Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
04/10/2023 8.994 lượt xem
Tóm tắt: Trong vài năm gần đây, nền kinh tế tuần hoàn (Circular economy - CE) đang ngày càng được chú ý trên toàn thế giới như một cách để khắc phục mô hình sản xuất và tiêu dùng hiện tại dựa trên tăng trưởng liên tục và tăng thông lượng tài nguyên. Bằng cách thúc đẩy việc áp dụng các mô hình sản xuất khép kín trong một hệ thống kinh tế, CE nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, đặc biệt tập trung vào chất thải đô thị và công nghiệp, nhằm đạt được sự cân bằng và hài hòa hơn giữa kinh tế, môi trường và xã hội. CE được xem là mô hình kinh doanh mới được kì vọng sẽ hướng đến phát triển bền vững và một xã hội hài hòa. CE thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên hợp lí, thân thiện hơn với môi trường nhằm thực hiện một nền kinh tế xanh hơn, đặc trưng bởi mô hình kinh doanh mới với những cơ hội việc làm mới, cũng như cải thiện phúc lợi, tác động rõ ràng đến công bằng trong và giữa các thế hệ về cả việc sử dụng và tiếp cận tài nguyên. 
 
Việc áp dụng các nguyên tắc CE ngày càng được công nhận là một lộ trình quan trọng hướng tới một tương lai bền vững và linh hoạt hơn. Bài viết xem xét các nghiên cứu điển hình thành công về triển khai CE ở hai quốc gia Trung Quốc và Nhật Bản; qua đó, rút ra những cơ hội và lợi ích khi triển khai CE đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam; đồng thời, đưa ra các khuyến nghị để các doanh nghiệp tại Việt Nam vận dụng trong thực hành CE. Bài viết tập trung phân tích các chiến lược, chính sách, thách thức và lợi ích liên quan đến việc áp dụng CE, làm rõ mối liên quan và khả năng áp dụng các nguyên tắc CE trong bối cảnh ở Việt Nam với mục tiêu khuyến khích các doanh nghiệp ở Việt Nam chuyển đổi sang thực hành CE và đóng góp cho sự phát triển bền vững.
 
Từ khóa: CE, phát triển bền vững.
 
EXPERIENCE IN IMPLEMENTING CIRCULAR ECONOMY IN SOME COUNTRIES AND RECOMMENDATIONS FOR VIETNAMESE BUSINESSES
 
Abstract: The circular economy (CE) has gained popularity in recent years as a means of overcoming current production and consumption patterns predicated on continual growth and higher resource throughput. By promoting the adoption of closed production models within an economic system, CE aims to improve resource use efficiency, with a special focus on urban and industrial waste, in order to establish more balance and harmony between the economy, environment and society. CE is considered a new business model that is expected to lead to more sustainable development and a harmonious society. CE promotes a more reasonable, environmentally friendly use of resources in order to develop a greener economy and is defined by new business models with new job opportunities, increased welfare, and a clear influence on equality between and within generations in both resource use and access.
 
The adoption of CE principles is becoming more acknowledged as a critical step toward a more sustainable and resilient future. The article reviews successful CE implementation by case studies from China and Japan. As a result, opportunities and benefits of implementing CE for businesses in Vietnam are identified; simultaneously, advice for businesses in Vietnam to apply CE practice is provided. The article focuses on analyzing strategies, policies, challenges, and benefits associated with the application of CE, as well as clarifying the relationship and applicability of CE principles in the Vietnamese context, with the goal of encouraging businesses in Vietnam to adopt CE practices and contribute to sustainable development.
 
Keywords: Circular economy, sustainable development.
 
1. Đặt vấn đề
 
Mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống đặc trưng bởi cách tiếp cận tận dụng đã dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên đáng kể, suy thoái môi trường và tạo ra chất thải. Để đối phó với những thách thức này, khái niệm CE đã trở nên nổi bật như một mô hình kinh tế thay thế nhằm tách rời tăng trưởng kinh tế khỏi tiêu thụ tài nguyên và tác động môi trường.
 
CE dựa trên các nguyên tắc thiết kế loại bỏ chất thải và ô nhiễm, giữ cho các sản phẩm và vật liệu được sử dụng càng lâu, càng tốt và tái tạo các hệ thống tự nhiên. Nó thúc đẩy một hệ thống khép kín, trong đó tài nguyên được tái sử dụng, tái chế hoặc tái tạo, giảm thiểu việc khai thác tài nguyên mới, giảm phát sinh chất thải.
 
Tầm quan trọng của CE nằm ở tiềm năng giải quyết các vấn đề cấp bách toàn cầu như biến đổi khí hậu, khan hiếm tài nguyên và ô nhiễm. Bằng cách chuyển sang tuần hoàn, các nền kinh tế có thể đạt được sự tăng trưởng bền vững và linh hoạt hơn đồng thời giảm dấu chân sinh thái. Thực tiễn CE mang lại một số lợi ích, bao gồm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính, tạo việc làm và nâng cao khả năng cạnh tranh.
 
Hơn nữa, CE phù hợp với các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (SDGs) và Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Nó cung cấp một khuôn khổ để đạt được các mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững, thúc đẩy quản lí tài nguyên, có trách nhiệm thúc đẩy đổi mới và hợp tác giữa các ngành.
 
Bài viết cung cấp thông tin và truyền cảm hứng đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam; rút ra bài học kinh nghiệm dựa trên phân tích các nghiên cứu điển hình và học hỏi từ các quốc gia khác trong việc triển khai các hoạt động CE, với mong muốn đưa ra các khuyến nghị, chiến lược thiết thực mà các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể áp dụng và đóng góp vì một tương lai bền vững hơn.
 
2. Khái niệm CE
 
Khái niệm về CE bắt nguồn từ các trường phái tư tưởng khác nhau. Thuật ngữ CE đã được nghiên cứu từ những năm 1970. Các nhà kinh tế môi trường Pearce và Turner (1989) chủ yếu đưa ra khái niệm xây dựng hệ thống CE dựa trên các nghiên cứu trước đó của nhà kinh tế sinh thái Boulding (1966). Ý tưởng của Boulding về nền kinh tế như một hệ thống tuần hoàn được coi là điều kiện tiên quyết để duy trì sự bền vững của sự sống con người trên trái đất (một hệ thống khép kín thực tế không có sự trao đổi vật chất với môi trường bên ngoài).
 
Stahel và Reday (1981) đã nêu những đặc điểm cụ thể của CE mà trọng tâm là nền kinh tế công nghiệp. Họ hình dung nền kinh tế là một vòng khép kín với các vật liệu luân chuyển, do đó, ngăn chặn việc tạo ra chất thải, tạo việc làm mới, đạt được hiệu quả sử dụng tài nguyên và phi vật chất hóa nền kinh tế công nghiệp. Stahel lập luận rằng, việc sử dụng thuật ngữ “tiêu dùng” thay vì “sở hữu” hàng hóa là mô hình kinh doanh bền vững phù hợp nhất cho CE, do đó cho phép ngành thu được lợi nhuận mà không phải chịu chi phí bên ngoài và rủi ro liên quan đến chất thải. Ban đầu, khái niệm CE dựa trên nguyên tắc 3R, sau đó là 4R, 6R, trong khi gần đây nó đã chuyển thành nguyên tắc 9R, thậm chí 10R. Việc triển khai CE đã xuất hiện như một phản ứng đối với nhu cầu thách thức những sai sót của hệ thống kinh tế tuyến tính hiện tại. Trái ngược với các phương pháp sản xuất tuyến tính, các hệ thống CE giữ lại giá trị gia tăng từ các sản phẩm càng lâu, càng tốt với mục đích loại bỏ việc tạo ra chất thải. (Hình 1, 2)
 
Hình 1: Mô hình CE

Nguồn: ResearchGate

Hình 2: Khung nguyên tắc “R” trong mô hình CE

Nguồn: Fornasari, T., Neri, P., 2022

Một định nghĩa khác cho rằng: “Nền kinh tế dựa trên vòng xoắn ốc, tức là một hệ thống giảm thiểu vật chất, dòng năng lượng và suy thoái môi trường mà không hạn chế tăng trưởng kinh tế hoặc tiến bộ xã hội và kĩ thuật”. Quỹ Ellen MacArthur trình bày CE là “nền kinh tế công nghiệp tái tạo theo thiết kế hoặc mục đích”. Webster tuyên bố rằng, “mục đích của CE là tạo ra các sản phẩm, linh kiện và vật liệu có giá trị phục vụ cao nhất theo thời gian”. “Chất thải là thức ăn” là một trong những nguyên tắc hàng đầu của CE, cho phép tất cả nguyên liệu hoặc sản phẩm đã sử dụng, cũng như những sản phẩm gần hoặc sắp hết vòng đời được sử dụng một lần nữa làm đầu vào để sản xuất thế hệ sản phẩm tiếp theo.
 
Luật Xúc tiến CE của Trung Quốc định nghĩa: "CE là một thuật ngữ chung cho các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế được tiến hành trong quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng” (CCICED, 2008). Tuy nhiên, định nghĩa này dường như không phù hợp với thực tiễn của Trung Quốc về tăng trưởng ổn định các mô hình sản xuất và tiêu dùng trong phạm vi quốc gia. Ngược lại, ở các quốc gia khác như các quốc gia ở châu Âu, hay Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Việt Nam dường như xác định CE và các nguyên tắc nền tảng của nó trong nhiều sáng kiến hơn, chủ yếu liên quan đến chính sách quản lí chất thải. Mục tiêu rộng lớn hơn là đạt được hiệu quả tổng hợp với các chiến lược quốc gia về ngăn chặn chôn, lấp, thu mua tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính và quản lí chất thải nguy hại sau quá trình lưu thông vật liệu. Mặt khác, do sự đánh đổi giữa các chính sách, cần phải có một cách tiếp cận chính trị tổng hợp (có thể được xây dựng xung quanh CE) để giải quyết các thách thức môi trường mang tính hệ thống và dai dẳng.
 
3. Các nguyên tắc của CE
 
Thiết kế cho tính tuần hoàn: Các sản phẩm và hệ thống nên được thiết kế với mục đích tối đa hóa tuổi thọ, dễ sửa chữa và khả năng tái chế của chúng. Điều này liên quan đến việc xem xét toàn bộ vòng đời của một sản phẩm, từ việc tìm nguồn cung ứng nguyên liệu thô đến việc thải bỏ khi hết hạn sử dụng.
 
Hiệu quả tài nguyên: Sử dụng hiệu quả tài nguyên là trọng tâm của CE. Điều này bao gồm tối ưu hóa đầu vào vật liệu, tiêu thụ năng lượng và sử dụng nước trong suốt quá trình sản xuất và tiêu thụ.
 
Ngăn ngừa và tăng giá trị chất thải: CE nhằm mục đích giảm thiểu phát sinh chất thải bằng cách thúc đẩy ngăn ngừa chất thải, tái chế và thu hồi các vật liệu có giá trị từ các dòng chất thải; khuyến khích việc chuyển đổi chất thải thành tài nguyên có giá trị thông qua các công nghệ và quy trình đổi mới.
 
Hợp tác và gắn kết các bên liên quan: CE yêu cầu sự hợp tác giữa các bên liên quan khác nhau, bao gồm doanh nghiệp, chính phủ, người tiêu dùng và cộng đồng. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chia sẻ kiến thức chuyên môn và nguồn lực để thúc đẩy thay đổi mang tính hệ thống.
 
Thực tiễn tái tạo: CE tìm cách khôi phục và tái tạo các hệ thống tự nhiên bằng cách thúc đẩy nông nghiệp bền vững, phục hồi hệ sinh thái và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo. Nó thừa nhận mối liên hệ qua lại giữa các hoạt động kinh tế và sức khỏe của môi trường.
 
Bằng cách áp dụng các nguyên tắc này, CE mang lại tiềm năng tạo ra một nền kinh tế bền vững, linh hoạt hơn, giảm tác động đến môi trường, đồng thời thúc đẩy sự đổi mới và hợp tác giữa các ngành.
 
4. Kinh nghiệm triển khai CE ở một số quốc gia trên thế giới
 
4.1. Trung Quốc
 
Là một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới, cùng với việc trải qua một thời gian dài thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng, trở thành một nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển kinh tế là, Trung Quốc đã và đang phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng liên quan đến ô nhiễm môi trường và quốc gia này cũng trở thành một trong những quốc gia có lượng rác thải lớn nhất thế giới. Theo thống kê, mỗi năm, Trung Quốc thải ra hàng trăm triệu tấn chất thải, riêng trong năm 2020, quốc gia này tạo ra khoảng 235,1 triệu tấn chất thải rắn, dự kiến con số này sẽ lên tới 326 triệu tấn vào năm 2030. Theo số liệu thống kê của IQAir, Trung Quốc hiện xếp thứ 25 trong tổng số 131 quốc gia và khu vực ô nhiễm nhất thế giới (2018 - 2022) với nồng độ PM2.5 trung bình hằng năm của năm 2022 là 30.6 (μg/m3).
 
Về rác thải nhựa, hiện chưa có thống kê nào về tổng số lượng rác thải nhựa mỗi quốc gia thải ra môi trường. Tuy nhiên, theo thống kê của Visual Capitalist, Trung Quốc thuộc Top 4 quốc gia xả nhiều rác thải nhựa ra đại dương nhất với gần 70,707 tấn mỗi năm. (Hình 3)
 
Hình 3: Top 10 quốc gia thải rác nhựa ra đại dương nhiều nhất

 Nguồn: Visual Capitalist, 2023

Chính phủ Trung Quốc đã nhận thức được tình hình này và đã đưa ra nhiều biện pháp để giảm ô nhiễm môi trường, ví dụ, áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn cho các nhà máy, xưởng sản xuất, đầu tư vào năng lượng tái tạo và khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông sạch hơn. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn còn tồn tại và cần được giải quyết một cách bền vững trong tương lai.
 
Trong 20 năm qua, Trung Quốc đã phát triển rộng lớn tham vọng đối với CE và đang theo đuổi các chính sách CE toàn diện. Kể từ năm 2000, Trung Quốc đã xây dựng nhiều chính sách và quy định liên quan đến CE được thực hiện ở ba cấp độ: Vi mô, trung mô và vĩ mô đề cập đến cấp độ công ty, quan hệ giữa các công ty và khu công nghiệp sinh thái (EIPs), cấp độ thành phố sinh thái, tỉnh và khu vực. Các chính sách đa cấp ở Trung Quốc thường được xây dựng và thực hiện thông qua cách tiếp cận từ trên xuống, từ chính quyền trung ương đến các tỉnh, thành phố và nhà máy thông qua việc đặt mục tiêu, tạo chỉ số cho các ngành khác nhau và thử nghiệm với nhiều thí điểm khác nhau.  
 
Các chỉ số CE quốc gia của Trung Quốc dựa trên các nguyên tắc 3R: Giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế. Các cấp độ lập kế hoạch và thực hiện CE khác nhau thể hiện một số khác biệt trong các loại chỉ số được sử dụng. Cụ thể, hệ thống chỉ tiêu đánh giá CE của Trung Quốc đã xuất bản cung cấp hai bộ chỉ số riêng biệt. Một bộ chỉ số được sử dụng ở cấp vĩ mô để đánh giá chung về CE, phát triển cho cả phân tích cấp vùng và cấp quốc gia. Hệ thống chỉ báo vĩ mô này cung cấp hướng dẫn cho việc lập kế hoạch phát triển CE trong tương lai. Bộ chỉ số khác được sử dụng để đánh giá tình trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ở cấp độ khu công nghiệp.
 
Theo kế hoạch 5 năm (2021 - 2025) của Trung Quốc được công bố ngày 15/9/2021, quốc gia này sẽ tăng cường khả năng tái chế và đốt rác thải nhựa theo quy trình, thúc đẩy các sản phẩm nhựa “xanh” và thực hiện hành động chống lại việc lạm dụng nhựa trong bao bì và nông nghiệp. Kế hoạch khuyến khích các doanh nghiệp, nhà bán lẻ, các đơn vị vận chuyển hàng hóa cắt giảm bao bì nhựa không hợp lí và nâng tỉ lệ đốt rác thải đô thị lên khoảng 800.000 tấn mỗi ngày vào năm 2025, tăng từ 580.000 tấn trong năm 2022. Trung Quốc sẽ cấm sản xuất túi nhựa siêu mỏng trên toàn quốc cũng như các sản phẩm chăm sóc cá nhân có chứa hạt vi nhựa, thúc đẩy việc sử dụng các sản phẩm thay thế như tre, gỗ, giấy và nhựa phân hủy sinh học mới. 
 
4.2. Nhật Bản 
 
Trong những năm gần đây, Nhật Bản là một trong những nhà sản xuất sản phẩm nhựa lớn nhất. Màng bao bì nhựa và các sản phẩm nhựa dùng một lần như hộp nhựa là một trong những sản phẩm nhựa hàng đầu được sản xuất tại Nhật Bản. Bao bì nhựa thường được sử dụng để đựng thực phẩm và đồ uống vì nó mang hình ảnh an toàn và vệ sinh đối với người dân Nhật Bản. Hơn nữa, sự phổ biến của hộp thức ăn mang đi từ các siêu thị, cũng như máy bán hàng tự động với đồ uống đựng trong chai PET (nhựa nguyên sinh), góp phần tạo ra rác thải nhựa, bao bì nhựa chiếm phần lớn trong bao bì rác thải sinh hoạt. Năm 2012, theo số liệu thống kê, khối lượng rác thải nhựa tại Nhật Bản lên tới 9 triệu tấn, đến năm 2021, khối lượng rác thải nhựa tại Nhật Bản khoảng 8,2 triệu tấn. Mặc dù có sự sụt giảm trong suốt thập kỉ qua, nhưng ô nhiễm chất thải nhựa vẫn là một vấn đề môi trường lớn đối với Nhật Bản. 
 
Nhật Bản đã sớm định hướng chiến lược phát triển CE từ năm 1991 với mục tiêu trở thành một “xã hội dựa trên tái chế”. Ngay từ năm 1995, Nhật Bản đã ban hành Đạo luật Tái chế bao bì nhằm phân loại chất thải, thu gom chất thải đã phân loại, tái chế thùng chứa và chất thải bao bì. Năm 2004, Chính phủ thúc đẩy cái gọi là sáng kiến “3R”, khuyến khích các doanh nghiệp và người dân tập trung vào tầm quan trọng của việc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải. Dựa trên sáng kiến này, Chính phủ Nhật Bản cũng đã đưa ra Chiến lược lưu thông tài nguyên cho nhựa vào năm 2019, mục tiêu của chiến lược này là thiết kế việc tái sử dụng, tái chế vào năm 2025; giảm tích lũy 25% lượng nhựa sử dụng một lần đến năm 2030; tái sử dụng, tái chế 60% thùng chứa và bao bì vào năm 2030; tăng gấp đôi việc sử dụng lượng tái chế vào năm 2030; tối đa hóa việc sử dụng nhựa sinh khối lên khoảng hai triệu tấn vào năm 2030; sử dụng hiệu quả 100% nhựa đã qua sử dụng vào năm 2035. 
 
Đến năm 2022, Nhật Bản đã ban hành Luật Khuyến khích và tái chế rác thải nhựa, kể từ khi Luật được ban hành và có hiệu lực từ tháng 4/2022, nhiều doanh nghiệp tại Nhật Bản đã thay đổi chính sách để phù hợp với quy định của luật này, hướng tới việc giảm thiểu sản phẩm nhựa dùng một lần thông qua việc thay đổi bằng vật liệu khác hoặc cắt giảm số lượng. Như một biện pháp để giảm rác thải nhựa, nhiều công ty Nhật Bản đang bắt đầu thay thế các sản phẩm nhựa bằng các sản phẩm giấy, đặc biệt là vật liệu đóng gói, thân thiện với môi trường. Tại Nhật Bản, giấy là một trong những loại rác thải có tỉ lệ tái chế cao nhất, lên tới 79%. Nhật Bản cũng trở thành quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về quản lí rác thải nhựa, với tỉ lệ tái chế nhựa lên đến 85%.
 
5. Cơ hội và lợi ích khi triển khai CE đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
 
Việc triển khai thực hành CE đã thu hút được sự chú ý đáng kể của nhiều quốc gia trên toàn thế giới như một cách tiếp cận đầy hứa hẹn để giải quyết tình trạng khan hiếm tài nguyên, suy thoái môi trường và phát sinh chất thải. Việc áp dụng các thông lệ CE của một số quốc gia trên thế giới sẽ mang lại nhiều cơ hội và lợi ích cho các doanh nghiệp tại Việt Nam. Bằng cách tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên, áp dụng các nguyên tắc thiết kế tuần hoàn, thiết lập chuỗi giá trị khép kín và thu hút người tiêu dùng, các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể mở ra nhiều cơ hội và lợi ích. Dưới đây là một số cơ hội và lợi ích chính của CE đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam:
 
Hiệu quả tài nguyên và tiết kiệm chi phí: Việc triển khai thực hành CE cho phép các doanh nghiệp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, giảm phát sinh chất thải và giảm thiểu tiêu thụ nguyên liệu thô. Điều này dẫn đến cải thiện hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm chi phí thông qua việc giảm chi phí mua sắm và quản lí chất thải.
 
Nâng cao năng lực cạnh tranh và sự khác biệt trên thị trường: Việc áp dụng các nguyên tắc CE có thể giúp các doanh nghiệp tạo sự khác biệt trên thị trường bằng cách cung cấp các sản phẩm và dịch vụ bền vững, thân thiện với môi trường. Điều này có thể thu hút người tiêu dùng có ý thức về môi trường và tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các công ty theo mô hình tuyến tính truyền thống.
 
Đổi mới và mô hình kinh doanh mới: CE khuyến khích tư duy đổi mới và phát triển các mô hình kinh doanh mới. Bằng cách tập trung vào tuổi thọ, khả năng sửa chữa và tái chế của sản phẩm, các doanh nghiệp có thể khám phá các cơ hội thiết kế lại sản phẩm, tái sản xuất và tạo ra các chuỗi giá trị tuần hoàn.
 
Tiếp cận thị trường và khách hàng mới: Các hoạt động CE phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm và dịch vụ bền vững. Bằng cách áp dụng tính tuần hoàn, các doanh nghiệp có thể tiếp cận các thị trường mới, thu hút những khách hàng ưu tiên trách nhiệm với môi trường và tìm kiếm các giải pháp thay thế bền vững.
 
Cải thiện khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng: Các hoạt động CE thúc đẩy sự hợp tác và quan hệ đối tác giữa các chuỗi cung ứng. Bằng cách thiết lập các hệ thống khép kín và thu hút các nhà cung cấp cũng như khách hàng tham gia vào các sáng kiến tuần hoàn, các doanh nghiệp có thể tăng cường khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn lực khan hiếm, giảm thiểu rủi ro liên quan đến biến động giá và gián đoạn nguồn cung.
 
Tuân thủ quy định và danh tiếng: Thực hiện các hoạt động CE mà trong đó các doanh nghiệp có trách nhiệm tuân thủ các quy định về môi trường và thể hiện cam kết về tính bền vững. Điều này nâng cao danh tiếng và có thể thu hút các nhà đầu tư, đối tác, khách hàng coi trọng các hoạt động bền vững.
 
Tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế: Các hoạt động CE có khả năng tạo ra các cơ hội việc làm mới, đặc biệt trong các lĩnh vực như tái chế, dịch vụ sửa chữa và tái sản xuất. Điều này góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương, xóa đói, giảm nghèo và phát triển xã hội.
 
Lợi ích về môi trường: Thực hành CE làm giảm đáng kể tác động đến môi trường bằng cách giảm thiểu phát sinh chất thải, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và giảm phát thải khí nhà kính. Bằng cách áp dụng tính tuần hoàn, các doanh nghiệp có thể góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học.
 
Bằng cách nắm bắt các cơ hội và lợi ích của CE, các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể chuyển hướng tới một tương lai bền vững và linh hoạt hơn. Thông qua đổi mới, hợp tác và quản lí tài nguyên có trách nhiệm có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời giảm thiểu tác động đến môi trường, góp phần tạo nên một xã hội xanh hơn, bền vững hơn.
 
6. Kết luận và khuyến nghị
 
Việc triển khai thành công các thông lệ CE ở Việt Nam đòi hỏi phải có sự thay đổi trong tư duy, sự hợp tác giữa các bên liên quan, các chính sách hỗ trợ, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Để triển khai thành công các thông lệ CE, các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể cân nhắc các khuyến nghị sau:
 
Một là, tiến hành đánh giá CE: Bắt đầu bằng việc tiến hành đánh giá toàn diện các hoạt động, chuỗi cung ứng và sản phẩm hiện tại để xác định các lĩnh vực có thể tích hợp các nguyên tắc của CE. Đánh giá này sẽ giúp ưu tiên các sáng kiến và đặt mục tiêu rõ ràng cho tính tuần hoàn.
 
Hai là, nắm bắt các nguyên tắc thiết kế hình tròn: Kết hợp các nguyên tắc thiết kế hình tròn vào quy trình phát triển sản phẩm. Thiết kế các sản phẩm có độ bền, khả năng sửa chữa và khả năng tái chế, xem xét toàn bộ vòng đời từ tìm nguồn cung ứng đến thải bỏ khi hết hạn sử dụng. Khám phá các vật liệu và công nghệ tiên tiến cho phép tính tuần hoàn.
 
Ba là, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên: Xác định các cơ hội để tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm thiểu việc tạo ra chất thải. Thực hiện các biện pháp như quy trình sản xuất tiết kiệm năng lượng, chiến lược giảm chất thải và chương trình tái chế. Cân nhắc áp dụng các phương pháp mua sắm tuần hoàn ưu tiên các nhà cung cấp có các phương pháp tuần hoàn và bền vững.
 
Bốn là, thiết lập chuỗi giá trị tuần hoàn: Phối hợp với nhà cung cấp, khách hàng và các bên liên quan khác để thiết lập chuỗi giá trị vòng khép kín. Khám phá các mối quan hệ đối tác để trao đổi vật liệu, tái sản xuất và các chương trình thu hồi sản phẩm. Thu hút các nhà cung cấp tham gia vào các hoạt động tìm nguồn cung ứng có trách nhiệm và thúc đẩy tính tuần hoàn trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
 
Năm là, thúc đẩy kéo dài tuổi thọ sản phẩm: Khuyến khích sửa chữa, tân trang và bán lại sản phẩm để kéo dài tuổi thọ của chúng. Cung cấp dịch vụ sửa chữa hoặc cộng tác với mạng lưới sửa chữa. Giáo dục người tiêu dùng về lợi ích của việc sửa chữa và tái sử dụng sản phẩm, đồng thời khuyến khích trả lại sản phẩm khi hết hạn sử dụng để tái chế hoặc tân trang đúng cách.
 
Sáu là, thu hút người tiêu dùng và nâng cao nhận thức: Giáo dục người tiêu dùng về tầm quan trọng của CE và lợi ích môi trường của tiêu dùng bền vững. Thúc đẩy các hành vi thân thiện với môi trường, chẳng hạn như tái chế, tái sử dụng và thải bỏ có trách nhiệm. Cung cấp thông tin minh bạch về tác động môi trường của các sản phẩm để trao quyền cho người tiêu dùng đưa ra lựa chọn sáng suốt.
 
Bảy là, thúc đẩy hợp tác và đối tác: Hợp tác với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành, tổ chức nghiên cứu và cơ quan chính phủ khác để chia sẻ kiến thức, thực tiễn tốt nhất và tài nguyên. Tham gia hoặc thiết lập mạng lưới CE dành riêng cho ngành để trao đổi ý tưởng và cộng tác trong các sáng kiến tuần hoàn.
 
Tám là, vận động cho các chính sách hỗ trợ: Tham gia với các nhà hoạch định chính sách và vận động cho các chính sách và quy định hỗ trợ nhằm khuyến khích các hoạt động CE. Khuyến khích phát triển các khuôn khổ CE, ưu đãi thuế, kế hoạch mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất và các hướng dẫn mua sắm công ưu tiên tuần hoàn.
 
Chín là, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển: Phân bổ nguồn lực cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển tập trung vào đổi mới CE. Khám phá các công nghệ, vật liệu và quy trình mới cho phép tính tuần hoàn. Hợp tác với các trường đại học và tổ chức nghiên cứu để thúc đẩy đổi mới và phát triển các giải pháp bền vững.
 
Mười là, đo lường và truyền đạt tác động: Triển khai các hệ thống giám sát và đánh giá mạnh mẽ để đo lường tác động môi trường và kinh tế của các sáng kiến CE. Truyền đạt những kết quả và thành tựu tích cực cho các bên liên quan, bao gồm nhân viên, khách hàng, nhà đầu tư và cộng đồng rộng lớn hơn, để xây dựng lòng tin và nâng cao danh tiếng.
 
Bằng cách áp dụng các khuyến nghị này, các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể áp dụng thực hành CE, đóng góp vào sự phát triển bền vững, đạt được lợi thế cạnh tranh và tạo ra tác động tích cực đến môi trường và xã hội. Các doanh nghiệp tại Việt Nam cần phải nắm bắt các cơ hội do CE  mang lại và đóng vai trò tích cực trong việc định hình một tương lai bền vững hơn.
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. Boulding, K. E. (1966). The economics of knowledge and the knowledge of economics. The American Economic Review, 56(1/2), pages 1-13.
2. CCICED, W. (2008). Report on ecological footprint in China, China Council for International Cooperation on Environment and Development (CCICED). Beijing: The World Wide Fund for Nature (WWF).
3. Fornasari, T., & Neri, P. (2022). Model for the Transition to the Circular Economy: The” R” Framework. Symphonya, (1), pages 78-91.
4. Hong, H., & Gasparatos, A. (2020). Eco-industrial parks in China: Key institutional aspects, sustainability impacts, and implementation challenges. Journal of Cleaner Production, 274, 122853. 
5. MacArthur, F. E. (2013). Towards the Circular Economy Vol. 1: an economic and business rationale for an accelerated transition. Ellen McArthur.
6. Pearce, D. W., & Turner, R. K. (1989). Economics of natural resources and the environment. Johns Hopkins University Press.
7. Stahel, Walter R. and Reday-Mulvey, Geneviève (1981), Jobs for Tomorrow, the potential for substituting manpower for energy, Vantage Press, New York, N.Y
8. Stahel, W. R. (2016). The circular economy. Nature, 531(7595), pages 435-438.

Phạm Ngọc Phong, Trần Thị Mỹ Liên
Phân hiệu Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Vĩnh Long

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
15/02/2024 1.942 lượt xem
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng trong việc tăng cường và bảo vệ giá trị của tổ chức thông qua chức năng cung cấp sự đảm bảo, tư vấn khách quan, chuyên sâu và theo định hướng rủi ro.
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
13/02/2024 2.081 lượt xem
Nhìn lại năm 2023, trên khắp Việt Nam và Nhật Bản đã diễn ra nhiều sự kiện kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tháng 12/2023, Mizuho đã hỗ trợ Diễn đàn kinh tế Nhật Bản - Việt Nam tại Tokyo cùng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và các định chế tài chính khác.
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
26/01/2024 3.247 lượt xem
Sau những cú sốc mạnh trong năm 2022, hoạt động kinh tế toàn cầu có dấu hiệu ổn định vào đầu năm 2023.
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
15/01/2024 4.042 lượt xem
Chuyển đổi số và sự bùng nổ công nghệ có ảnh hưởng lớn đến hành vi của khách hàng và hoạt động kinh doanh. Xu hướng thay đổi này dẫn đến quá trình số hóa trong các lĩnh vực như sản xuất, chuỗi cung ứng, tài chính và các dịch vụ phụ trợ khác.
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
05/01/2024 4.961 lượt xem
Trong năm vừa qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ sụp đổ của những ông lớn trong lĩnh vực ngân hàng, điều này dấy lên hồi chuông cảnh báo về tính chất dễ đổ vỡ của ngân hàng. Việc một ngân hàng đổ vỡ thể hiện kỉ luật thị trường đối với những ngân hàng có hoạt động kinh doanh thiếu an toàn, lành mạnh nhưng lại tạo ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng và người gửi tiền.
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
21/12/2023 6.075 lượt xem
Sự chuyển dịch nhanh chóng của hệ thống tiền tệ số toàn cầu đã khiến chính phủ các nước có phần lúng túng trong việc thích nghi với sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi chi tiêu và đầu tư của người dân.
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
20/12/2023 5.612 lượt xem
Trung Quốc là đối tác kinh tế, thương mại và đầu tư lớn nhất của châu Phi trong thời gian qua và sẽ tiếp tục trong thời gian tới. Bài viết này tóm lược sự phát triển quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc với các nước châu Phi trong thời gian hơn một thập kỉ vừa qua và việc Trung Quốc sử dụng lĩnh vực ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển đó.
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
16/11/2023 6.719 lượt xem
Bài viết khái quát quá trình triển khai huy động dòng vốn toàn cầu thông qua tiền mã hóa của Chính phủ Ukraine và Liên bang Nga; từ đó, đánh giá hiệu quả thực tiễn của việc sử dụng tiền mã hóa trong thanh toán xuyên biên giới, nguy cơ sử dụng tiền mã hóa trong các hoạt động rửa tiền, khủng bố và đưa ra hàm ý cho Việt Nam.
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
06/11/2023 6.714 lượt xem
Hoạt động huy động vốn cộng đồng đã trở nên phổ biến sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, phương thức này đã phát triển nhanh chóng ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó, hoạt động huy động vốn theo hình thức cổ phần (Equity - based Crowdfunding - ECF) là hình thức gọi vốn được các doanh nghiệp trong giai đoạn khởi đầu, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo rất ưa chuộng. Với ECF, các doanh nghiệp có thể huy động vốn từ cộng đồng thông qua một nền tảng trên Internet.
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
20/10/2023 7.887 lượt xem
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và việc sử dụng ngày càng nhiều điện thoại thông minh và máy tính bảng, xu hướng hợp kênh đã dần trở nên quan trọng đối với tập hợp đa dạng các dịch vụ ngân hàng. Hoạt động ngân hàng hợp kênh cung cấp đường dẫn đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng thông qua nhiều kênh khác nhau (như chi nhánh ngân hàng, ATM, tổng đài điện thoại, eBanking, Internet Banking và Mobile Banking) một cách hợp nhất dựa trên ý tưởng “mọi thứ đều có thể được làm trên mọi kênh”.
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
04/10/2023 11.097 lượt xem
Khi thế giới ngày càng trở nên số hóa và kết nối, cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng ngày một gia tăng, tạo động lực cho các ngân hàng thích ứng và thực hiện chuyển đổi số. Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối... đang hỗ trợ và đẩy nhanh tốc độ của quá trình chuyển đổi số, giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
25/09/2023 9.997 lượt xem
Hiệp ước Basel II đã và đang được các ngân hàng thương mại (NHTM) áp dụng rộng rãi như một chiến lược nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản trị rủi ro, đảm bảo sự ổn định tài chính của ngân hàng. Mặc dù vậy, cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng giai đoạn 2008 - 2009 với sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính lớn như Ngân hàng Đầu tư Bear Stearns, các ngân hàng Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers đã cho thấy những điểm yếu của Basel II như mức vốn cấp 1 (Tier 1) tối thiểu 4% và tỉ lệ an toàn vốn không đủ bù đắp các khoản lỗ lớn; một số kĩ thuật sử dụng kế toán sáng tạo có thể che đậy rủi ro tín dụng; suy thoái kinh tế có thể dẫn đến áp lực bán tháo làm tăng tính thuận chu kì của hệ thống; sử dụng một số sản phẩm tài chính phức tạp như công cụ phái sinh, bảo lãnh như một phần của việc giảm rủi ro tín dụng…
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
21/09/2023 9.837 lượt xem
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi rất nhiều yếu tố làm suy giảm đà phục hồi, nền kinh tế các nước tại khu vực châu Á cũng nằm trong xu hướng đó và được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại với các động lực tăng trưởng yếu, áp lực lạm phát ở mức vừa phải.
Khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ: Nguyên nhân và tác động
Khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ: Nguyên nhân và tác động
20/09/2023 11.651 lượt xem
Căng thẳng ngân hàng tại Mỹ bắt đầu xảy ra vào tháng 3/2023, khi Ngân hàng Silicon Valley (SVB) sụp đổ, sau đó lan truyền sang một số ngân hàng khác, làm dấy lên lo ngại về tính ổn định trong khu vực tài chính. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố dẫn đến khủng hoảng ngân hàng, biện pháp xử lí của cơ quan quản lí, tác động của nó cũng như bài học kinh nghiệm rút ra là hết sức cần thiết.
Chi ngân sách nhà nước cho tăng trưởng xanh tại các quốc gia trên thế giới
Chi ngân sách nhà nước cho tăng trưởng xanh tại các quốc gia trên thế giới
04/09/2023 9.829 lượt xem
Các quốc gia hiện nay ngoài mục tiêu phát triển kinh tế thì đã từng bước chú trọng bảo vệ môi trường. Theo đó, các chính sách đã được ban hành, trong đó có chính sách chi ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng, con người, bảo tồn hệ sinh thái và các khoản chi khác nhằm chuyển dịch nền kinh tế hướng tới tăng trưởng xanh.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

74.500

77.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

74.500

77.500

Vàng SJC 5c

74.500

77.520

Vàng nhẫn 9999

63.400

64.700

Vàng nữ trang 9999

63.100

64.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,330 24,700 25,777 27,192 30,165 31,449 158.62 167.89
BIDV 24,380 24,690 25,962 27,169 30,297 31,455 159.71 168.14
VietinBank 24,290 24,710 26,000 27,195 30,584 31,594 160.24 168.19
Agribank 24,320 24,670 25,943 26,957 30,363 31,342 160.38 165.98
Eximbank 24,300 24,690 26,040 26,870 30,446 31,417 160.82 165.95
ACB 24,330 24,680 26,090 26,742 30,662 31,302 160.72 165.89
Sacombank 24,330 24,795 26,208 26,773 30,767 31,257 161.56 166.6
Techcombank 24,358 24,704 25,849 27,190 30,175 31,503 156.87 169.29
LPBank 24,120 25,030 25,976 27,305 30,612 31,554 159.02 170.51
DongA Bank 24,370 24,670 26,070 26,720 30,520 31,320 158.80 165.80
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?