Tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua phân tích định lượng
04/07/2023 5.249 lượt xem
Tóm tắt: Thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước sau sắc thuế giá trị gia tăng (VAT) tại Việt Nam. Ngoài tác động đến tăng thu ngân sách nhà nước, thuế thu nhập doanh nghiệp còn được xem là công cụ điều tiết tăng trưởng kinh tế vĩ mô của quốc gia. Theo cơ sở lí thuyết và nghiên cứu thực nghiệm cho các quốc gia, có ba trường phái lí thuyết được giả định về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này sẽ đưa ra giả thuyết mối quan hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế theo hình chữ U ngược. Theo đó, nghiên cứu xây dựng mô hình hồi quy đa biến dạng đa thức để đánh giá tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đến tăng trưởng GDP. Từ kết quả phân tích trong mô hình hồi quy, một số kiến nghị đã được đưa ra về chính sách ưu đãi thuế, giải pháp cho việc thực hiện thuế tối thiểu toàn cầu năm 2024 và giải pháp liên quan đến cắt giảm thuế suất trong các thời kì phải gắn liền với ổn định thâm hụt ngân sách nhằm tăng tính hiệu quả thực thi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp.

Từ khóa: Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, GDP, ngân sách nhà nước.
 
IMPACT OF CORPORATE INCOME TAX ON THE ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM
UNDER QUANTITATIVE ANALYSIS
 
Abstract: Corporate income tax is one of important sources of tax revenue for the state budget after revenue of VAT in Vietnam. In addition to the impact on increasing state budget revenue, corporate income tax is also considered a tool to regulate the national macroeconomic growth. According to the theoretical backgrounds and empirical studies in countries, three theoretical backgrounds are proposed about the relationship between economic growth and corporate income tax. In this study, the relationship between corporate income tax and economic growth is assumed an inverted U shape. Accordingly, this research makes a multiple regression model to assess the impact of corporate income tax on GDP growth. From the analysis results, the author makes recommendations on tax incentives, suggests solutions for the implementation of the global minimum tax in 2024 and recommendations for tax cuts in periods must be associated with stabilizing the budget deficit in order to increase effectiveness of the corporate income tax.
 
Keywords: Corporate income tax, GDP, state budget.
 
1. Tổng quan cơ sở lí thuyết và nghiên cứu thực nghiệm giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế
 
Cơ sở lí thuyết
 
Các nghiên cứu trước đây đã đưa ra ba giả thiết về tác động giữa chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Thứ nhất, dựa vào lí thuyết tăng trưởng cổ điển (Judd, 1985; S. Barrios, D. Andria và M. Gesualdo, 2020) cho rằng, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp càng cao thì sẽ có tác động tiêu cực tới đầu tư của các doanh nghiệp vì nó giảm đi thu nhập để lại của doanh nghiệp tài trợ cho các khoản đầu tư trong ngắn hạn. Thuế thu nhập cao hơn cũng có thể giảm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các doanh nghiệp nước ngoài và hạn chế sự chuyển giao công nghệ đến các nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, tác động của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp tới tăng trưởng kinh tế chỉ trong ngắn hạn, yếu tố công nghệ là yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng GDP và thuế không đóng vai trò quyết định cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn. Giả thuyết thứ hai dựa vào lí thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng, thuế suất thuế thu nhập thấp hơn có thể tác động đến tăng trưởng GDP trong dài hạn vì nó khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp tăng đầu tư cho khoa học công nghệ và nâng cao kĩ năng cho lao động (Chen và cộng sự, 2017). Giả thuyết thứ ba cho rằng, mối quan hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế theo mô hình chữ U ngược. Tác động ròng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp lên tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả của chi tiêu ngân sách, sự mất mát của nền kinh tế khi tăng thuế diễn ra. Chi tiêu Chính phủ tăng lên từ nguồn tăng thu khi áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn được sử dụng cho đầu tư trong các lĩnh vực giáo dục, cơ sở hạ tầng hoặc khoa học, có thể tác động tích cực tới tăng trưởng GDP nếu các khoản chi tiêu công này là hiệu quả, không lãng phí. Theo đó, nếu tác động tích cực của việc tăng chi ngân sách do tăng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp vượt quá sự mất mát của nền kinh tế do thuế tăng thì tác động ròng của tăng thuế thu nhập doanh nghiệp là dương và ngược lại.
 
Nghiên cứu thực nghiệm
 
Nghiên cứu thực nghiệm tại các nước liên minh châu Âu (EU), khi cắt giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thì chỉ có tác động tiêu cực ở mức độ không đáng kể tới GDP trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, khi chi tiêu Chính phủ được giữ ở mức không đổi thì cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có tác động tích cực tới tăng trưởng GDP. Trong dài hạn thì tác động của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là chưa rõ ràng (S. Gechert, P. Heimberger, 2022). Nghiên cứu tại các quốc gia thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho thấy, khi cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ năm 2000 đến năm 2015 có tác động tích cực tới tăng trưởng GDP với giả định là thâm hụt ngân sách và nợ được kiểm soát (W. Yu, 2017). 
 
Ngược lại, tại các bang ở miền trung và tây của Hoa Kỳ, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp được đánh giá là chưa có tác động rõ ràng tới tăng trưởng GDP hằng năm (Isaac O. Strohman, 2021). Tương tự, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng không có tác động rõ ràng tới tăng trưởng kinh tế của Thụy Điển và cải cách thuế trong giai đoạn 1990 - 1991 dường như có tác động không đáng kể tới nền kinh tế (E. Forbin, 2011). Nghiên cứu tại 79 quốc gia từ năm 1980 đến năm 2010 cũng chưa đưa ra được bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ dài hạn giữa cấu trúc thuế, trong đó có thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng GDP (J. Bakija và T. Narasimhan, 2015). Về vấn đề cạnh tranh thuế, theo nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Hoa Kỳ, khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn tại nước này, đồng thời vấn đề tăng các ưu đãi thuế của các quốc gia khác về thuế cho lợi nhuận của các doanh nghiệp Hoa Kỳ tại nước sở tại sẽ không khuyến khích được các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư tại quốc gia mình để phát triển kinh tế (U. Khan, S. Nallareddy và E. Rouen, 2017). 
 
Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia và khu vực về tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp lên tăng trưởng kinh tế có các kết quả khác nhau bởi sự khác nhau về đặc thù từng nền kinh tế, cơ sở dữ liệu nghiên cứu và mô hình phương pháp lựa chọn để nghiên cứu. 
 
Hạn chế của các nghiên cứu trước đây
 
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung cho các nước phát triển và các nước OECD. Nghiên cứu cho các quốc gia đang phát triển còn chưa nhiều. Một số nghiên cứu sử dụng dữ liệu mảng với số quan sát lớn cho nhiều quốc gia có thể sẽ có các nhược điểm về tính chính xác của dữ liệu. Cạnh tranh về thuế giữa các nước trên thế giới cũng chưa được xem xét trong các nghiên cứu trước để giải thích tác động của chính sách thuế đến tăng trưởng GDP. Việc giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng không có tác động tới tăng trưởng GDP có thể là do yếu tố cạnh tranh thuế trên toàn cầu. 
 
Tại Việt Nam, mặc dù có các nghiên cứu về mối liên hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và GDP, tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu không đưa ra các phân tích định lượng để đánh giá mà chủ yếu dùng các phương pháp định tính. Do đó, cần thiết phải đánh giá các chính sách và ưu đãi thuế lên tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua các mô hình định lượng. Bên cạnh đó, cấu trúc kinh tế của Việt Nam thay đổi nhanh trong thời gian gần đây vì Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển với tăng trưởng GDP cao và có sự chuyển dịch nhanh từ các lĩnh vực nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp. Do đó, nghiên cứu này cũng cập nhật được các thay đổi của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian gần đây để phân tích mối liên hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế.
 
2. Mô hình thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu
 
Trong nghiên cứu này, tác giả giả định mối quan hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế là phi tuyến theo nghiên cứu của J. Hunady và M. Orviska (2015) đã đưa ra. Theo đó, nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng, khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đang ở mức thấp thì việc tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có thể sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cao thì việc tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng chung của nền kinh tế. Mô hình được cấu trúc dưới dạng như sau: 
 
Y = β0 + β1X + β2X2 + β3Z1 ⋯ + βpZp + εi  
 
Trong đó: Y là biến phụ thuộc (tốc độ tăng trưởng kinh tế)
 
X là biến thuế suất phổ thông thuế thu nhập doanh nghiệp, Z là các biến độc lập khác.
 
Trong mô hình hồi quy, tác giả sử dụng một số kiểm định về tính dừng của các biến, kiểm định phương sai sai số thay đổi, kiểm định sự tương quan của phần dư, kiểm định tính phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên. Cuối cùng, tác giả cũng sẽ đánh giá tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đến tăng trưởng kinh tế qua hệ số góc β1 và β2 và xác định mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tối ưu phù hợp với nền kinh tế Việt Nam. 
 
Dữ liệu nghiên cứu
 
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ Tổng cục Thống kê (GSO), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Tài chính giai đoạn 1995 - 2022. Các biến tăng trưởng GDP, đầu tư toàn xã hội là các chuỗi dữ liệu tăng trưởng thực sau khi đã loại trừ lạm phát. Trong mô hình cho thêm biến giả Dummy để đại diện cho tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và dịch Covid-19 bùng phát năm 2020 ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. (Bảng 1)

Bảng 1: Định nghĩa các biến trong mô hình

 
Kết quả thực nghiệm
 
Kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian
 
Để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian trong mô hình sử dụng kiểm định ADF (Augmented Dickey - Fuller). Kết quả kiểm định tính dừng (Bảng 2) cho thấy, biến thuế thu nhập doanh nghiệp không dừng còn lại tất cả các biến đều dừng ở mức ý nghĩa thống kê 5%. Lấy sai phân biến thuế thu nhập doanh nghiệp (DCIT) thì dừng ở mức ý nghĩa thống kê 5%. Do vậy, trong mô hình đánh giá tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp tới tăng trưởng kinh tế tất cả các biến được lấy sai phân bậc 1.
 
Bảng 2: Kết quả kiểm định tính dừng
 
 
Kiểm định tự tương quan giữa các phần dư
 
Để kiểm định tự tương quan giữa các phần dư, tác giả sử dụng kiểm định Durbin-Watson. Kết quả cho thấy, giá trị P-Value trong kiểm định Durbin-Watson lớn hơn 0,05 (Bảng 3). Do đó, trong mô hình không có hiện tượng tự tương quan giữa các phần dư.  
 
Bảng 3: Kết quả kiểm định Durbin-Watson
 

Kiểm định phương sai sai số thay đổi 
 
Để kiểm định phương sai sai số thay đổi trong mô hình tác giả sử dụng kiểm định White. Kết quả giá trị P-Value của kiểm định White là 0,7844 lớn hơn 0,05, do đó mô hình không có phương sai sai số thay đổi. (Bảng 4)
 
Bảng 4: Kết quả kiểm định White

 
Phân tích kết quả từ mô hình
 
Kết quả phương trình hồi quy:
 
DGDP = 0,0564 + 4,758 DCIT – 0,0718 DCIT2 + Dinvest + Dummy
 
Kết quả từ mô hình cho thấy, đối với điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thuế thu nhập doanh nghiệp không theo xu hướng tuyến tính mà theo xu hướng phi tuyến hình chữ U ngược. Theo đó, khi mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế đang ở mức rất thấp thì tăng thuế thu nhập doanh nghiệp lại tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Điều này có thể được lí giải theo quan điểm của Gechert và Heimberger (2022) đưa ra là khi tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có thể giúp tăng thu ngân sách nhà nước để tài trợ cho chi tiêu công. Nếu các khoản chi tiêu công này hiệu quả sẽ góp phần tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tăng thu ngân sách sẽ giảm việc ngân sách nhà nước đi vay để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, từ đó cũng giảm ảnh hưởng việc tăng lãi suất tác động đến nền kinh tế khi nhà nước tăng cường vay nợ dẫn đến khan hiếm nguồn vốn trong nền kinh tế. Tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng sẽ giảm sự tham gia của các doanh nghiệp mới trong nền kinh tế, từ đó giảm chi phí nghiên cứu phát triển và chi phí thuê lao động. Mặc dù tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ giảm tiết kiệm và đầu tư trong nền kinh tế từ đó tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP, tuy nhiên khi thuế suất trong nền kinh tế ở mức rất thấp thì tác động ròng của việc tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp lên nền kinh tế vẫn dương. 
 
Khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cao khoảng trên 30% thì tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ làm giảm tăng trưởng tổng thể nền kinh tế Việt Nam. Điều này được giải thích là khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao sẽ giảm lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp, giảm đầu tư, dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam và quá trình chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Lúc này, tác động ròng của việc tăng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp lên nền kinh tế là âm khi lợi ích từ việc tăng thu ngân sách do tăng thuế để gia tăng đầu tư công nhỏ hơn lợi ích mất đi từ việc suy giảm đầu tư, các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ toàn xã hội.
 
Kết quả từ mô hình cũng cho thấy, việc tăng vốn đầu tư toàn xã hội 1% cũng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 0,12%. Các cú sốc về khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu năm 2008 và đại dịch Covid-19 lan rộng và bùng phát cũng tác động tiêu cực tới nền kinh tế.
 
3. Kết luận và kiến nghị
 
Nghiên cứu tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp lên tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam qua mô hình hồi quy đa biến dạng đa thức cho thấy mối quan hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế là phi tuyến hình chữ U ngược. Giả định khi mức thuế suất trong nền kinh tế đang ở mức thấp thì việc tăng thuế sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng khi mức thuế suất trong nền kinh tế cao thì việc tăng thuế sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế. Tăng đầu tư toàn xã hội và các cú sốc trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới tăng trưởng tổng thể GDP. Một số kiến nghị được rút ra trong nghiên cứu:
 
Thứ nhất, việc cải cách thuế thu nhập doanh nghiệp trong gần 30 năm qua được cho là hợp lí với điều kiện nền kinh tế Việt Nam khi giảm dần mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 35% trước năm 1999 xuống còn 20% hiện nay đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc tăng các ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cho các lĩnh vực công nghệ cao, các doanh nghiệp FDI có dự án mới tại Việt Nam cần tiếp tục được khuyến khích nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn, vì các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ có tác dụng trong dài hạn khi thúc đẩy được đầu tư nghiên cứu, sản xuất, chuyển giao công nghệ trong các ngành công nghệ góp phần nâng cao năng suất lao động chung.
 
Thứ hai, bước sang năm 2024, nhiều nước có các doanh nghiệp, tập đoàn lớn đang hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam sẽ chính thức áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu. Theo đó, các quốc gia chủ yếu là các nước phát triển sẽ thu bổ sung thêm thuế đối với các tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam khiến các biện pháp ưu đãi thuế của Việt Nam không còn mang lại các tác động về thu hút dòng vốn FDI. Do đó, việc giảm bớt một số ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp FDI trừ các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học ứng dụng có thể cần xem xét, bởi vì nếu không thì các doanh nghiệp này vẫn đóng thêm phần thuế chênh lệch tại công ty mẹ ở nước ngoài. Bên cạnh đó, khi giảm bớt một số các ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp FDI cũng có thể góp phần làm tăng thu ngân sách nhà nước, làm giảm bội chi ngân sách hoặc ngân sách có thêm nguồn lực chi cho đầu tư công, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngoài các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp thì Chính phủ có thể có thêm các giải pháp khác thay thế để thu hút vốn FDI như cải cách thủ tục hành chính, ưu đãi về cho thuê đất đai, cải thiện cơ sở hạ tầng và môi trường đầu tư kinh doanh. 
 
Thứ ba, trong các giai đoạn cắt giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp để hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì Chính phủ cần cân nhắc xem xét giữ ổn định các mức thâm hụt ngân sách để tăng tính hiệu quả của các chính sách ưu đãi về thuế. Mối quan hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế là theo hình chữ U ngược. Do đó, việc cắt giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng không giữ ổn định mức thâm hụt ngân sách có thể sẽ giảm tác động tích cực hoặc tác động âm đến tăng trưởng GDP trong trường hợp Chính phủ đi vay nợ nhiều để bù đắp thâm hụt ngân sách do giảm thu từ ưu đãi thuế. Kết quả, khi Chính phủ tăng vay nợ để bù đắp ngân sách do giảm thu khi ưu đãi thuế sẽ làm thị trường vốn khan hiếm hơn, tăng lãi suất thị trường và dẫn đến giảm nguồn vốn cho đầu tư phát triển của khu vực tư nhân, ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. 
 
Bên cạnh các kết quả nghiên cứu trên, bài viết vẫn còn một số hạn chế nhất định. Thứ nhất, chuỗi dữ liệu chưa dài khi chuỗi dữ liệu thời gian cho mỗi biến chỉ 28 quan sát. Thứ hai, nếu chuỗi dữ liệu đầy đủ thì nghiên cứu nên sử dụng mô hình bảng để đánh giá tác động của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến các ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể. Với dữ liệu mảng sẽ có một số ưu điểm hơn dữ liệu chuỗi thời gian như có thể mô hình hóa được các tác động qua thời gian không quan sát được và các tác động theo đặc trưng không quan sát được tới biến phụ thuộc.
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. E. Forbin, 2011. Effects of corporate taxes on economic growth: The case of Sweden. Jönköping University.
2. Isaac O. Strohman, 2021. Comparing corporate tax rates and economic growth in the Midwestern United States. Drake University.
3. J. Bakija and T. Narasimhan, 2015. Effects of the level and structure of taxes on long-run economic growth: What can we learn from panel time-series techniques?
4. J. Hunady and M.Orviska, 2015. The non-linear effect of corporate taxes on economic growth. imisoara Journal of Economics and Business Vol.8, pages 14-31.
5. P. Howitt, 1997. Endogenous growth. Brown University.
6. S. Gechert, P. Heimberger, 2022. Do corporate tax cuts boost economic growth? European Economic Review 147, pages 1-14.
7. S. Barrios, D. Andria and M. Gesualdo, 2020. Reducing tax compliance costs through corporate tax base harmonization in the European Union. Journal of International Accounting, Auditing and Taxation 41. 
8. W. Yu, 2017. Will a lower corporate tax rate boost economic growth? The evidence from OECD countries, 2000 to 2015, UCLA Anderson Forecast.

ThS. Hồ Ngọc Tú
Viện Chiến lược chính sách tài chính

 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
12/04/2024 725 lượt xem
Phát triển bền vững đang là mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai, theo đó tăng trưởng xanh với sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường chính là tiền đề để thực hiện mục tiêu này.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
10/04/2024 732 lượt xem
Bài viết đề xuất một số khuyến nghị về xây dựng, thực thi chính sách tín dụng liên kết bền vững để góp phần đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam...
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
05/04/2024 1.040 lượt xem
Nghiên cứu trình bày về tầm quan trọng của ESG (Environmental - môi trường, Social - xã hội, Governance - quản trị) trong quá trình phát triển bền vững của ngân hàng, thực tiễn triển khai các hoạt động về ESG, các kết quả đạt được và thách thức, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy triển khai ESG trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
03/04/2024 957 lượt xem
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu tác động của tính minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility - CSR) đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng.
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
02/04/2024 930 lượt xem
Bài viết dựa trên cơ sở tổng quan về giám sát tài chính, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để rút ra một số bài học và khuyến nghị đối với công tác giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước tại Việt Nam hiện nay.
Kinh nghiệm thực thi chính sách tài chính khí hậu trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm thực thi chính sách tài chính khí hậu trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam
01/04/2024 937 lượt xem
Một trong những vấn đề khó khăn nhất hiện nay đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đó là việc thiếu nguồn lực tài chính để ứng phó với biến đổi khí hậu, hay còn gọi là tài chính khí hậu...
Xây dựng Sổ tay kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Xây dựng Sổ tay kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
28/03/2024 1.032 lượt xem
Để nâng cao tính chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm toán nội bộ NHNN phù hợp thông lệ quốc tế và các quy định về kiểm toán nội bộ của Việt Nam, một trong những yêu cầu hiện nay là nghiên cứu, rà soát, ban hành Sổ tay Kiểm toán nội bộ NHNN nhằm tập hợp, hệ thống hóa các quy định chung về kiểm toán nội bộ của NHNN.
Nâng cao chất lượng Chatbot chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nâng cao chất lượng Chatbot chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
25/03/2024 1.425 lượt xem
Trong kỉ nguyên số, Chatbot đóng vai trò vô cùng quan trọng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.
Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước
Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước
22/03/2024 2.128 lượt xem
Trong thị trường kinh tế, giao dịch phái sinh là một dạng hợp đồng dựa trên giá trị các loại tài sản cơ sở khác nhau như hàng hóa, chỉ số, lãi suất hay cổ phiếu (giấy tờ có giá).
Văn hóa số và lộ trình xây dựng
Văn hóa số và lộ trình xây dựng
11/03/2024 2.472 lượt xem
Hiện nay, quyết liệt chuyển đổi số, tạo dựng hệ sinh thái ngân hàng mở, tạo ra nền tảng phát triển bán lẻ, tăng doanh thu dịch vụ, gia tăng trải nghiệm của khách hàng là xu hướng chủ đạo của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam.
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
07/03/2024 3.308 lượt xem
Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ quốc gia có thu nhập thấp sang quốc gia có thu nhập trung bình. Song, những khó khăn nội tại và thách thức bên ngoài của nền kinh tế làm cho nguy cơ Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình là có thể.
Động lực và kì vọng mới cho tương lai
Động lực và kì vọng mới cho tương lai
07/03/2024 2.343 lượt xem
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và phu nhân Lê Thị Bích Trân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã bắt đầu chuyến công tác tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Australia; thăm chính thức Australia và New Zealand từ ngày 05 - 11/3/2024 theo lời mời của Thủ tướng Australia Anthony Albanese và Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon.
Vai trò, tầm quan trọng của ESG trong phát triển bền vững tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò, tầm quan trọng của ESG trong phát triển bền vững tại ngân hàng thương mại Việt Nam
05/03/2024 4.158 lượt xem
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp đang dần chú trọng hơn đến sự phát triển bền vững như một hướng đi quan trọng trong hoạt động kinh doanh.
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 2.847 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 3.413 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

81.800

83.800

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

81.800

83.800

Vàng SJC 5c

81.800

83.820

Vàng nhẫn 9999

74.800

76.700

Vàng nữ trang 9999

74.700

76.000


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,100 25,440 26,252 27,714 30,724 32,055 157.77 167.11
BIDV 25,130 25,440 26,393 27,618 30,763 32,067 158.12 166.59
VietinBank 25,090 25,443 26,504 27,799 31,154 32,164 160.64 168.59
Agribank 25,100 25,440 26,325 27,607 30,757 31,897 159.58 167.50
Eximbank 25,040 25,440 26,425 27,239 30,914 31,866 160.82 165.77
ACB 25,110 25,442 26,596 27,279 31,230 31,905 161.07 166.37
Sacombank 25,170 25,420 26,701 27,261 31,332 31,835 162.03 167.05
Techcombank 25,192 25,442 26,362 27,707 30,760 32,094 157.36 169.78
LPBank 24,960 25,440 26,088 27,611 30,970 31,913 158.36 169.76
DongA Bank 25,170 25,440 26,570 27,260 31,080 31,940 159.20 166.40
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,30
2,40
2,60
3,50
3,70
4,50
4,50
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,20
2,20
2,30
3,40
3,45
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,30
3,80
3,80
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?