Vai trò của niềm tin thể chế trong đảm bảo an ninh kinh tế quốc gia
07/12/2020 12.674 lượt xem
Bài viết xem xét vai trò của các yếu tố thể chế phi kinh tế, trong đó, có niềm tin chi phối sự hình thành các nền tảng an ninh kinh tế của một quốc gia. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, tăng cường niềm tin thể chế giúp giảm các chi phí giao dịch và chi phí chuyển đổi, góp phần tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế, đồng thời, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong nước, giúp chống lại các cú sốc bên ngoài.
 
Những năm gần đây, sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới diễn ra trong điều kiện địa chính trị và kinh tế khá khó khăn: cạnh tranh quyền lực, lợi ích và vị thế chiến lược giữa các nước lớn; tình hình biển Đông, Syria, căng thẳng Mỹ - Iran; chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch Covid-19... làm cho vấn đề liên quan đến đảm bảo an ninh kinh tế của mỗi quốc gia ngày càng mang tính cấp thiết. 
 
Theo truyền thống, an ninh kinh tế được coi là một trong những thuộc tính quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất, phản ánh khả năng của hệ thống kinh tế - xã hội chống lại các mối đe dọa bên ngoài thông qua các phương pháp đáp trả hiệu quả, đồng thời, đảm bảo sự ổn định trong quá trình phát triển của hệ thống. Nên lưu ý rằng trong các tài liệu nghiên cứu, phạm trù “An ninh kinh tế” [11] tương đối mới mà đến nay, cơ sở lý luận của nó vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện, hơn nữa, không chỉ từ quan điểm khoa học kinh tế, mà còn từ một số ngành khoa học khác, như triết học, tâm lý học, xã hội học... Điều này cho thấy hiện tượng đang xem xét có tính đa hình nhất định, đôi khi làm phức tạp nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu trong quá trình xác định bản chất và nội dung của phạm trù nghiên cứu.
 


Niềm tin thể chế cao giúp hạn chế sự không chắc chắn, giảm sự bất cân xứng của thông tin và chi phí giao dịch, góp phần tạo điều kiện nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
 
Nghiên cứu này bàn về các khía cạnh thể chế, trong đó, có thể chế đặc biệt như niềm tin trong quá trình đảm bảo an ninh kinh tế của quốc gia [1]. Trong điều kiện hiện nay, việc gắn các quan hệ tin cậy lẫn nhau vào quá trình tái sản xuất rõ ràng là điều hiển nhiên vì tác động ngày càng lớn của các đặc điểm hành vi của các tác nhân kinh tế đến diễn biến của các quá trình thực tiễn trong hoạt động kinh tế. Trong cộng đồng khoa học, có thể nêu một số học giả tích cực nghiên cứu vai trò các nhân tố phi kinh tế trong quá trình tái sản xuất, trong đó, có hiện tượng niềm tin. Đó chắc hẳn là F. Fukuyama - người sáng lập lý thuyết về niềm tin như một nhân tố kinh tế quan trọng; thuộc trường phái này còn có K. Arrow, G. Hodgson, P. Sztompka, J. Kornai, D. Scott và nhiều người khác. Ngoài ra, không thể không nhắc đến vai trò của trường phái Áo (L. Von. Mises, F. von Hayek) trong nghiên cứu hành vi cá nhân trong hoạt động kinh doanh, chỉ có thể thực hiện trong điều kiện có mức độ tin cậy cá nhân cao [1; 2; 10].
 
Tầm quan trọng ngày càng tăng của các yếu tố phi kinh tế đã thu hút sự quan tâm về cơ sở lý thuyết của chúng, trong đó có các nhà khoa học Nga. Đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về vấn đề này của các nhà kinh tế Nga như A. Oleinik, V. Radaev, V. Dementiev, A. Lyasko, V. Sukhikh, S. Vazhenin và một số học giả khác. Kết luận chính có thể được rút ra trên cơ sở các luận cứ trong các bài viết của các nhà khoa học kinh tế là nền kinh tế không phải là một không gian biệt lập, trong đó mọi người tập hợp cùng nhau chỉ để thỏa mãn nhu cầu ích kỷ riêng tư và sau đó, trở lại cuộc sống hàng ngày của họ. Trong thực tế, nền kinh tế là một phạm trù thuộc cơ sở hạ tầng và là một lĩnh vực hoạt động và giao tiếp thường xuyên thay đổi của con người, trong đó, hành vi của một số thành viên ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của những thành viên tham gia khác trong hệ thống.
 
Lý thuyết thể chế, và đặc biệt, tập hợp các công cụ, phương pháp của nó có thể được vận dụng để nghiên cứu tác động của các yếu tố phi kinh tế đến các quy trình kinh doanh thực tế. Phân tích niềm tin thông qua phương pháp tiếp cận thể chế [3], có thể kết luận rằng, không thể nhìn nhận niềm tin như là một thể chế theo nghĩa truyền thống của phạm trù này. Về vấn đề này, việc sử dụng “thể chế” niềm tin như là một yếu tố cơ bản của vốn xã hội và vốn thể chế [5] cần được cân nhắc. Để nhóm một hiện tượng vào một phạm trù thể chế, cần dựa vào các đặc điểm rõ ràng về những dấu hiệu cơ bản của thể chế, bao gồm các thuộc tính sau: tổ chức, giới hạn và điều chỉnh sự tương tác liên tục của các chủ thể trong quá trình tái sản xuất các mối quan hệ khác nhau; thực hiện chức năng cơ bản nhằm đạt được các mục tiêu phát triển hệ thống kinh tế - xã hội; sự hiện diện các ràng buộc trong quá trình hoạt động dưới dạng các quy tắc và chuẩn mực chính thức và không chính thức, cũng như có các chế tài cưỡng chế cần thiết để kiểm soát việc tuân thủ các tiêu chuẩn này. Thiết nghĩ, niềm tin như một hiện tượng, xét về tổng thể, không thể được xếp vào phạm trù thể chế, vì chế tài cưỡng chế chỉ có ở đây dưới hình thức kế thừa, mà không có chế tài xử phạt rõ ràng khi vi phạm các chuẩn mực lòng tin.
 
Nếu chúng ta đưa ra sự tương đồng với các thể chế phi chính thức hiện tại, chẳng hạn như truyền thống, phong tục, đạo đức,... thì việc vi phạm các chuẩn mực nêu trên đã hình thành đủ bộ máy cưỡng chế rõ ràng dưới hình thức tha hóa, loại trừ, trục xuất... xử phạt [6]. Do đó, niềm tin có thể được phân loại là một hiện tượng gần như thể chế (quasi institution) không chính thức, nhưng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thống kinh tế, bao gồm cả việc hình thành các điều kiện đảm bảo an ninh kinh tế của quốc gia. Bàn về giá trị của các quan hệ niềm tin trong quá trình tái sản xuất xã hội, cần làm rõ các hình thức mà cảm giác này có thể được biểu hiện. Vì vậy, nó có thể được phân theo các cấp độ: tối thiểu (cấp độ nano), cấp vi mô và cấp vĩ mô. Theo mức độ cá nhân hóa, có thể phân thành niềm tin cá nhân (giữa các cá nhân), niềm tin khái quát (thể chế). Niềm tin thể chế là một hình thái niềm tin đối với các quy tắc, chuẩn mực (thể chế) qua trung gian hành vi của con người. Hệ thống kinh tế xã hội hiện đại được điều chỉnh triệt để bởi các quy tắc, chuẩn mực, mệnh lệnh, quy định pháp luật; do đó, việc tuân thủ chúng bởi các tác nhân kinh tế phụ thuộc vào tính minh bạch, trình độ quản lý và hiệu quả của hệ thống [9].
 
Niềm tin thể chế cao giúp hạn chế sự không chắc chắn, giảm sự bất cân xứng của thông tin và chi phí giao dịch, góp phần tạo điều kiện nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế. Niềm tin đối với các thể chế được xác định bằng mức độ đáp ứng của chính các thể chế này với kỳ vọng của các chủ thể, nghĩa là, khả năng thực hiện các nguyên tắc về hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội.
 
Một số chuyên gia cho rằng, việc củng cố lòng tin chỉ có thể đạt được nếu có bằng chứng xác thực rằng các thể chế hiện hành đang vận hành hiệu quả, đặc biệt là khi đối mặt với những thay đổi nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu của phần lớn dân cư.
 
Một trong những ví dụ về niềm tin thể chế là niềm tin vào các thể chế tiền tệ [8]. Mối quan hệ niềm tin là một phần không thể thiếu của bất kỳ hoạt động nào liên quan đến lưu thông tiền tệ. Tiền là nền tảng vận hành của mọi hệ thống kinh tế dựa trên các mối quan hệ trao đổi và tín dụng, do đó, điều quan trọng là cần có niềm tin của của các thực thể kinh doanh đối với đồng tiền quốc gia, nhờ đó, sẽ tạo điều kiện cho sự ổn định của hệ thống lưu thông tiền tệ và toàn bộ khu vực ngân hàng - tài chính. Nếu mức độ tin cậy thể chế thấp, lưu thông tiền nói chung có thể gặp rủi ro, vì những thành viên tham gia lưu thông tiền tệ sẽ nghi ngờ tính thanh khoản của tiền tệ, gây trở ngại cho quá trình tái sản xuất và làm cho nền kinh tế quốc gia nói chung dễ bị tổn thương. Vi phạm chức năng của hệ thống lưu thông tiền tệ chắc chắn sẽ dẫn đến sự gián đoạn trong hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan nhà nước, đồng thời vi phạm các nguyên tắc cơ bản của an ninh kinh tế.
 
Nhiều nhà khoa học cho rằng, hệ thống tiền tệ hiện đại là một mạng lưới quan hệ tin cậy phân tầng phức tạp, hơn nữa, được xây dựng phù hợp với không chỉ chiều ngang, mà còn là kiểu phối hợp dọc của các thực thể kinh doanh. Cấu trúc hiện nay của các mối quan hệ tiền tệ hiện đại được xây dựng trên nguyên tắc niềm tin, không chỉ đáng tin cậy nhất, vào các thể chế nhà nước, mà còn trên cơ sở phát hành các hình thức tiền tệ có tính thanh khoản cao nhất.
 
Các khoản tương đương tiền (quasi money) như tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm... là các khoản nợ của các tổ chức tín dụng, có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt với sự tham gia trực tiếp của hệ thống ngân hàng và Nhà nước. Việc phân loại nhà phát hành dựa trên mức độ thanh khoản của các tài sản do họ phát hành cũng phản ánh thứ tự phân cấp của các tổ chức tài chính theo mức độ tin cậy được cá nhân hóa của các thực thể kinh doanh, và do đó, không chỉ độ tin cậy, mà cả tính thanh khoản của các tài sản được phát hành là một tiêu chí cơ bản để xây dựng các mối quan hệ dọc trong hệ thống tài chính [7].
Có thể lưu ý rằng, mô hình kim tự tháp của các mối quan hệ niềm tin vào các định chế tiền tệ được hình thành đầy đủ và phù hợp với các phương tiện bảo vệ thể chế.
 
Hệ thống tiền tệ hiện đại đang trải qua những thay đổi đáng kể liên quan đến việc chuyển đổi từ các hình thức tiền mặt và phi tiền mặt cổ điển sang hình thái điện tử.
 
Tất cả các loại tiền mã hóa (cryptocurrency) chỉ thực hiện một phần chức năng tiền tệ. Chúng chỉ có thể được xác định là tương đương tiền khi được sử dụng làm phương tiện thanh toán và chi trả trong hệ thống thương mại điện tử.
Các đặc điểm tiền tệ như vậy xuất hiện trong tiền mã hóa không thường xuyên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới; tiền mã hóa là một loại tiền thay thế không hoàn hảo, nghĩa là, một tài sản không thể trực tiếp tham gia vào các giao dịch chi trả và thanh toán.
 
Tiền mã hóa không chỉ là tiền, mà còn là thành phần đầu cơ của các mối quan hệ tài chính [8].
 
Thị trường tiền mã hóa không được gắn với sơ đồ cổ điển của hệ thống phân cấp niềm tin vào tiền (tin tưởng vào tiền → tin tưởng vào ngân hàng → tin tưởng vào nhà nước), tạo thành một khu vực độc lập trong quan hệ ủy thác. Trong quá trình mua và bán tiền mã hóa, các chủ thể kinh doanh tin tưởng không phải các cá nhân riêng lẻ hoặc tổ chức, mà tin tưởng chính hệ thống, tức là, thuật toán công nghệ phát hành tiền mã hóa.
 
An ninh kinh tế trong quá trình đào (mining) và lưu thông tiền mã hóa, theo một số nhà nghiên cứu, được cho là đảm bảo gần như một trăm phần trăm. Tuy nhiên, như chúng ta thấy, điều đó không hoàn toàn đúng. 
 
Thứ nhất, bản thân thuật toán phát hành tiền thay thế, được xây dựng bằng công nghệ blockchain, có thể có những hạn chế nhất định. Sự tập trung công suất với năng lượng lớn trong tay một thành viên riêng lẻ của thị trường tiền mã hóa sẽ cho phép thành viên đó xây dựng các chuỗi khối dài hơn, từ đó, đưa đến khả năng bóp méo cơ chế định giá và phát hành tiền mã hóa. Ở giai đoạn này, những sự kiện đã được biết, khi các quy trình đào được kiểm soát bởi các nhóm thợ đào lớn, các thợ đào quy mô nhỏ buộc phải chia sẻ tài nguyên của họ với các nhóm thợ đào lớn. Mạng được tập trung xung quanh các nhà khai thác của các trung tâm dữ liệu lớn, chủ yếu phân bố ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc, điều này cho thấy quá trình độc quyền của thị trường tiền mã hóa.
 
Ngoài ra, còn có một hạn chế về khối lượng phát hành, điều này cho thấy rằng không thể đưa thị trường này vào quá trình tái sản xuất thực sự. Khối lượng phát hành tiền mã hóa là cố định (ví dụ đối với bitcoin là 21 triệu đơn vị), dẫn đến việc kéo dài các chuỗi khối, làm chậm tốc độ lan truyền của chúng trên mạng, tăng nguy cơ phân tách và hoạt động trái pháp luật.
 
Thứ hai, việc lưu thông tiền mã hóa đặt ra rất nhiều câu hỏi. Các thị trường chứng khoán thực hiện quá trình chuyển đổi tiền mã hóa thành tài sản pháp định (fiat) thuộc sở hữu những thành viên cụ thể của thị trường tiền mã hóa. Nhà nước trong thực tế không quản lý hoạt động của họ, điều này gây ra rủi ro thất thoát tài sản do sự không trung thực của chủ sở hữu nền tảng thông tin, đồng thời, cũng không được bảo hiểm phá sản.
 
Hoạt động của thị trường tiền mã hóa đặt ra một vấn đề về an ninh kinh tế không chỉ đối với một thực thể kinh doanh đơn lẻ, mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia.
 
Sự gia tăng không kiểm soát được số lượng giao dịch với tiền mã hóa dẫn đến việc mở rộng lĩnh vực kinh tế ngầm, tăng mức độ hình sự hóa các dòng tài chính, xâm phạm quyền của các nhà đầu tư và giảm hiệu quả của toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội.
 
Giải pháp cho vấn đề an ninh kinh tế trong lĩnh vực tài chính hiện đang là vấn đề cấp thiết nhất. Chỉ khi tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế, đòi hỏi không chỉ duy trì và bảo vệ các thể chế chính thức và phi chính thức hiện có [4], mà còn đòi hỏi quá trình tái sản xuất chúng liên tục trên một nền chất lượng mới, từ đó,  chúng ta mới có thể nói về tăng trưởng kinh tế bền vững, khả năng đối mặt với các mối đe dọa bên ngoài, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Белянин А, Зинченко В. Доверие в экономике и общественной жизни. Москва. 2010. С.4. 
2. Кощегулова И. Денежная теория и институты // Вестн. УГАТУ. Экономика. 2009. Т.12, № 3(32). С. 18–25. 
3. Михайлов А. М. Институциональные формы реализации интересов собственников факторов производства. // Экономические науки. 2007. № 35. С. 71–75. 
4. Михайлов А.М., Белова Л. В. Формальные и неформальные институты в банковской сфере // Вопросы экономики и права. 2015. № 88. С. 48–71. 
5. Михайлов А.М., Пронина Е. Ю. Экономическая природа институционального капитала и его взаимосвязь с человеческим капиталом. // Вестник Самарского государственного экономического университета. 2013. № 5 (103). С. 85–89. 
6. Суриков К.Ю., Коновалова М. Е. Институциональное доверие к деньгам: вопросы теории и практики. Самара, 2016. С. 34–35. 
7. Суриков К.Ю., Коновалова М. Е., Кузьмина О. Ю. Институциональное доверие и его роль в процессе развития денежно-кредитной сферы // Вестник Самарского государственного экономического университета. 2016. № 11 (145). С. 5–10. 
8. Суриков К.Ю., Коновалова М. Е. Особенности трансформации системы денежного обращения на современном этапе развития // Вестник Самарского государственного экономического университета. 2017. № 10 (156). С. 82–86. 
9. Суриков К. Ю. Фактор доверия в эволюции денег // Вестник Самарского государственного экономического университета. 2015. № 4 (126). С. 6–14. 
10. Фукуяма Ф. Доверие. Социальные добродетели и путь к процветанию. Москва, 2004. С. 13–17. 
11. Якшина И. С. Современные теоретические подходы к содержанию категории экономической безопасности субъектов экономической деятельности // Гуманитарные научные исследования 2013. № 10 (26). С. 3–5.

Bảo Nguyên

Theo Tạp chí Ngân hàng số 13/2020
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
15/02/2024 2.434 lượt xem
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng trong việc tăng cường và bảo vệ giá trị của tổ chức thông qua chức năng cung cấp sự đảm bảo, tư vấn khách quan, chuyên sâu và theo định hướng rủi ro.
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
13/02/2024 2.576 lượt xem
Nhìn lại năm 2023, trên khắp Việt Nam và Nhật Bản đã diễn ra nhiều sự kiện kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tháng 12/2023, Mizuho đã hỗ trợ Diễn đàn kinh tế Nhật Bản - Việt Nam tại Tokyo cùng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và các định chế tài chính khác.
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
26/01/2024 3.859 lượt xem
Sau những cú sốc mạnh trong năm 2022, hoạt động kinh tế toàn cầu có dấu hiệu ổn định vào đầu năm 2023.
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
15/01/2024 4.652 lượt xem
Chuyển đổi số và sự bùng nổ công nghệ có ảnh hưởng lớn đến hành vi của khách hàng và hoạt động kinh doanh. Xu hướng thay đổi này dẫn đến quá trình số hóa trong các lĩnh vực như sản xuất, chuỗi cung ứng, tài chính và các dịch vụ phụ trợ khác.
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
05/01/2024 5.601 lượt xem
Trong năm vừa qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ sụp đổ của những ông lớn trong lĩnh vực ngân hàng, điều này dấy lên hồi chuông cảnh báo về tính chất dễ đổ vỡ của ngân hàng. Việc một ngân hàng đổ vỡ thể hiện kỉ luật thị trường đối với những ngân hàng có hoạt động kinh doanh thiếu an toàn, lành mạnh nhưng lại tạo ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng và người gửi tiền.
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
21/12/2023 6.654 lượt xem
Sự chuyển dịch nhanh chóng của hệ thống tiền tệ số toàn cầu đã khiến chính phủ các nước có phần lúng túng trong việc thích nghi với sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi chi tiêu và đầu tư của người dân.
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
20/12/2023 6.206 lượt xem
Trung Quốc là đối tác kinh tế, thương mại và đầu tư lớn nhất của châu Phi trong thời gian qua và sẽ tiếp tục trong thời gian tới. Bài viết này tóm lược sự phát triển quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc với các nước châu Phi trong thời gian hơn một thập kỉ vừa qua và việc Trung Quốc sử dụng lĩnh vực ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển đó.
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
16/11/2023 7.320 lượt xem
Bài viết khái quát quá trình triển khai huy động dòng vốn toàn cầu thông qua tiền mã hóa của Chính phủ Ukraine và Liên bang Nga; từ đó, đánh giá hiệu quả thực tiễn của việc sử dụng tiền mã hóa trong thanh toán xuyên biên giới, nguy cơ sử dụng tiền mã hóa trong các hoạt động rửa tiền, khủng bố và đưa ra hàm ý cho Việt Nam.
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
06/11/2023 7.324 lượt xem
Hoạt động huy động vốn cộng đồng đã trở nên phổ biến sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, phương thức này đã phát triển nhanh chóng ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó, hoạt động huy động vốn theo hình thức cổ phần (Equity - based Crowdfunding - ECF) là hình thức gọi vốn được các doanh nghiệp trong giai đoạn khởi đầu, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo rất ưa chuộng. Với ECF, các doanh nghiệp có thể huy động vốn từ cộng đồng thông qua một nền tảng trên Internet.
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
20/10/2023 8.518 lượt xem
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và việc sử dụng ngày càng nhiều điện thoại thông minh và máy tính bảng, xu hướng hợp kênh đã dần trở nên quan trọng đối với tập hợp đa dạng các dịch vụ ngân hàng. Hoạt động ngân hàng hợp kênh cung cấp đường dẫn đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng thông qua nhiều kênh khác nhau (như chi nhánh ngân hàng, ATM, tổng đài điện thoại, eBanking, Internet Banking và Mobile Banking) một cách hợp nhất dựa trên ý tưởng “mọi thứ đều có thể được làm trên mọi kênh”.
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
04/10/2023 11.900 lượt xem
Khi thế giới ngày càng trở nên số hóa và kết nối, cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng ngày một gia tăng, tạo động lực cho các ngân hàng thích ứng và thực hiện chuyển đổi số. Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối... đang hỗ trợ và đẩy nhanh tốc độ của quá trình chuyển đổi số, giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
04/10/2023 9.700 lượt xem
Trong vài năm gần đây, nền kinh tế tuần hoàn (Circular economy - CE) đang ngày càng được chú ý trên toàn thế giới như một cách để khắc phục mô hình sản xuất và tiêu dùng hiện tại dựa trên tăng trưởng liên tục và tăng thông lượng tài nguyên.
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
25/09/2023 10.741 lượt xem
Hiệp ước Basel II đã và đang được các ngân hàng thương mại (NHTM) áp dụng rộng rãi như một chiến lược nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản trị rủi ro, đảm bảo sự ổn định tài chính của ngân hàng. Mặc dù vậy, cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng giai đoạn 2008 - 2009 với sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính lớn như Ngân hàng Đầu tư Bear Stearns, các ngân hàng Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers đã cho thấy những điểm yếu của Basel II như mức vốn cấp 1 (Tier 1) tối thiểu 4% và tỉ lệ an toàn vốn không đủ bù đắp các khoản lỗ lớn; một số kĩ thuật sử dụng kế toán sáng tạo có thể che đậy rủi ro tín dụng; suy thoái kinh tế có thể dẫn đến áp lực bán tháo làm tăng tính thuận chu kì của hệ thống; sử dụng một số sản phẩm tài chính phức tạp như công cụ phái sinh, bảo lãnh như một phần của việc giảm rủi ro tín dụng…
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
21/09/2023 10.580 lượt xem
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi rất nhiều yếu tố làm suy giảm đà phục hồi, nền kinh tế các nước tại khu vực châu Á cũng nằm trong xu hướng đó và được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại với các động lực tăng trưởng yếu, áp lực lạm phát ở mức vừa phải.
Khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ: Nguyên nhân và tác động
Khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ: Nguyên nhân và tác động
20/09/2023 12.552 lượt xem
Căng thẳng ngân hàng tại Mỹ bắt đầu xảy ra vào tháng 3/2023, khi Ngân hàng Silicon Valley (SVB) sụp đổ, sau đó lan truyền sang một số ngân hàng khác, làm dấy lên lo ngại về tính ổn định trong khu vực tài chính. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố dẫn đến khủng hoảng ngân hàng, biện pháp xử lí của cơ quan quản lí, tác động của nó cũng như bài học kinh nghiệm rút ra là hết sức cần thiết.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?