Triển vọng thu hút FDI sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden
14/09/2023 4.502 lượt xem
1. Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam

Theo Tổng cục Thống kê, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng kí vào Việt Nam tính đến ngày 20/8/2023 bao gồm: Vốn đăng kí cấp mới, vốn đăng kí điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 18,15 tỉ USD, tăng 8,2% so với cùng kì năm trước. FDI thực hiện tại Việt Nam 8 tháng đầu năm 2023 đạt khoảng 13,1 tỉ USD, tăng 1,3% so với cùng kì năm trước. Nếu tính riêng 6 tháng đầu năm 2023, tổng vốn đăng kí cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt hơn 13,4 tỉ USD (bằng 95,7% so với cùng kì năm trước). Vốn thực hiện của dự án đạt khoảng 10 tỉ USD (tăng 0,5%).

Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 29,3%) và điều chỉnh vốn (chiếm 54,6%). Bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về số giao dịch góp vốn, mua cổ phần (chiếm 42,8%).  

Trong số 90 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, so với cùng kì năm 2022, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 3 tỉ USD, chiếm hơn 22,3% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, giảm 27,5%; Nhật Bản đứng thứ 2, với gần 2,21 tỉ USD, chiếm 16,4% tổng vốn đầu tư, gấp gần 2,1 lần; Trung Quốc đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng kí hơn 1,95 tỉ USD, chiếm 14,5% tổng vốn đầu tư, tăng 53,5%; tiếp theo danh sách là Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan...  Xét về số dự án, Trung Quốc dẫn đầu cả về số dự án mới (chiếm 18%). Hàn Quốc dẫn đầu về số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 26,4%) và góp vốn, mua cổ phần (chiếm 28,9%).

Trong số 52 tỉnh, thành phố trên cả nước có FDI mới, Hà Nội dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng kí gần 2,27 tỉ USD, chiếm gần 16,7% tổng vốn đầu tư đăng kí và tăng gấp hơn 3 lần so với cùng kì năm 2022. Thành phố Hồ Chí Minh xếp thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng kí hơn 1,39 tỉ USD, chiếm gần 10,4% tổng vốn đầu tư cả nước, giảm 37,1% so với cùng kì năm 2022; tiếp theo lần lượt là các địa phương: Bắc Giang, Bình Dương, Hải Phòng… Nếu xét về số dự án, thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (38,9%), số lượt dự án điều chỉnh (24,9%) và góp vốn, mua cổ phần (65,4%).

Như vậy, Việt Nam hiện có 37.541 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng kí là 449,5 tỉ USD. Vốn thực hiện lũy kế là hơn 284 tỉ USD, bằng 63,2% tổng vốn FDI đăng kí còn hiệu lực.

Tính đến nay, Việt Nam đã thu hút FDI từ 142 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, chủ yếu đến từ khu vực Đông Á, cụ thể: Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore; dòng vốn FDI đến từ châu Âu và Bắc Mỹ vẫn còn rất khiêm tốn. FDI đã phát huy tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Các doanh nghiệp FDI đóng góp khoảng 7,5 - 8,5% tổng số thu ngân sách nội địa từ nguồn thuế thu nhập doanh nghiệp và chiếm khoảng 39 - 41% tổng số thu thuế thu nhập doanh nghiệp cả nước trong 3 năm từ 2020 - 2022; luôn chiếm tới trên 70% tổng giá trị xuất khẩu và khoảng 50% sản lượng công nghiệp hàng năm; thúc đẩy môi trường kinh tế năng động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và một số ngành công nghiệp khác, giúp đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất các sản phẩm chứa hàm lượng chất xám cao, cũng như giá trị hàng nông sản xuất khẩu.

Tính tới ngày 20/6/2023, xuất khẩu (kể cả dầu thô) của khu vực FDI đạt khoảng 120,44 tỉ USD, giảm 12,7% so với cùng kì năm 2022, chiếm 73,6% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu (không kể dầu thô) đạt gần 119,51 tỉ USD, giảm 12,7%, chiếm 73% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhập khẩu của khu vực FDI đạt gần 99,53 tỉ USD, giảm 17,3% so cùng kì năm 2022 và chiếm 65% kim ngạch nhập khẩu cả nước. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu giảm trong 6 tháng đầu năm 2023, khu vực đầu tư nước ngoài vẫn xuất siêu hơn 20,9 tỉ USD kể cả dầu thô và xuất siêu gần 20 tỉ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu gần 10,3 tỉ USD.

FDI tiếp tục góp phần quan trọng đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất mới và trung tâm sản xuất công nghệ của thế giới. Trong giai đoạn 2016 - 2020, FDI nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện của Việt Nam tăng trưởng bình quân khoảng 23,8%, đưa Việt Nam từ vị trí 47 năm 2001 lên vị trí 12 thế giới và thứ 3 khu vực ASEAN về xuất khẩu điện tử. Nhiều tập đoàn đa quốc gia đã dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu từ một số nước sang Việt Nam và đầu tư nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, thành lập hàng chục trung tâm nghiên cứu và phát triển (Research and Development - R&D), trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ, liên kết thành công với doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa... Điển hình là các khoản đầu tư quy mô lớn của Samsung, Pegatron, Foxconn, Luxshare, Goertek, Google, LG, Quanta Computer (Đài Loan - Trung Quốc), Lego (Đan Mạch), Intel và một số nhà đầu tư nước ngoài khác, trong đó, Apple bắt đầu sản xuất iPad, Macbook; LG thông báo đầu tư thêm 04 tỉ USD để sản xuất camera cho điện thoại di động… Đây cũng là cơ sở để Việt Nam trong thời gian tới có thêm nhiều cơ hội phát triển doanh nghiệp, đất nước, nâng cao hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từ những nền tảng hiện có về giáo dục, khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng công nghệ, công nghiệp chế biến, chế tạo...

Tuy nhiên, tác động của FDI trong việc cải tiến khoa học - công nghệ vẫn tồn tại một số hạn chế. Tuổi đời của công nghệ được sử dụng chủ yếu là công nghệ ra đời từ năm 2000 đến năm 2005 và phần lớn những công nghệ này là công nghệ trung bình hoặc trung bình tiên tiến của khu vực; các doanh nghiệp FDI chưa tập trung nhiều nguồn lực cho các hoạt động R&D. Đặc biệt, hiện tượng chuyển giá, trốn thuế và nhiều sự cố môi trường xảy ra do hoạt động xả thải của các doanh nghiệp FDI trong những năm qua là những bằng chứng cho thấy tác động mặt trái, tiêu cực của việc thu hút FDI ở Việt Nam.
 
FDI được kì vọng là kênh quan trọng để Việt Nam nhanh chóng tiếp thu công nghệ tiên tiến trên thế giới
(Nguồn ảnh: Internet) 

2. Triển vọng thu hút FDI vào Việt Nam và một số giải pháp

Việt Nam là nước có nhiều triển vọng và lợi thế trong cạnh tranh thu hút FDI với những yếu tố nền tảng như: Sự ổn định chính trị, vị trí địa lí và cơ sở hạ tầng, chính sách ưu đãi hấp dẫn và có mức tăng trưởng cao; có quy mô dân số tăng nhanh và đội ngũ nhân lực đang được cải thiện về chất lượng. Ngành sản xuất ở Việt Nam tiếp tục được mở rộng, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao. Ngoài ra, môi trường kinh tế đối ngoại của Việt Nam ngày càng được cải thiện với hơn 17 Hiệp định Thương mại tự do quốc tế đã được kí kết, bao gồm cả với Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Anh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế số của Việt Nam đang bùng nổ, đứng đầu khu vực Đông Nam Á với 1.400 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ nước ngoài.

Theo “Báo cáo đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam năm 2022” do Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) công bố tháng 02/2023, có tới 68,5% doanh nghiệp FDI cho rằng, Việt Nam có những yếu tố thuận lợi hơn so với các quốc gia khác để đưa ra quyết định đầu tư. Tuy nhiên, những thủ tục hành chính, chất lượng kết cấu hạ tầng, dịch vụ công vẫn là những vấn đề còn tồn tại, cần được khắc phục để Việt Nam thực sự hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa.

Ngày 12/01/2023, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố Chỉ số Môi trường kinh doanh (BCI). Theo đó, khoảng 35% trong số 1.300 thành viên của EuroCham được hỏi cho rằng, Việt Nam thuộc top 5 điểm đến đầu tư toàn cầu hàng đầu; 12% cho rằng, Việt Nam là điểm đầu tư quốc tế hàng đầu của công ty họ. Dù vậy, vẫn còn một số rào cản để doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, trong đó, ba rào cản về pháp lí lớn nhất đối với các công ty nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được xác định là: Thiếu rõ ràng về các quy tắc và quy định (51%), khó khăn hành chính (41%), khó khăn về thị thực và giấy phép lao động (30%).

Theo kết quả khảo sát mới nhất năm 2023 của Phòng Công nghiệp và Thương mại Đức tại Việt Nam (AHK Việt Nam), 88% số người tham gia khảo sát tự tin với tình hình kinh doanh của họ tại Việt Nam; 91% các nhà đầu tư của Đức mong muốn tiếp tục đầu tư hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam và khoảng 40% trong số này có kế hoạch bổ sung lực lượng lao động trong 12 tháng tới. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, các doanh nghiệp vẫn còn quan ngại về chính sách phát triển kinh tế, thiếu hụt lao động có tay nghề và nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng, lạm phát, xu hướng tách rời sự phụ thuộc của các nền kinh tế lớn và sự ảnh hưởng chính trị ngày càng gia tăng đối với chuỗi cung ứng, nhu cầu toàn cầu thấp.

Bên cạnh đó, sự cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt trong khu vực đang làm xuất hiện xu hướng dịch chuyển một phần nào đó dòng chảy FDI (trước hết là trong lĩnh vực dệt may và da giầy) từ Việt Nam sang các nước khác, vì nhiều lí do, trong đó có tình trạng giảm sức cạnh tranh do lương công nhân và sự thua kém về đáp ứng yêu cầu xuất xanh và phát thải ròng carbon bằng “0” trong chuỗi cung ứng.

 Hơn nữa, viễn cảnh FDI toàn cầu ngày càng “phân mảnh” sâu sắc theo các khối liên minh. Nói cách khác, dấu ấn địa lí của FDI tỉ lệ thuận với xu hướng liên kết địa chính trị hiện nay, thể hiện qua tỉ trọng FDI giữa các nền kinh tế có liên kết địa chính trị đã không ngừng tăng lên, vượt trội so với tỉ trọng FDI giữa các nước gần gũi thuần túy về mặt địa lí.

Theo tinh thần Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 và Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài mà Chính phủ đã ban hành, giai đoạn 2021 - 2030, Việt Nam sẽ coi trọng thu hút các dự án công nghệ cao, quản trị hiện đại, giá trị gia tăng cao và có tác động lan tỏa tích cực, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, trực tiếp hỗ trợ quá trình thực hiện chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam. Việt Nam cũng đặt mục tiêu đến năm 2025 duy trì xếp hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc 03 nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030 duy trì xếp hạng về chỉ số GII thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới; tầm nhìn đến năm 2045, trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á… Định hướng này sẽ chi phối chính sách tác động đến dòng FDI tương lai vào Việt Nam.

Đặc biệt, sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden từ ngày 10 - 11/9/2023, triển vọng thu hút FDI vào Việt Nam nhận được nhiều xung lực mới mạnh mẽ, tích cực.

Năm 1994, khi Mỹ chính thức gỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam, trong suốt 30 năm qua, mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Mỹ phát triển sâu rộng, hiệu quả và thực chất trên cả ba bình diện: Song phương, khu vực và quốc tế, với những lĩnh vực hợp tác chủ chốt bao gồm chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, môi trường - y tế tới giải quyết hậu quả chiến tranh, quốc phòng - an ninh, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và văn hóa - du lịch - thể thao; trong đó, quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư là điểm sáng nổi bật, thành công nhất, trở thành trọng tâm, nền tảng vật chất, động lực phát triển mạnh mẽ cho quan hệ chung giữa hai nước. Năm 2022, Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn thứ 2 và là thị trường xuất khẩu lớn nhất (chiếm tỉ trọng 20% trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước) và cũng là thị trường xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam vượt mốc 100 tỉ USD. Giai đoạn 2020 - 2022, Mỹ vẫn duy trì vị thế là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Việt Nam tiếp tục vươn lên, trở thành đối tác thương mại lớn thứ 7 của Mỹ. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Mỹ năm 2022 là 123 tỉ USD, tăng gấp 4 lần so với năm 2013 và tăng tới 273 lần so với 450 triệu USD vào năm 1994. Việt Nam liên tục duy trì được thặng dư thương mại 2 con số với Mỹ trong nhiều năm qua.

Mỹ luôn là một trong những đối tác có đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, hiện đang xếp thứ 11/142 quốc gia, vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam với 1.223 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng kí hơn 11,4 tỉ USD. Nhiều đoàn doanh nghiệp rất lớn của Mỹ đã đến Việt Nam và đưa ra thông điệp đáng tin cậy về xu hướng các doanh nghiệp Mỹ đang hoạt động và sẽ tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam như: Tập đoàn General Electric (GE), hãng Intel, Nike Exxon Mobile, Amazon, Cocacola, Google, Facebook, Paypal, Visa... Đến nay, đã xuất hiện xu hướng rõ nét việc các Tập đoàn lớn của Mỹ như Intel, Apple, Google, Boeing, Walmart… nghiên cứu, đầu tư mở rộng chuỗi cung ứng tại Việt Nam nhằm đảm bảo tính ổn định trong dài hạn của toàn chuỗi. Nhiều công ty của Mỹ đang hợp tác, hỗ trợ Việt Nam để đạt được mục tiêu xóa bỏ “dấu chân carbon”, góp phần cung cấp cho Việt Nam nguồn nhân lực có kĩ thuật cao và xây dựng các khu công nghiệp carbon thấp. Nhiều doanh nghiệp mới của Mỹ cũng rất quan tâm và mong muốn đầu tư vào Việt Nam. Thời gian tới, AmCham sẽ hỗ trợ Việt Nam thực hiện các cam kết về biến đổi khí hậu đưa ra tại Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26).

Mối quan hệ đầu tư Việt Nam - Mỹ đang có thêm động lực bổ sung tích cực từ các sự kiện kinh tế đối ngoại mới của Việt Nam như: Ngày 27/5/2023, các Bộ trưởng thương mại của Việt Nam, Mỹ và 12 đối tác khác trong khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vì Thịnh vượng (IPEF) đã công bố kết thúc đàm phán về Thỏa thuận chuỗi cung ứng IPEF quốc tế đầu tiên. Thỏa thuận được đề xuất nhằm mục đích tăng cường khả năng phục hồi, hiệu quả, năng suất, tính bền vững, minh bạch, đa dạng hóa, an ninh, công bằng và tính toàn diện của chuỗi cung ứng thông qua cả các hoạt động hợp tác và hành động riêng lẻ được thực hiện bởi từng đối tác IPEF...

Thực tế cho thấy, quan hệ Việt Nam - Mỹ nói chung và kinh tế - thương mại - đầu tư giữa hai nước nói riêng ngày càng phát triển nhờ sự chia sẻ những lợi ích ngày càng rộng lớn; với tinh thần “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai” và thái độ đối thoại chân thành, thẳng thắn, xây dựng từ cả hai phía, dựa trên những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; đồng thời, được đặt trong tổng thể chính sách đối ngoại của Việt Nam là rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, hội nhập sâu rộng với thế giới, coi trọng quan hệ với các nước lớn, các đối tác quan trọng, cũng như của nhiều tổ chức, diễn đàn hợp tác khác.

Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ mở ra cơ hội mới về thu hút FDI vào Việt Nam dựa trên những kết quả đột phá mà hai nước Việt Nam - Mỹ đạt được trong quan hệ song phương được ghi nhận trong Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo hai nước đã đưa ra ngày 11/9/2023, trong đó khẳng định: Mỹ ủng hộ một nước Việt Nam mạnh, độc lập, thịnh vượng và tự cường. Quan hệ Việt Nam - Mỹ được nâng cấp lên “Đối tác chiến lược toàn diện” trên cơ sở các nguyên tắc nền tảng, bao gồm tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Hai bên tiếp tục các quan hệ hợp tác giữa các chính đảng và các cơ quan lập pháp hai nước, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, xây dựng và củng cố lòng tin chính trị; phối hợp và triển khai hiệu quả các chương trình hợp tác mà hai bên đã nhất trí; tạo điều kiện thuận lợi và mở cửa thị trường hơn nữa cho hàng hóa, dịch vụ của mỗi nước, hỗ trợ chính sách thương mại, kinh tế và các biện pháp theo quy định để đạt được mục tiêu trên; cùng nhau giải quyết các vấn đề như rào cản tiếp cận thị trường thông qua Hiệp định Khung về thương mại và đầu tư; tiếp tục củng cố hệ thống thương mại đa phương không phân biệt đối xử, công bằng, bình đẳng, minh bạch, dựa trên luật lệ quốc tế, trong đó Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đóng vai trò nòng cốt.

Mỹ hoan nghênh, ủng hộ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và tiến tới công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam. Mỹ cam kết tăng cường hỗ trợ Việt Nam về sản xuất, phát triển hạ tầng vật chất và hạ tầng số chất lượng cao, chuyển đổi năng lượng công bằng, nông nghiệp bền vững và thông minh, cũng như hỗ trợ Việt Nam tham gia sâu rộng, bền vững vào các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, trong đó có việc chú trọng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam; đẩy mạnh hợp tác về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực số, coi đây là đột phá mới của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện. Mỹ cam kết tăng cường hỗ trợ Việt Nam đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và lực lượng lao động công nghệ cao, phát triển nhanh chóng của hệ sinh thái bán dẫn tại Việt Nam và nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung bán dẫn toàn cầu; thúc đẩy hạ tầng số an toàn và tin cậy. Đồng thời, cam kết hỗ trợ cả về tài chính và công nghệ tiên tiến để giúp Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về khí hậu, thích ứng liên ngành với biến đổi khí hậu; giảm ô nhiễm và hỗ trợ tự nguyện về kĩ thuật liên quan đến việc hiện đại hóa hạ tầng truyền tải điện, tích hợp năng lượng tái tạo, phát triển thị trường khí hậu, giải pháp lưu trữ năng lượng và cải thiện khuôn khổ pháp lí cho phép chuyển đổi năng lượng kịp thời và công bằng; thúc đẩy nền nông nghiệp phát thải thấp và có sức chống chịu trước biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm ô nhiễm. Hỗ trợ các chương trình ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh HIV và lao phổi, phát triển ngành dược; thúc đẩy quan hệ giữa các cộng đồng, các ngành, doanh nghiệp, giữa thế hệ trẻ, tổ chức nhân dân hai nước; thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật và tư pháp hình sự, an ninh tình báo; phối hợp, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả hợp tác hàng hải và công tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, nạn cướp biển, rửa tiền, nạn mua bán người, buôn bán trái phép chất ma túy và tiền chất ma túy, tội phạm mạng và tội phạm công nghệ cao; thiết lập cơ chế Đối thoại An ninh và thực thi pháp luật giữa các cơ quan thực thi pháp luật, an ninh và tình báo có liên quan. Hai nước lên án hành vi khủng bố và bạo lực cực đoan dưới mọi hình thức và mong muốn hợp tác chống khủng bố cũng như hoạt động cung cấp tài chính cho các tổ chức khủng bố, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các thỏa thuận quốc tế liên quan khác mà hai nước là thành viên; tăng cường hợp tác nhằm thúc đẩy thương mại quốc phòng, công nghiệp quốc phòng; thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, phù hợp với hiến pháp của mỗi nước và các cam kết quốc tế; tăng cường phối hợp trong các vấn đề khu vực và toàn cầu mà hai bên cùng có lợi ích và quan tâm, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên hợp quốc và thúc đẩy một cấu trúc khu vực mở, bao trùm với vai trò trung tâm của ASEAN; ủng hộ nhất quán việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, cũng như tự do hàng hải và hàng không, thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mỗi quốc gia, phù hợp với luật biển quốc tế được thể hiện trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982); thực hiện đầy đủ và hiệu quả toàn bộ Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông năm 2002 và tái khẳng định ủng hộ các nỗ lực của ASEAN nhằm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông hiệu lực và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982 và không ảnh hưởng tới các quyền của bất cứ quốc gia nào theo luật pháp quốc tế...

Với tinh thần đó, có thể nói, chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden có ý nghĩa rất quan trọng trong việc củng cố hơn nữa mối quan hệ Việt Nam - Mỹ; đồng thời, tạo nền tảng toàn diện và cải thiện môi trường kinh doanh thúc đẩy hợp tác song phương, đặc biệt là đầu tư từ Mỹ và kéo theo làn sóng FDI của doanh nghiệp phương Tây với trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến hàng đầu thế giới đầu tư vào Việt Nam.

Việc nâng tầm quan hệ hai nước lên Đối tác chiến lược toàn diện, cũng như việc Mỹ sẽ tiến tới công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam theo luật của Mỹ là những trụ cột vững chắc mới, củng cố niềm tin của doanh nghiệp với chính phủ, giữa chính phủ với chính phủ và giữa nhân dân hai nước, củng cố cơ sở và động lực, cơ hội mới thúc đẩy hợp tác giữa hai bên, trong đó có hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư, và giúp nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam so với các quốc gia khác, giúp Việt Nam trở thành một trung tâm thu hút đầu tư hàng đầu ở khu vực và trên thế giới, trong đó có các dòng FDI từ các đối tác hàng đầu nắm giữ công nghệ nguồn, có sức mạnh tài chính và chiến lược đầu tư lâu dài vào Việt Nam.

Để khai thác các cơ hội mới và hiện thực hóa các kì vọng thu hút FDI trong thời gian tới, sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden, Việt Nam cần tập trung triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, bên cạnh yêu cầu bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, kinh tế vĩ mô, vị thế và năng lực cạnh tranh môi trường kinh doanh quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cấp chính sách thu hút và sử dụng FDI,  hiện đại hóa hạ tầng kinh tế - xã hội và đẩy mạnh cải cách hành chính quốc gia, phát triển nguồn nhân lực và hệ sinh thái về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo với cơ chế quản lí linh hoạt; cải thiện môi trường kinh doanh phù hợp với yêu cầu và tạo thuận lợi cho cho các tập đoàn lớn có thể đầu tư lâu dài vào các lĩnh vực ưu tiên, nhằm hướng mạnh FDI vào tăng trưởng xanh, chuyển đổi số và kết nối chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp FDI, nhất là các tập đoàn xuyên quốc gia lớn.

Theo đó, cần xác định lại các lợi thế cạnh tranh của nước ta trong giai đoạn mới, không chỉ dựa vào giá nhân công rẻ, nguồn lao động dồi dào, mà còn là các yếu tố mới, như sức hấp dẫn và sự minh bạch của môi trường đầu tư theo hướng đơn giản hóa, số hóa và hợp lí hóa các thủ tục hành chính, mức độ làm quen với các dự án công nghệ và yêu cầu bảo hộ sở hữu trí tuệ, nguồn gốc xuất xứ; phát triển cơ sở hạ tầng; coi trọng yêu cầu bảo vệ và thân thiện với môi trường; nâng cao chất lượng lực lượng lao động lành nghề và năng lực cạnh tranh của các nhà cung cấp địa phương trong chuỗi cung ứng toàn cầu, bao gồm cả về đất đai, nhân lực, hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ; xây dựng các quy định, tiêu chuẩn nhằm sàng lọc hiệu quả nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường và năng lực sản xuất tốt.

Trong bối cảnh thực thi chính sách thuế tối thiểu toàn cầu 15% theo trụ cột 2 của chương trình chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) từ năm 2024, Việt Nam cũng cần sớm nghiên cứu và triển khai các giải pháp hỗ trợ ngoài thuế cho doanh nghiệp FDI; trước hết là ưu đãi hơn về thời hạn visa doanh nghiệp, thủ tục và chi phí tuân thủ về cấp phép đầu tư, đăng kí thành lập doanh nghiệp, kiểm tra, giám sát hải quan, giá thuê đất khu công nghiệp, đào tạo lao động và dứt khoát loại bỏ các chi phí không chính thức.

Thứ hai, Việt Nam cần hình thành hệ sinh thái hỗ trợ thực chất chuỗi các nhà cung ứng nội địa nâng cao năng lực quản trị hiện đại, cải tiến liên tục (Kaizen)  và phát triển ổn định, bền vững, sản xuất sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn thế giới (như Mỹ, Anh, châu Âu…); nỗ lực phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt tiến tới cung ứng sản phẩm mang thương hiệu của mình để vừa có lợi nhuận cao, vừa nâng cao tinh thần tự tôn dân tộc, tự hào thương hiệu Việt.

Chính phủ Việt Nam cần chủ động phối hợp với chính phủ Mỹ và các nước khác trong việc sớm gỡ bỏ các rào cản liên quan đến hàng rào kĩ thuật, thủ tục pháp lí cho hoạt động hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư công bằng và mở rộng thị trường cho cả hai bên; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cộng đồng doanh nghiệp các bên kết nối kinh doanh và đầu tư hiệu quả, thành công tại Việt Nam, nhất là trong những lĩnh vực mà các nước chủ đầu tư có thế mạnh và Việt Nam đang mong muốn phát triển như: Công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, mạng viễn thông, bán dẫn, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và kinh tế xanh, kinh tế số, kết cấu hạ tầng, tài chính - ngân hàng, giáo dục đào tạo, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sáng tạo, ô tô, hàng không…

Thứ ba, các cơ quan chức năng và cộng đồng doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với nhau trong hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng hàng hóa, xây dựng thương hiệu, bảo đảm thông tin truy xuất nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa và phòng, chống các biểu hiện né tránh thuế và gian lận thương mại, cũng như bảo vệ những lợi ích chính đáng của doanh nghiệp trước các vụ điều tra, chống bán phá giá hay gian lận thương mại; xây dựng và tận dụng tốt hệ thống phân phối, triển khai hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại - đầu tư; tăng cường kết nối và phát huy sức mạnh cộng đồng, khát vọng hùng cường của cộng đồng doanh nhân và người Việt trong nước, cũng như đang sinh sống, kinh doanh ở nước ngoài để gắn kết sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu...

Nói chung, kể từ khi bình thường hóa quan hệ và thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện đến nay, Việt Nam - Mỹ đã tạo dựng được mối quan hệ bền vững, năng động và hiệu quả. Việt Nam - Mỹ đã hợp tác chặt chẽ với nhau trên hầu hết các lĩnh vực, hai nước xây dựng mối quan hệ hợp tác mạnh mẽ về đầu tư, thương mại, kinh tế, chống biến đổi khí hậu... Việt Nam - Mỹ là những đối tác thực sự cùng thúc đẩy lợi ích chung giữa hai nước và cùng vì lợi ích của người dân mỗi nước. Với Mỹ, Việt Nam luôn là một trong những mối quan hệ năng động nhất, quan trọng trong nhiều thập kỉ vừa qua và mối quan hệ này sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới. Phát triển quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư Việt Nam - Mỹ nói riêng và thu hút FDI vào Việt Nam nói chung sẽ chuyển sang một trạng thái mới, với quy mô lớn hơn, lợi ích nhiều hơn, chất lượng và hiệu quả cao hơn, tương xứng với sự gia tăng của quan hệ song phương Việt Nam - Mỹ.

Tài liệu tham khảo:
1. https://1thegioi.vn/de-viet-nam-nhap-khau-von-fdi-khong-vi-pham-quy-tac-thue-toi-thieu-toan-cau-201682.html
2.https://soha.vn/viet-nam-o-at-don-dai-bang-fdi-voi-quy-mo-chua-tung-thay-dua-kinh-te-thang-hang-than-toc-vung-ngoi-so-1-dong-nam-a-20230626072730936.htm
3. https://kinhtedothi.vn/thach-thuc-thu-hut-fdi.html
4. https://baodautu.vn/bung-no-dau-tu-nuoc-ngoai-viet-nam-tro-thanh-trung-tam-san-xuat-moi-d189625.html
5.https://www.anninhthudo.vn/41-doanh-nghiep-chau-au-muon-chuyen-hoat-dong-tu-trung-quoc-sang-viet-nam-post528519.antd
6. https://plo.vn/hon-90-nha-dau-tu-duc-muon-tiep-tuc-dau-tu-mo-rong-kinh-doanh-tai-viet-nam-post741153.html
7. https://vietq.vn/viet-nam---dat-lanh-hap-dan-nguon-von-fdi-chat-luong-cao-d207048.html
8. Tổng cục Thống kê (2019), Báo cáo điều tra lao động - việc làm quý I/2019, Hà Nội.
9. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê quý IV/2020 và năm 2020, năm 2021, 2022 và 6 tháng năm 2023.

  
ThS. Nguyễn Trần Minh Trí
Viện Kinh tế và Chính trị thế giới Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 1.551 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.732 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 1.569 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 2.676 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.861 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.568 lượt xem
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.639 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 3.164 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 2.183 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 2.525 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 7.958 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.784 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.578 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 2.214 lượt xem
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 2.084 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?