Công nghệ số và mô hình hoạt động của các ngân hàng trong tương lai
25/07/2022 3.267 lượt xem
Mô hình hoạt động là mô tả trừu tượng về cách một tổ chức hoạt động theo các quy trình, tổ chức và các miền công nghệ để hoàn thành chức năng của mình (De Vries và cộng sự, 2011).

Đối với ngân hàng, khác với mô hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông thường, mô hình kinh doanh của ngân hàng mô tả cách ngân hàng đó tạo ra, cung cấp, mang đến giá trị cho khách hàng và duy trì điều đó trong cả một quá trình (Osterwalder và Pigneur, 2011). Trong khi các mô hình kinh doanh coi doanh thu, chi phí và kết quả là khả năng sinh lời, thì các mô hình hoạt động tập trung vào chi phí như một mục tiêu chính để chú trọng tính hiệu quả, đây được coi là một trong hai ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng (Crosby và cộng sự, 2013). Sự suy giảm lợi nhuận biên hiện nay đang thách thức nhiều ngân hàng phải xem lại mô hình hoạt động do giảm doanh thu biên trong khi chi phí biên lại không giảm. Ví dụ, chi phí biên của các ngân hàng tư nhân châu Á ở cùng mức như các thị trường Tây Âu phát triển (khoảng 60 bp1). Ngược lại, ngân hàng ở khu vực Mỹ Latinh và Trung Đông hoạt động với chi phí biên thấp hơn (khoảng 40bp) do chi phí nhân viên hỗ trợ, công nghệ thông tin (CNTT) và văn phòng thấp hơn hai khu vực trên (Vandenberghe et al., 2014). Trong danh mục chi phí, chi phí nhân sự đại diện cho tỷ trọng chủ yếu và phản ánh các tình huống khác nhau liên quan đến tỷ lệ chi phí/thu nhập với khoảng 80% ở Thụy Sĩ, 70% ở Đức, 60% ở Mỹ, 50% ở Thụy Điển và Luxemburg, 40% ở Singapore và Hồng Kông, còn Trung Quốc là 30% (Hintermann và cộng sự, 2014).
 

Sự phát triển đối với các mô hình hoạt động mới cho các ngân hàng có thể dẫn đến việc tổ chức lại toàn bộ hệ thống ngân hàng các quốc gia và toàn cầu
 
Bên cạnh chi phí nhân sự chiếm gần 60% tổng chi phí của các ngân hàng, chi phí CNTT chiếm tỷ trọng lớn thứ hai với khoảng 20% (Gopalan và cộng sự, 2012). Nhìn chung, các ngân hàng có chi phí CNTT cao nhất trong tất cả các ngành liên quan đến doanh thu. So với các ngành khác mà chi phí CNTT được dự đoán sẽ giảm (ô tô giảm 1%, ngành hóa chất giảm 3%), chi phí CNTT trong các ngân hàng được dự báo sẽ tăng với mức tăng hằng năm là 3% (BCG, 2013). Điều này được cho là do một số lượng lớn các hệ thống CNTT không đồng nhất với tuổi thọ tổng thể có thể lên đến hơn 40 năm. 
 
Tác động đột phá ngày càng tăng của CNTT đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, mang lại những hệ quả như phi trung gian hóa, giảm thu nhập và tổ chức lại chuỗi giá trị với các tác nhân mới. Các công ty khởi nghiệp công nghệ tài chính (Fintech) và các tổ chức phi ngân hàng khác đang phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới cho tất cả các lĩnh vực hoạt động của ngành Ngân hàng với việc thiết lập hệ sinh thái mới với các tổ chức phi ngân hàng khác và các định chế khác trong ngành dịch vụ tài chính. Điều đó đang đặt ra những câu hỏi và thách thức đối với mô hình hoạt động của các ngân hàng.
 
Mô hình hoạt động của các ngân hàng cho đến nay vẫn chủ yếu dựa trên sự tích hợp mạnh mẽ theo chiều dọc của các quy trình quản lý, ngân hàng lõi và hoạt động hỗ trợ. Một sự phát triển gần đây được gọi là “siêu chuyên môn hóa” đã xuất hiện các dịch vụ cung ứng có xu hướng chi tiết hơn trong tương lai cũng như các mô hình cung ứng mới, như nguồn cung ứng cộng đồng. Do sự phát triển của CNTT (như công nghệ chuỗi khối (Blockchain)) và tiêu chuẩn hóa (như giao diện lập trình ứng dụng (API) mở), các ngân hàng hiện có thể thuê ngoài các dịch vụ ở cấp độ các nhiệm vụ đơn lẻ (ví dụ: DNA App Store). Việc nguyên tử hóa chuỗi giá trị này có thể dẫn đến các cấu trúc tổ chức phi tập trung hơn thứ chúng ta biết ngày nay.
 
Tổng hợp lại, ba xu hướng sau đây đặc trưng cho sự phát triển đối với các mô hình hoạt động mới cho các ngân hàng:
 
(1) Tăng cường quy định pháp lý: Quy định pháp lý đề cập đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng và thể hiện sự hội tụ giữa thị trường trong nước và nước ngoài (do các quy định trong nước và xuyên biên giới chặt chẽ hơn, chẳng hạn như FATCA hoặc Basel III). Ví dụ, theo một cuộc khảo sát đối với Liên minh châu Âu, ước tính chi phí liên quan đến các quy định là 8,6 tỷ EUR từ năm 2010 đến năm 2015 (Pukropski và cộng sự, 2013). Các danh mục dự án của nhiều ngân hàng chiếm hơn 50% chi phí liên quan các quy định. Các lĩnh vực đóng góp nhiều tác động pháp lý nhất là kiểm soát/quản lý rủi ro (56%), tuân thủ (54%), tài chính doanh nghiệp (52%), sửa đổi nội bộ (32%) và CNTT/tổ chức (27%). Mặc dù CNTT/tổ chức chỉ bị ảnh hưởng 27%, nhưng số tiền đầu tư tuyệt đối là cao nhất trong tất cả các lĩnh vực nói trên vì quy trình và CNTT là thành phần của tất cả các lĩnh vực khác. Việc đáp ứng của hệ thống với các yêu cầu của quy định mới được coi là ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng (Crosby et al., 2013).
 
(2) Tăng cường phân cấp: Nhiều ngân hàng vẫn chưa chuyển đổi mô hình hoạt động của mình từ chuỗi giá trị tích hợp theo chiều dọc sang các mô hình phân rã, linh hoạt hơn như hiện nay, chẳng hạn như trong ngành ô tô. Một thước đo chính để đánh giá mức độ chuyên môn hóa là mức độ sản xuất nội bộ liên quan đến việc tạo ra giá trị tổng thể. Mặc dù không nhìn thấy năng lực cốt lõi trong các quy trình hỗ trợ và giao dịch, các ngân hàng vẫn thể hiện mức độ sản xuất nội bộ cao trong các lĩnh vực này. Ví dụ, các ngân hàng trực tiếp có mức sản xuất nội bộ trung bình là 50%, các ngân hàng nhỏ là 80% và các ngân hàng lớn là 70%. Một xu hướng chính là các dịch vụ không chỉ bắt nguồn từ các mối quan hệ cung ứng song phương, mà có xu hướng trở nên nhỏ hơn về độ chi tiết của chúng (Malone và cộng sự, 2011). Xu hướng “siêu chuyên môn hóa” này dẫn đến các mô hình tìm nguồn cung ứng hoàn toàn mới, chẳng hạn như nguồn cung ứng cộng đồng được kích hoạt thông qua các thị trường dịch vụ điện tử. Công ty Local Motors, Hoa Kỳ, một nhà cung cấp cho BMW, chỉ sử dụng 100 công nhân, trong khi có 40.000 nhà phát triển khác được sử dụng cung cấp cho các nhiệm vụ khác nhau.
 
(3) Tăng cường công nghiệp hóa: Thuật ngữ công nghiệp hóa bắt nguồn từ việc chuyển đổi xã hội từ nông nghiệp sang công nghiệp và tiếp tục phát triển với chủ nghĩa Taylor2. Nguyên tắc cơ bản là có thể đạt được hiệu quả cao thông qua việc xác định các hoạt động nhỏ, được tiến hành tương tự như những hoạt động mà Henry Ford (người sáng lập Công ty Ford Motor) đã giới thiệu với cách tiếp cận sản xuất hàng loạt đối với dây chuyền lắp ráp ô tô. Theo thời gian, công nghiệp hóa được bổ sung với các nguyên tắc khác, chẳng hạn như tiêu chuẩn hóa, tự động hóa và định hướng chất lượng. Việc áp dụng các nguyên tắc đó vào các ngành dịch vụ đang ngày càng phát triển, vì việc tiêu chuẩn hóa các dịch vụ, chẳng hạn như các sản phẩm ngân hàng, vẫn chưa chín muồi như những chiếc đinh vít được sử dụng trong xe hơi. Tuy nhiên, ngành công nghiệp phần mềm trong những năm gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc áp dụng các cơ chế công nghiệp hóa vào ngành Ngân hàng. Ví dụ, một cuộc khảo sát đã xác định được 700 quy trình đầu cuối (end - to - end) trong các ngân hàng, trong đó khoảng một nửa có thể được tự động hóa hoàn toàn (Hirt và Willmott, 2014). Các dịch vụ như vậy đã được cung cấp thông qua các cửa hàng ứng dụng doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) như DNA App Store hoặc Yodlee ở Hoa Kỳ. Các công ty này cung cấp thị trường dịch vụ điện tử cho các ngân hàng và là nhà cung cấp nơi các ngân hàng có thể tùy chỉnh dịch vụ của họ.
 
Hiệu quả hoạt động sẽ trở thành nguồn lợi thế cạnh tranh quan trọng của các ngân hàng trong tương lai. Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến kết quả cao trong hoạt động và chứng minh sự bền vững của các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới lấy khách hàng làm trung tâm. Điều này đang đặt ra những câu hỏi cho các nhà quản lý và điều hành về mô hình hoạt động của ngân hàng trong thời gian tới: (i) Mức độ ứng dụng tối đa các thông lệ tốt nhất trong công nghiệp hóa tại các ngành sản xuất hàng hóa vật chất vào trong lĩnh vực ngân hàng là bao nhiêu để áp dụng vào việc xây dựng các mô hình hoạt động của ngân hàng trong tương lai dựa trên các quy trình và dịch vụ được công nghiệp hóa? (ii) Làm thế nào để các dịch vụ có thể được chia thành nhiều phần chi tiết hơn và những mô hình tìm nguồn cung ứng mới nào có thể được áp dụng để các dịch vụ được tạo nguồn ở cấp độ của các nhiệm vụ đơn lẻ (siêu chuyên môn hóa) cho phép các mô hình tìm nguồn cung ứng sáng tạo? 
 
(iii) Làm thế nào các quy trình ngân hàng và cấu ​​trúc ứng dụng (ngân hàng lõi) của nhiều nhà cung cấp có thể được chuẩn hóa để đáp ứng các yêu cầu công nghiệp hóa và cho phép các mô hình tìm nguồn cung ứng linh hoạt?
 
Sự phát triển đó có thể dẫn đến việc tổ chức lại toàn bộ hệ thống ngân hàng các quốc gia và toàn cầu hiện có. Các hệ quả đối với ngành Ngân hàng có thể được cấu trúc theo cấp độ đổi mới (gia tăng so với đột phá) và các quy trình ngân hàng lõi (hỗ trợ so với kinh doanh trực tiếp) và có khả năng dẫn đến những mô hình mới cho các ngân hàng.
 
Mặc dù sự chuyển đổi trong ngành Ngân hàng đặt ra những thách thức lớn đối với hiện trạng, nhưng nó chứa đựng nhiều cơ hội cho những tổ chức phải đối mặt với sự chuyển đổi này. Đến nay, vẫn có nhiều người xem Fintech chỉ như là “hệ thống chuyển động” mới, tương tự như sự thay đổi từ video ghi âm sang video youtube. Nhưng như lịch sử đã chỉ ra, việc chuyển đổi sang cơ sở hạ tầng mới thường hay dẫn đến việc cơ cấu lại cơ bản hiện trạng. Không phụ thuộc vào bất kỳ thành công hay thất bại nào của các ngân hàng đơn lẻ, sự chuyển đổi của Ngành đang dẫn đến thay đổi về chất như một phần cốt lõi của nền kinh tế toàn cầu ngày nay. Do đó, việc đầu tư nhiều hơn nữa vào việc nghiên cứu về hệ thống tài chính phát triển trong tương lai là rất cần thiết.
 
 
1 Điểm cơ bản = 1/100 của 1%.
Taylorism: Quản lý theo khoa học là lý thuyết quản lý dựa trên quá trình phân tích, tổng hợp các quy trình công việc nhằm nâng cao năng suất lao động.

Dương Quốc Anh 
Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
24/11/2022 231 lượt xem
Sự phát triển của công nghệ số đang dần làm thay đổi cơ bản các hình thức cung ứng dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước đã triển khai ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến vào hoạt động ngân hàng như: AI, ML, Cloud Computing, Big Data, IoT để đánh giá, phân loại khách hàng và quyết định giải ngân hay giúp đơn giản hóa các quy trình, thủ tục và rút ngắn thời gian giao dịch.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Hoàn thiện và đồng bộ về pháp lý để tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Hoàn thiện và đồng bộ về pháp lý để tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn
21/11/2022 299 lượt xem
Trong chương trình chuyển đổi số giai đoạn hiện nay, bên cạnh một số thách thức như vốn đầu tư cho công nghệ, nhân sự, an ninh, bảo mật, ngành Ngân hàng đang gặp khó khăn về hành lang pháp lý do còn thiếu và chưa đồng bộ. Do đó, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách tạo điều kiện cho chia sẻ dữ liệu, kết nối giữa các bộ, ngành liên quan với ngành Ngân hàng một cách an toàn, hiệu quả, đảm bảo mang lại lợi ích cho toàn dân.
Về điều kiện phát triển Mobile-Money ở Việt Nam hiện nay
Về điều kiện phát triển Mobile-Money ở Việt Nam hiện nay
17/11/2022 397 lượt xem
Sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển nhanh chóng của nhiều phương thức thanh toán điện tử. Một trong những phương thức thanh toán điện tử đang được sử dụng rộng khắp trên thế giới và có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay là Mobile-Money.
Lịch sử công nghệ kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng
Lịch sử công nghệ kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng
16/11/2022 426 lượt xem
Công nghệ số, chuyển đổi số là những cụm từ được nhắc tới nhiều nhất trong thời gian gần đây bởi những tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống và xã hội. Trong đó, ngành Ngân hàng là một trong những ngành đón nhận nhiều cơ hội như giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện quy trình…
Nhận diện rủi ro đối với hoạt động định danh khách hàng điện tử (eKYC) trong hoạt động ngân hàng
Nhận diện rủi ro đối với hoạt động định danh khách hàng điện tử (eKYC) trong hoạt động ngân hàng
08/11/2022 797 lượt xem
Tại Việt Nam, trước khi cơ sở pháp lý chính thức cho eKYC trong việc mở tài khoản thanh toán được ban hành (Thông tư số 16/2020/TT-NHNN ngày 04/12/2020 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Thống đốc NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán), ngành Ngân hàng đã lần lượt ứng dụng eKYC vào quy trình nhận biết khách hàng và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính.
Tác động của độ bảo mật tới ý định sử dụng ngân hàng di động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác động của độ bảo mật tới ý định sử dụng ngân hàng di động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
26/10/2022 1.080 lượt xem
Khi việc sử dụng ngân hàng di động tiếp tục phát triển, cần phải chú ý đến tính bảo mật của các giao dịch tài chính. Mục đích của nghiên cứu này là xem xét tác động của độ bảo mật đối với ý định sử dụng ngân hàng di động.
Tiền di động - Một năm nhìn lại
Tiền di động - Một năm nhìn lại
25/10/2022 1.131 lượt xem
Cung cấp dịch vụ tài chính vi mô là một trong những hỗ trợ giúp cho người có thu nhập thấp thoát nghèo. Tuy nhiên, người có thu nhập thấp thường sống xa trung tâm, do vậy chi phí tiếp cận với các dịch vụ tài chính khá cao, cơ hội tiếp cận giảm đi. Nhiều nghiên cứu cho rằng, phát triển dịch vụ ngân hàng qua điện thoại mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng, đặc biệt là người sử dụng tài chính vi mô ở nhiều nước (Vong et al., 2012; Kumar, McKay & Rotman, 2010).
An toàn, bảo mật thông tin tài khoản của khách hàng - Nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trong cung cấp dịch vụ
An toàn, bảo mật thông tin tài khoản của khách hàng - Nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trong cung cấp dịch vụ
13/10/2022 1.505 lượt xem
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến cuối tháng 6/2022, có gần 5,5 triệu tài khoản mở bằng phương thức trực tuyến (eKYC) đang hoạt động, gần 8,9 triệu thẻ mở bằng eKYC đang lưu hành và khoảng 123 triệu tài khoản thanh toán. Với sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán điện tử cũng tăng trưởng mạnh mẽ.
Pháp luật về chuyển đổi số ngành Ngân hàng và định hướng hoàn thiện
Pháp luật về chuyển đổi số ngành Ngân hàng và định hướng hoàn thiện
11/10/2022 1.880 lượt xem
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với sự kết hợp của công nghệ số đã và đang tác động lớn đến lĩnh vực ngân hàng. Theo đó, chuyển đổi số đang dần trở thành một xu hướng tất yếu của các ngân hàng, mang đến cho ngành Ngân hàng nhiều cơ hội chuyển mình nhưng cũng đặt ra không ít thách thức.
Bảo mật truyền thông IoT qua mạng di động trong hệ thống ngân hàng số
Bảo mật truyền thông IoT qua mạng di động trong hệ thống ngân hàng số
03/10/2022 1.740 lượt xem
Internet vạn vật (Internet of Things - IoT) là một trong các công nghệ hiện đại, đặc trưng cho kỷ nguyên của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Thúc đẩy chuyển đổi số hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn
Thúc đẩy chuyển đổi số hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn
01/10/2022 1.763 lượt xem
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, mở ra nhiều cơ hội cũng như đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Chuyển đổi số ngày càng trở nên quan trọng, trở thành vấn đề sống còn trong kỷ nguyên 4.0 đang phát triển không ngừng, đó không phải là sự lựa chọn mà là điều cần thiết để duy trì, cạnh tranh trên thị trường. Đảng và Chính phủ ta đã xác định chuyển đổi số là một chủ trương lớn, là hướng đi tất yếu để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chuyển đổi ngân hàng số trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số khuyến nghị
Chuyển đổi ngân hàng số trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số khuyến nghị
21/09/2022 2.553 lượt xem
Trong nhiều năm trở lại đây, ngành công nghệ thông tin thực sự đã len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống xã hội nhờ sự phát triển bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Bất kể một lĩnh vực hay ngành, nghề nào đều ứng dụng công nghệ thông tin, lĩnh vực ngân hàng cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đã và đang phục hồi từ đại dịch Covid-19, việc áp dụng công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
Chuyển đổi số ngành tài chính - ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh hậu Covid-19
Chuyển đổi số ngành tài chính - ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh hậu Covid-19
01/09/2022 4.271 lượt xem
Chuyển đổi số trong ngành tài chính - ngân hàng được xem là hệ quả tất yếu từ sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) cũng như sự tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19 trong bối cảnh hiện nay.
Chuyển đổi số đối với các tổ chức tín dụng là hợp tác xã - Thực trạng và vấn đề đặt ra
Chuyển đổi số đối với các tổ chức tín dụng là hợp tác xã - Thực trạng và vấn đề đặt ra
17/08/2022 2.550 lượt xem
Bài viết này tập trung đánh giá về thực trạng chuyển đổi số của các tổ chức tín dụng (TCTD) là hợp tác xã, đặt trong bối cảnh chung về chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại, để thấy rõ hơn mức độ chuyển đổi số của các TCTD là hợp tác xã.
Ngân hàng trong bối cảnh đột phá công nghệ số
Ngân hàng trong bối cảnh đột phá công nghệ số
12/08/2022 3.600 lượt xem
Trong bối cảnh đột phá công nghệ số, số lượng thông tin có thể mã hóa và các công cụ có sẵn để xử lý thông tin đã tăng đáng kể. Các công ty công nghệ tài chính (Fintech) là những người chơi mới trên thị trường lại có thế mạnh trong xử lý dữ liệu lớn và các công ty này cũng có tham vọng cung cấp các dịch vụ tài chính vốn là dịch vụ truyền thống và thế mạnh của ngân hàng.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.520

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.500

Vàng SJC 5c

66.500

67.520

Vàng nhẫn 9999

53.000

54.000

Vàng nữ trang 9999

52.800

53.600


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.627 24.857 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.655 24.855 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.645 24.856 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.855 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.855 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.620 24.857 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.700 24.853 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.855 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.857 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?