứng dụng công nghệ mới và bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán góp phần tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nhiều dịch vụ, phương thức thanh toán mới, tiện ích, hiện đại. Đặc biệt hơn nữa, đây cũng là năm có nhiều chính sách mới, đột phá, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thanh toán và lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống.

Thứ nhất, trước bối cảnh gia tăng mạnh hoạt động tội phạm mạng gần đây, đặc biệt là lừa đảo trên không gian mạng, NHNN đã ban hành và triển khai thực hiện các giải pháp về bảo đảm an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng nhằm bảo vệ người sử dụng dịch vụ tốt hơn trước tình trạng lừa đảo qua mạng, đặc biệt là Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc NHNN về triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng.

Theo Quyết định số 2345/QĐ-NHNN, từ ngày 01/7/2024, khách hàng cá nhân khi thực hiện các giao dịch có giá trị trên 10 triệu đồng hoặc giao dịch có giá trị ≤ 10 triệu đồng nhưng có tổng giá trị giao dịch trong ngày > 20 triệu đồng phải được đối chiếu bằng thông tin sinh trắc học, bảo đảm chính chủ khi sử dụng các dịch vụ thanh toán trực tuyến; nhờ đó, góp phần hạn chế tình trạng lừa đảo, gian lận chuyển tiền vào các tài khoản, thẻ, ví mua, bán, thuê, mượn của các đối tượng lừa đảo.

Chính sách mới này bước đầu đã có những hiệu quả tích cực. Chỉ trong 3 tháng thực hiện, số lượng vụ lừa đảo đã giảm đến 50%, số lượng tài khoản nhận tiền lừa đảo cũng giảm trên 70% so với trung bình 7 tháng năm 2024. Một số đơn vị đã không phát sinh vụ việc lừa đảo, gian lận trong tháng 8 và tháng 9. Phát huy thành công của chính sách này, Thông tư số 50/2024/TT-NHNN ngày 31/10/2024 của Thống đốc NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng đã thể chế hóa các quy định tại Quyết định số 2345/QĐ-NHNN, đồng thời quy định rõ các hình thức đối chiếu thông tin sinh trắc học như khuôn mặt, vân tay để so sánh và xác thực giao dịch.

Thứ hai, tiên phong sử dụng công nghệ mới để xác định chính chủ trong mở và sử dụng tài khoản của cá nhân và tổ chức, thể hiện qua các quy định được thể chế hóa trong Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, Thông tư số 40/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT.

Cụ thể, các thông tư trên quy định tổ chức cung ứng dịch vụ phải thực hiện đối chiếu, bảo đảm khớp đúng thông tin sinh trắc học của chủ thẻ/chủ tài khoản thanh toán (TKTT)/chủ ví điện tử khi mở thẻ/TKTT/ví bằng eKYC cho khách hàng. Thông tư số

17/2024/TT-NHNN, Thông tư số 18/2024/TT-NHNN, Thông tư số 40/2024/TT-NHNN cũng quy định chủ thẻ/chủ TKTT/chủ ví chỉ được thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học để làm chặt chẽ hơn quy trình nhận biết, định danh khách hàng nhằm bảo đảm định danh chính chủ. Quy định này vừa giúp bảo đảm an toàn thông tin, giảm thiểu rủi ro khi tham gia giao dịch trực tuyến, song vẫn góp phần nâng cao trải nghiệm khách hàng và định hình rõ nét quan điểm “lấy khách hàng là trung tâm” của ngành Ngân hàng.

Để chuẩn bị cho việc triển khai các chính sách mới này, ngành Ngân hàng đã phối hợp với ngành Công an triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nhằm kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng dữ liệu căn cước công dân (CCCD) gắn chíp, tài khoản VNeID trong làm sạch dữ liệu và sử dụng các dịch vụ. Các tổ chức cung ứng dịch vụ cũng tích cực phối hợp với các doanh nghiệp được Bộ Công an cấp giấy phép cung cấp giải pháp xác thực người dùng bằng thẻ CCCD gắn chíp để tổ chức triển khai các giải pháp xác thực khách hàng. Việc đối chiếu dữ liệu sinh trắc học khách hàng lưu trong CCCD gắn chíp hoặc qua định danh điện tử VNeID với thông tin sinh trắc học của khách hàng mà ngân hàng thu thập tại thời điểm khách hàng tương tác với dịch vụ sẽ cho phép ngân hàng ngăn chặn được hành vi làm giả thông tin cá nhân để mở tài khoản hoặc thuê, mượn tài khoản từ người khác để thực hiện các giao dịch bất hợp pháp.

Bên cạnh công nghệ sinh trắc học, các ngân hàng và tổ chức TGTT đã nghiên cứu, triển khai các công nghệ trí tuệ nhân tạo/học máy trong đánh giá, nhận diện các dấu hiệu bất thường, có nghi vấn trong quá trình sử dụng TKTT/thẻ/ví điện tử. Các trường hợp sử dụng bất thường về địa lý, thời gian, tần suất cũng như khác biệt so với hành vi bình thường của khách hàng đã được tự động nhận diện, cảnh báo, đồng thời báo cáo về NHNN.

Đồng thời, để tăng thêm khả năng bảo đảm an toàn cho việc cung ứng dịch vụ ngân hàng bằng phương tiện điện tử, Thông tư số 50/2024/TT-NHNN bổ sung nhiều quy định mới về các giải pháp xác nhận giao dịch mạnh (SCA), bảo đảm chính chủ sử dụng TKTT thẻ/ví điện tử như xác nhận đa thành tố, FIDO, chữ ký điện tử, sinh trắc học...

Đến ngày 08/01/2025, cả ngành Ngân hàng đã có 87,6 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân (CIF) được đối chiếu sinh trắc học qua CCCD gắn chíp hoặc VNeID; 57 TCTD đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy; 51 TCTD và 32 tổ chức TGTT đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắp chíp qua ứng dụng Mobile App; 32 TCTD và 15 tổ chức TGTT đang triển khai ứng dụng VNeID cho 3 luồng quy trình nghiệp vụ chính gồm: Mở tài khoản thanh toán; xác thực giao dịch thanh toán; đối chiếu, xác thực thông tin khách hàng.

Thứ ba, lần đầu tiên hành lang pháp lý về hoạt động đại lý thanh toán được ban hành và được áp dụng tại Việt Nam, cụ thể là tại Thông tư số 07/2024/TT-NHNN ngày 21/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán. Việc ban hành quy định về hoạt động đại lý thanh toán có ý nghĩa quan trọng góp phần tăng cường khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính, bảo đảm mọi người dân, không phân biệt thành phần, điều kiện sống, khu vực địa lý đều có thể tiếp cận dịch vụ tài chính. Quy định này cũng giúp ngân hàng có thể sử dụng hệ thống mạng lưới các đại lý để cung ứng hoạt động thanh toán cho khách hàng của mình thay cho các phòng giao dịch/chi nhánh ngân hàng truyền thống. Mô hình ngân hàng đại lý có thể được ví như “cánh tay nối dài” giúp các ngân hàng tăng cường tiếp cận, gia tăng lượng khách hàng mà không cần phải mở rộng mạng lưới chi nhánh/phòng giao dịch, giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ; giúp khách hàng, nhất là khách hàng tại vùng sâu, vùng xa tiếp cận được dịch vụ thanh toán với chi phí thấp, giúp giảm thời gian đi lại...

Thứ tư, hoạt động thanh toán quốc tế được tăng cường cả về pháp lý và hạ tầng. Lần đầu tiên, Nghị định số 52/2024/NĐ-CP đã bổ sung quy định để quản lý các hoạt động thanh toán quốc tế nhằm nâng cao vai trò quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động thanh toán quốc tế và đẩy mạnh các mô hình hợp tác cung ứng dịch vụ thanh toán xuyên biên giới trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo cũng như hỗ trợ thanh toán đối với thương mại điện tử ngày càng gia tăng.

Đồng thời, hoạt động thanh toán giữa các quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực cũng được NHNN và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quan tâm thúc đẩy. Trong năm 2024, NHNN phối hợp với Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc triển khai thúc đẩy hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua QR Code giữa Việt Nam - Trung Quốc nhằm tạo thuận lợi trong thanh toán cho khách hàng các quốc gia tham gia kết nối, qua đó giúp các NHTM có thêm hạ tầng để cung ứng nhiều dịch vụ tiện ích xuyên biên giới cho người sử dụng dịch vụ cả trong và ngoài nước. Trước đó, Việt Nam cũng đã hợp tác với Thái Lan, Campuchia và Lào triển khai kết nối thanh toán song phương qua QR Code. Việc kết nối hệ thống thanh toán xuyên biên giới qua QR Code cho phép người dân mỗi nước quét QR Code để trả tiền hàng hóa, dịch vụ an toàn, tiện lợi tại các nước này ngay trên ứng dụng di động ngân hàng Việt Nam và ngược lại. Nhằm bảo đảm hạ tầng hoạt động thanh toán qua QR Code được đồng bộ, thống nhất, Tiêu chuẩn cơ sở đặc tả kỹ thuật QR Code hiển thị từ phía khách hàng tại Việt Nam được Thống đốc NHNN ký, ban hành ngày 15/11/2024 cho phép kết nối thông suốt việc thanh toán, chuyển tiền qua các QR Code đang cung ứng trên thị trường.

3. Định hướng phát triển hoạt động TTKDTM năm 2025

Năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, về đích của Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025. Tiếp tục tinh thần thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, thời gian tới ngành Ngân hàng sẽ tập trung triển khai thực hiện các giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách thúc đẩy TTKDTM và hoạt động ngân hàng số; trong đó tập trung vào việc rà soát, cập nhật, sửa đổi một số quy định để phù hợp với tình hình mới, ví dụ quy định về định danh điện tử đối với tổ chức trong mở và sử dụng tài khoản, quy định tạo điều kiện chuyển đổi mô hình ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số dựa trên công nghệ mới…

Thứ hai, tập trung triển khai hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu của Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan thúc đẩy TTKDTM trong khu vực Chính phủ, dịch vụ hành chính công, thúc đẩy tài chính toàn diện.

Thứ ba, bảo đảm sự vận hành thông suốt, an toàn của các hệ thống thanh toán đáp ứng yêu cầu thanh toán của tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Nâng cấp, triển khai ứng dụng các giải pháp bảo đảm an ninh, bảo mật trong hoạt động ngân hàng, tăng cường khả năng kết nối liên thông và tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.

Thứ tư, nghiên cứu, triển khai các mô hình, công nghệ thanh toán mới, thanh toán xuyên biên giới... làm cơ sở cho việc triển khai các quy trình nghiệp vụ thanh toán theo hướng ứng dụng công nghệ; tăng tính tiện ích, trải nghiệm cho khách hàng.

Thứ năm, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn trong thanh toán điện tử; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng; đồng thời đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho công chúng trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng.

Trong tiến trình đổi mới, sáng tạo của ngành tài chính và xu thế hội nhập toàn cầu, công tác thanh toán đã và đang trở thành một trong những trụ cột trọng yếu của hoạt động ngân hàng các quốc gia trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Từ những kết quả đã đạt được thời gian qua, cùng với giải pháp theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt, ngành Ngân hàng vững tin sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu, thắng lợi mới về phát triển TTKDTM trong năm 2025 và các năm tiếp theo.

1 Thông tư số 07/2024/TT-NHNN ngày 21/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán.

2 Thông tư số 08/2024/TT-NHNN ngày 25/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về việc quản lý, vận hành và sử dụng Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng Quốc gia.

3 Thông tư số 15/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về cung ứng dịch vụ TTKDTM.

4 Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

5 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

6 Thông tư số 40/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT.

7 Thông tư số 41/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Thống đốc NHNN quy định về giám sát và thực hiện giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng, hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT.

Phạm Anh Tuấn
Vụ trưởng Vụ Thanh toán - NHNN

Tin bài khác

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI Agent: Ứng xử trước xu hướng tái cấu trúc lao động trí tuệ tại Việt Nam

Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI Agent: Ứng xử trước xu hướng tái cấu trúc lao động trí tuệ tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent) đối với quá trình tái cấu trúc lao động trí tuệ và yêu cầu kỹ năng trong nền kinh tế số, đồng thời đề xuất các định hướng phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cộng tác với trí tuệ nhân tạo (AI), thích ứng với chuyển đổi số và tăng cường năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên AI.
Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Để bảo đảm an toàn dữ liệu và tài khoản của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng, bên cạnh nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc nâng cấp hạ tầng công nghệ bảo mật, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan trong công tác phòng, chống lừa đảo trực tuyến. Bởi lẽ, nếu các mắt xích trong hệ sinh thái số không được bảo vệ đồng bộ, thì ngay cả lớp xác thực sinh trắc học, dù hiện đại đến đâu, cũng khó phát huy hiệu quả tuyệt đối.
Đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP: Bằng chứng từ phân tích dữ liệu trực tuyến

Đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP: Bằng chứng từ phân tích dữ liệu trực tuyến

Bài viết tiến hành đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP, qua đó làm rõ vai trò của việc nâng cao trải nghiệm người dùng, đồng thời đưa ra một số hạn chế và đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính vi mô trong bối cảnh chuyển đổi số.
Quản trị dữ liệu chủ động trong ngành Ngân hàng: Định hướng và khung triển khai tại Việt Nam

Quản trị dữ liệu chủ động trong ngành Ngân hàng: Định hướng và khung triển khai tại Việt Nam

Bài viết này phân tích khái niệm, đặc trưng và vai trò của quản trị dữ liệu chủ động trong bối cảnh chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đề xuất định hướng và khung triển khai nhằm nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu, hỗ trợ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và tăng cường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam.
Kiểm soát rủi ro về tính riêng tư đối với ví điện tử tại Việt Nam: Thách thức và khuyến nghị

Kiểm soát rủi ro về tính riêng tư đối với ví điện tử tại Việt Nam: Thách thức và khuyến nghị

Bài viết này phân tích những rủi ro về quyền riêng tư trong dịch vụ ví điện tử tại Việt Nam từ góc độ người dùng, công nghệ và chính sách, đồng thời đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát rủi ro, bảo vệ dữ liệu cá nhân và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái thanh toán số an toàn, bền vững.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Xem thêm
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam