Nền kinh tế toàn cầu: sự phục hồi nhiều trắc trở
12/04/2022 3.153 lượt xem
Giá cả hàng hóa tăng cao và sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng do khủng hoảng địa chính trị đang khiến lạm phát và các nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng chậm lại. Những lo ngại gần đây về sự phục hồi quá chậm sau đại dịch Covid-19 đang nhường chỗ cho nguy cơ đình lạm (hiện tượng kinh tế tăng trưởng thấp trong khi lạm phát và thất nghiệp tăng cao) toàn cầu.

Giá hàng hóa tăng kỷ lục và sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng khiến nền kinh tế toàn cầu không có cơ hội duy trì quỹ đạo phục hồi sau đại dịch và tránh lạm phát gia tăng. Phân tích tình hình một ngày sau khi bắt đầu chiến dịch đặc biệt của quân đội Nga ở Ukraine, các chuyên gia của Bloomberg giả định sự phục hồi như vậy chỉ tiếp tục được duy trì theo kịch bản “nhẹ nhàng” nhất - nếu xung đột nhanh chóng được giải quyết, các lệnh trừng phạt sẽ không ảnh hưởng đến các giao dịch tài chính và xuất khẩu năng lượng của Nga và giá năng lượng sẽ nhanh chóng ổn định. Nhưng mọi thứ đã diễn ra theo một kịch bản vượt qua cả những dự báo u ám nhất và thế giới phải hấp thụ những tin tức hằng ngày mà một tháng trước có vẻ khó tin.

Đối với nền kinh tế Nga, các nhà kinh tế dự đoán một cuộc suy thoái có quy mô tương đương với hậu quả của vụ vỡ nợ năm 1998. Nền kinh tế Nga thu hẹp một phần ba tính theo USD vào năm 1998, lạm phát tăng từ 11% vào cuối năm 1997 lên 84% vào cuối năm 1998. Tuy nhiên, điều khác biệt ở chỗ, sau 5 quý suy thoái, nền kinh tế từ quý II/1999, bắt đầu phục hồi với tốc độ nhanh chóng, vượt mức 10% so với năm 2000. Hiện tại, trong điều kiện quốc tế bị cô lập, dự báo lạc quan nhất đối với Nga là tình trạng trì trệ dài hạn với tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng khoảng 1%.

Năm 2022, theo dự báo của Ngân hàng JPMorgan, GDP của Nga sẽ giảm ngay 35% trong quý II và giảm 7% vào cuối năm. "Các biện pháp trừng phạt đối với Nga sẽ đạt được mục tiêu của họ, đẩy nước này vào một cuộc suy thoái sâu", Ngân hàng này dự đoán, sau khi chỉ ra sự sụt giảm trong nhập khẩu của Nga và sụt giảm thu nhập từ xuất khẩu. Ở Ukraine, hoạt động kinh tế sẽ giảm 1/3 trong năm 2022, làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng nhân đạo; đối với Nga, thiệt hại cũng không kém do các khoản đóng băng ngoại tệ, thiếu hàng hóa, đồng Rúp mất giá, và về dài hạn, những tổn thất của Nga sẽ lớn, Mohamed, giáo sư Trường Wharton thuộc Đại học Pennsylvania El Erian, cho biết. Ngay cả khi cuộc xung đột kết thúc vào ngày mai, thì cả hai nền kinh tế sẽ phải mất nhiều năm để phục hồi. Ukraine có thể tin tưởng vào sự hỗ trợ lớn từ bên ngoài để giải quyết những điểm yếu trong quá khứ và xây dựng các cấu trúc kinh tế mới và các mối quan hệ bên ngoài. El-Erian lưu ý rằng, sẽ rất khó để Nga khôi phục các mối quan hệ kinh tế, tài chính, thể chế với thế giới bên ngoài, điều này sẽ cản trở sự phục hồi kinh tế có thể xảy ra.

Còn theo dự báo của Ngân hàng Trung ương Nga dựa trên kết quả đánh giá của 18 nhà phân tích từ các ngân hàng, trung tâm nghiên cứu và khoa học (cuộc khảo sát được thực hiện vào tháng 3) phản ánh sự thay đổi cơ bản của điều kiện kinh tế diễn ra trong những tuần gần đây. Dựa trên ước tính trung bình của những người tham gia khảo sát, lạm phát ở Nga vào cuối năm 2022 sẽ là 20% (5,5% - trong cuộc khảo sát tháng 02), nền kinh tế sẽ suy giảm 8% so với năm ngoái (tăng trưởng 2,4% - trong cuộc khảo sát tháng 02). Tuy nhiên, sang năm 2023, lạm phát sẽ giảm xuống 8% vào cuối năm và nền kinh tế sẽ bù đắp một phần cho sự suy giảm với mức tăng trưởng 1%, theo kết quả từ cuộc khảo sát. Trong giai đoạn 2025 - 2029, tốc độ tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế Nga sẽ là 1% (2% - trong cuộc khảo sát tháng 02).

Kinh tế thế giới: Hiệu ứng Domino

Hậu quả kinh tế của cuộc khủng hoảng địa chính trị sẽ không chỉ giới hạn ở hai quốc gia. Nouriel Roubini, giáo sư danh dự tại Trường Kinh doanh Stern của Đại học New York, đã viết vào cuối tháng 02/2022 rằng, nó có thể dẫn đến một cuộc suy thoái lạm phát đình trệ toàn cầu. Các nhà kinh tế vĩ mô Alvin de Groot và Stefan Koopman của Rabobank đồng tình: “Dự đoán một cuộc suy thoái với tất cả các tác động phụ của nó luôn có rủi ro, nhưng chúng tôi cho rằng, chúng ta đã đến quá gần với viễn cảnh này”. Xung đột Nga - Ukraine ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu thông qua một số kênh cùng một lúc. Thứ nhất, Nga và Ukraine là những nhà cung cấp chính cho thị trường hàng hóa toàn cầu, bao gồm các mặt hàng quan trọng như titan, paladium, ngũ cốc và ngô. Ông Stephen Millard, Phó Giám đốc của National Institute of Economic and Social Research (Vương quốc Anh) cho biết, nguồn cung bị gián đoạn dẫn đến sự gia tăng giá nguyên liệu thô và chủ yếu ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp sử dụng những nguyên liệu thô này, bao gồm ngành công nghiệp ô tô, sản xuất điện thoại thông minh và ngành công nghiệp máy bay. Thứ hai, giá năng lượng tăng đáng kể dẫn đến gia tăng lạm phát. Một kênh khác là các biện pháp trừng phạt quốc tế cứng rắn. Một kênh bổ sung là di cư quy mô lớn từ Ukraine. Thứ ba, kênh cuối cùng là sự gia tăng rủi ro chính trị và sự không chắc chắn. Nga là nước xuất khẩu ròng dầu khí lớn nhất thế giới và là nước xuất khẩu dầu thô lớn thứ hai thế giới sau Ả Rập Xê-út. Khoảng 40% lượng dầu và khí đốt xuất khẩu của Nga là sang các nước châu Âu. Các biện pháp trừng phạt đối với Nga đã đưa giá thị trường năng lượng lên mức cao nhất trong nhiều năm: trong hai tuần kể từ khi bắt đầu chiến dịch đặc biệt của quân đội Nga ở Ukraine, các loại dầu Brent và WTI đã tăng giá 34 - 36% (biểu đồ 1), trong khi mức chiết khấu cho giá Urals của Nga, cũng đã tăng lên 17%, đạt mức kỷ lục 30 USD so với 2 - 3 USD trước đó. Giá khí đốt của châu Âu đã tăng gấp ba lần kể từ khi bắt đầu leo ​​thang xung đột (biểu đồ 2).
 
Biểu đồ 1: Giá dầu thô WTI (USD/thùng)
 
 Nguồn: tradingview.com
 
 
Biểu đồ 2: Giá khí đốt châu Âu (USD/1000m³)

 
 Nguồn: profinance.ru

Các nhà kinh tế so sánh những gì đang xảy ra trên thị trường năng lượng với cú sốc dầu mỏ năm 1973, khi các quốc gia Ả Rập áp đặt lệnh cấm vận dầu mỏ và với cuộc khủng hoảng dầu mỏ sau cuộc cách mạng ở Iran năm 1979, kéo theo đó là những cuộc suy thoái toàn cầu. Nhưng tình huống không chỉ giới hạn ở cú sốc dầu. Nga là một trong những nhà xuất khẩu phân bón lớn nhất thế giới, giá đã tăng gấp đôi trong 1,5 năm qua, đang tăng nhanh sau khi bắt đầu chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine. Điều này đe dọa tương lai của nguồn cung cấp lương thực toàn cầu vào thời điểm mà nguồn cung lương thực thế giới ngày càng giảm và giá lương thực thế giới đang ở mức kỷ lục.

Biểu đồ 3: Giá phân bón (USD/tấn)

 
 Nguồn: https://app.gro-intelligence.com/displays/p9BvWnY9M

Nga cũng là nước xuất khẩu lúa mì lớn nhất thế giới, và cùng với Ukraine cung cấp gần 30% xuất khẩu toàn cầu mặt hàng này: giá lúa mì kỳ hạn tăng vọt lên mức cao nhất trong 14 năm trên Sàn giao dịch chứng khoán Chicago vào cuối tuần trước. Ukraine cũng là nước xuất khẩu ngô lớn - nước này chiếm hơn 1/5 lượng xuất khẩu của thế giới về loại cây trồng này. Giá thế giới đối với các mặt hàng khác do Nga và Ukraine xuất khẩu cũng đạt kỷ lục lịch sử - nhôm, đồng, thép, đậu nành; kim loại quý, trong đó, Nga là nước xuất khẩu lớn, cũng đang trở nên đắt hơn - vàng và bạch kim, cũng như niken. Tác động tiêu cực đối với nền kinh tế thế giới thông qua các thị trường nguyên liệu thô sẽ rất đáng chú ý, vì tỷ trọng của Nga trong sản xuất các mặt hàng này rất lớn: 11% xuất khẩu dầu thế giới, 16% xuất khẩu khí đốt thế giới, 11% sản lượng kim loại quý thế giới, 9% kim loại công nghiệp, 8% phân bón, 37% paladium và 12% bạch kim, theo Morgan Stanley.

“Thị trường không thể nhanh chóng điều chỉnh với sự mất mát về nguồn cung như vậy, và điều này dẫn đến giá cả tăng cao, đặc biệt là năng lượng và thực phẩm, vào thời điểm rất đáng tiếc khi lạm phát trên thế giới đã tăng nhanh”, Giám đốc điều hành Ngân hàng Thế giới David Malpass cảnh báo. Người đứng đầu IMF, Kristalina Georgieva cho biết: “Ở nhiều quốc gia, cuộc khủng hoảng tạo ra một cú sốc tiêu cực đối với cả lạm phát và hoạt động kinh doanh trong bối cảnh áp lực giá cả đã tăng lên”.

Theo Economist Intelligence Unit, lạm phát toàn cầu sẽ vượt 6% vào năm 2022 (dự báo trước khủng hoảng của IMF - 3,8%) và tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ là 3,4% so với dự báo trước khủng hoảng là 3,9%. Theo ước tính của National Institute of Economic and Social Research (Anh), nền kinh tế toàn cầu trong giai đoạn 2022–2023 sẽ sụt giảm tăng trưởng khoảng 1%, tương đương 1 nghìn tỷ USD. Theo Oxford Economics, lạm phát toàn cầu vào năm 2022 sẽ cao hơn 0,7%, và tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ thấp hơn 0,2% so với các dự báo trước khủng hoảng.

Mỹ và châu Âu

Bank of America tin rằng, nếu các quốc gia khác tham gia vào lệnh cấm vận của Mỹ đối với nhập khẩu tài nguyên năng lượng của Nga, giá dầu trên thị trường thế giới có thể tăng lên 200 USD/ thùng, ngay lập tức sẽ lấy đi khoảng 2% tăng trưởng GDP của Mỹ vào năm 2022, hơn một nửa dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ vào năm 2022 trước khủng hoảng, trước đó, được kỳ vọng là 3,7%. JP.Morgan kỳ vọng giá dầu tăng sẽ có tác động đáng kể đến nền kinh tế Mỹ nếu đạt mức bền vững khoảng 150 USD/thùng, một kịch bản có thể làm chậm tăng trưởng GDP khoảng 1%, nhà phân tích Stephanie Roth của JP.Morgan cho rằng điều đó khó xảy ra. J.P.Morgan dự đoán kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng 4% vào năm 2022. Chủ tịch Fed, J. Powell cho rằng cứ mỗi lần tăng giá dầu 10 USD thì lạm phát tăng khoảng 0,2% và tăng trưởng kinh tế giảm 0,1%, nhưng một số nhà kinh tế cho rằng đã đến lúc không phải nói về tăng trưởng chậm lại, mà là về sự sụp đổ của nền kinh tế. Joseph Lavorna từ Natixis cho biết: “Mỹ đang trên bờ vực suy thoái và lạm phát tăng mạnh, năng lượng và thực phẩm có tiềm năng tăng trưởng đáng kể hơn nữa”.

Các nhà kinh tế của Rabobank cho biết, do tỷ trọng nhập khẩu lớn từ Nga và Ukraine, châu Âu dễ bị tổn thương hơn các khu vực khác trên thế giới. Sự leo thang của cuộc xung đột ở Ukraine là cú sốc cung cấp lớn nhất cho nền kinh tế kể từ năm 1979, làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Ngoài các biện pháp trừng phạt, điều này còn bị ảnh hưởng bởi "các biện pháp tự trừng phạt" - nhiều thương nhân từ bỏ nguyên liệu thô của Nga, lo sợ các lệnh trừng phạt trong tương lai, đồng thời, gặp khó khăn trong việc tài trợ cho các giao dịch của Nga và các công ty châu Âu từ chối mua hàng hóa của Nga do e ngại các rủi ro liên quan đến tài trợ gián tiếp hoạt động quân sự đặc biệt của Nga. Nhìn chung, một cú sốc cung như vậy cũng có nghĩa là một cú sốc lớn đối với thương mại, chi phí sẽ được chia sẻ giữa các hộ gia đình, những người có thu nhập khả dụng sẽ giảm do giá cả tăng, các doanh nghiệp có lợi nhuận giảm và các chính phủ sẽ buộc phải tăng thâm hụt ngân sách.

Sự kết hợp các biện pháp trừng phạt chống lại Nga với một "cơn ác mộng logistics" sẽ dẫn đến sự sụp đổ gần như hoàn toàn về thương mại giữa EU với Nga, ngay cả khi nguồn cung khí đốt của Nga cho châu Âu vẫn tiếp tục. Nếu xuất khẩu khí đốt của Nga sang châu Âu tiếp tục được duy trì, GDP của châu Âu sẽ thấp hơn 1% vào năm 2022 trong khi lạm phát sẽ cao hơn 1,5% so với các mức dự báo trước đó theo dự báo của Coface, một công ty bảo hiểm quốc tế chuyên về bảo hiểm rủi ro ngoại thương. Nếu nguồn cung hàng hóa của Nga tới EU dừng lại, GDP sẽ thấp hơn 4% với dự báo trước khủng hoảng và có thể âm, Coface tính toán [3]. Theo dự báo của Rabobank, nền kinh tế châu Âu sẽ rơi vào suy thoái trong 3 năm tới, giảm khoảng 0,7-2,5%. Tác động đối với châu Á sẽ nhỏ hơn do mối quan hệ hạn chế với Nga và Ukraine, nhưng khu vực này cũng sẽ đối mặt với tăng trưởng kinh tế thấp hơn và lạm phát cao hơn.

Triển vọng kinh tế đã xấu đi và sự bất ổn gia tăng, nhưng nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho biết. Theo dự báo của ECB, được cập nhật vào ngày 10/3, nền kinh tế khu vực đồng Euro sẽ tăng trưởng 3,7% vào năm 2022 và 2,8% vào năm 2023, giảm 0,5% và 0,1% tương ứng, so với dự báo tháng 12/ 2021; lạm phát trung bình hàng năm sẽ tăng tốc vào năm 2022 lên 5,1% (dự báo tháng 12 - 3,1%), sau đó sẽ chậm lại. Trong kịch bản xấu nhất, liên quan đến các lệnh trừng phạt bổ sung đối với Nga, căng thẳng địa chính trị cao hơn, giá năng lượng tăng cao hơn và nguồn cung bị thu hẹp mạnh hơn, tăng trưởng GDP của Khu vực đồng Euro vào năm 2022 sẽ là 2,3% và lạm phát sẽ tăng lên 7,1%.

Tình thế tiến thoái lưỡng nan của các ngân hàng trung ương

Tốc độ tăng giá nhanh trong bối cảnh triển vọng kinh tế xấu đi khiến các ngân hàng trung ương lớn nhất thế giới rơi vào tình thế khó xử: chống lạm phát bằng cách thắt chặt chính sách tiền tệ, hoặc hỗ trợ nền kinh tế bằng cách nới lỏng chính sách tiền tệ. Theo Bloomberg Economics, nhiều khả năng tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại sẽ buộc phải thực hiện các biện pháp nhằm duy trì nó. Nhưng một chính sách như vậy sẽ làm giảm khả năng chống lại sự tăng tốc giá hơn nữa và có thể dẫn đến sự phá vỡ kỳ vọng lạm phát. Và nếu điều này xảy ra, các ngân hàng trung ương sẽ buộc phải chuyển sang tình huống xấu nhất đối với chính sách tiền tệ: thắt chặt đáng kể trong bối cảnh nền kinh tế đang suy yếu. Trong cuộc họp báo ngày 16/3/2022, Chủ tịch Fed Jerome Powell công bố tăng lãi suất chính sách 0,25%; dự báo tăng trưởng GDP Mỹ năm 2022 khoảng 2,8%; 2,2% năm 2023 và 2% năm 2024; dự báo lạm phát năm 2022 khoảng 4,3%, giảm còn 2,7% năm 2023 và 2,3% năm 2024. Giám đốc điều hành Morgan Stanley James Gorman kỳ vọng các hành động của Fed trong môi trường hiện tại là “rất bài bản” và không gây bất ngờ: “Sự thiếu kiên nhẫn là điều không thể tránh khỏi trong thời điểm không chắc chắn. Fed phải đối mặt với một tình huống khó xử thực sự. Lạm phát rõ ràng đang tăng, và đây không phải là xu hướng ngắn hạn ”.

Nhưng tình thế tiến thoái lưỡng nan nghiêm trọng nhất mà ECB đang phải đối mặt là, trước khi xung đột leo thang ở Ukraine, ECB đã lên kế hoạch cắt giảm chương trình khuyến khích mua lại trái phiếu và không loại trừ thời điểm bắt đầu tăng lãi suất trong năm 2022, Seema Shah, chiến lược gia trưởng của Principal Global Investors cho biết. "Nguy cơ lạm phát đình trệ rõ ràng đã tăng lên, khiến ECB khó trả lời câu hỏi làm thế nào để ứng phó với lạm phát đang gia tăng", các nhà phân tích của ING đồng tình. Chủ tịch ECB Christine Lagarde tại cuộc họp báo ngày 10/3/2022 đã thông báo rằng, ECB sẽ không tăng lãi suất cho đến khi hoàn thành chương trình mua lại tài sản, có hiệu lực trong quý II/2022 và quyết định trong quý III/2022 "sẽ phụ thuộc vào dữ liệu và phản ánh sự thay đổi trong đánh giá về triển vọng". Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, ngay sau khi “thần đèn lạm phát ra khỏi bình”, tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại, bất kể chính sách tiền tệ đi theo hướng nào. Đây là trường hợp của các năm 1974 - 1975, 1980 - 1981 và sau đó, vào các năm 1992, 2008 và 2011, các nhà phân tích của Rabobank nhớ lại. Và điều này có nghĩa là, họ kết luận rằng "hạ cánh mềm" trong một tình huống như vậy là vô cùng khó khăn.

Tài liệu tham khảo:

1. Bloomberg Economics, How war in Ukraine threatens the World’s Economic Recovery?, retrieved from https://www.bloomberg.com/news/features/2022-02-25/war-in-ukraine-how-the-ukraine-russia-conflict-could-impact-the-global-economy on 23 March 2022.
2. Carsten Brzeski, “ECB minutes confirm increasing hawkishness”, retrieved from https://think.ing.com/articles/ecb-february-minutes-confirm-increasing-hawkishness on 23 March 2022.
3. COFACE, Economic consequences of the Russia-Ukraine conflict: Stagflation ahead, retrieved from https://www.coface.com/News-Publications/News/Economic-consequences-of-the-Russia-Ukraine-conflict-Stagflation-ahead on 23 March 2022.
4. ECB, ECB staff macroeconomic projections for the Euro area, retrieved fromhttps://www.ecb.europa.eu/pub/projections/html/ecb.projections202203_ecbstaff~44f998dfd7.en.html on 23 March 2022.
5. ECB, Press Conference on 10 March 2022, retrieved from https://www.ecb.europa.eu/press/pressconf/2022/html/ecb.is220310~1bc8c1b1ca.en.html on 23 March 2022.
6. EIU, Global economic implications of the Russia-Ukraine war, retrieved from https://www.eiu.com/n/global-economic-implications-of-the-russia-ukraine-war/ on 23 March 2022.
7. Một số tài liệu tham khảo khác.
 
TS. Nhật Trung
Đại học Hòa Bình

 
 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Thực trạng phát triển sản phẩm và dịch vụ tài chính số tại các quốc gia châu Á
Thực trạng phát triển sản phẩm và dịch vụ tài chính số tại các quốc gia châu Á
19/06/2024 186 lượt xem
Dựa trên dữ liệu được thu thập từ các báo cáo về tài chính toàn diện của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng tiếp cận các dịch vụ tài chính số tại 19 quốc gia châu Á từ phía chủ thể cung cấp và chủ thể tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ tài chính.
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tiền mã hóa của thế hệ Gen Z trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tiền mã hóa của thế hệ Gen Z trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
06/06/2024 1.011 lượt xem
Trong kỉ nguyên của công nghệ số, sự xuất hiện của một hình thức tiền tệ số hay tiền mã hóa là hoàn toàn cần thiết để đáp ứng sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ (Milutinovic, 2018). Tiền mã hóa sử dụng công nghệ mã hóa và chuỗi khối (Blockchain) để bảo đảm tính an toàn và bảo mật cho các giao dịch tài chính.
Các yếu tố mang lại thành công của một số ngân hàng phát triển nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam
Các yếu tố mang lại thành công của một số ngân hàng phát triển nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam
24/05/2024 1.874 lượt xem
Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) và Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB) là những định chế tài chính phát triển lớn, thành công trên thế giới...
Quốc tế hóa Nhân dân tệ và hợp tác tiền tệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN
Quốc tế hóa Nhân dân tệ và hợp tác tiền tệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN
20/05/2024 2.266 lượt xem
Đi đôi với phát triển kinh tế, Trung Quốc dần hình thành và triển khai chiến lược bài bản xây dựng và củng cố sức mạnh tài chính - tiền tệ với trọng tâm là phát triển CNY trở thành đồng tiền quốc tế...
Quản lí tiền mã hóa ở một số quốc gia - Kinh nghiệm và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam
Quản lí tiền mã hóa ở một số quốc gia - Kinh nghiệm và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam
16/05/2024 3.044 lượt xem
Trong kỉ nguyên của nền công nghiệp 4.0, tiền mã hóa là một ứng dụng tiêu biểu của công nghệ số Blockchain. Các loại tiền mã hóa xuất hiện là tất yếu trong quá trình phát triển của các hình thái tiền tệ, đem đến sự phát triển vượt bậc về thương mại điện tử và mở ra cho thị trường tài chính một trang mới.
Tác động của thực thi ESG đến hệ thống ngân hàng: Góc nhìn từ Việt Nam và tham chiếu thế giới
Tác động của thực thi ESG đến hệ thống ngân hàng: Góc nhìn từ Việt Nam và tham chiếu thế giới
08/05/2024 3.213 lượt xem
Trong những năm qua, đại dịch Covid-19 đã gây rất nhiều khó khăn, tổn thất về người, kinh tế cho các doanh nghiệp nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Tuy nhiên, thống kê cho thấy, doanh nghiệp nào theo đuổi chiến lược phát triển bền vững, công bố các chỉ tiêu ESG (Enviromental - môi trường, Social - xã hội, Governance - quản trị) trong nhiều năm qua luôn thu hút được sự đồng hành của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thực thi chính sách tín dụng nông thôn - Kinh nghiệm của Brazil
Thực thi chính sách tín dụng nông thôn - Kinh nghiệm của Brazil
16/04/2024 4.155 lượt xem
Chính sách tín dụng nông thôn (tín dụng nông thôn) ở Brazil là các chương trình cho vay nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, năng suất và đầu tư; nâng cao thu nhập của các trang trại và doanh nghiệp; nâng cao mức sống của người dân nông thôn.
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
04/04/2024 5.661 lượt xem
Bài viết phân tích, đánh giá một số kinh nghiệm quốc tế về cơ cấu thu NSNN bền vững thông qua bốn loại thuế, gồm: Thuế TNDN, thuế TNCN, thuế GTGT, thuế TTĐB. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị để hoàn thiện cơ cấu thu NSNN bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Phát triển Quỹ hưu trí tự nguyện tại doanh nghiệp - Một số kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Phát triển Quỹ hưu trí tự nguyện tại doanh nghiệp - Một số kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
21/03/2024 7.307 lượt xem
Hệ thống hưu trí là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội với hai hệ thống hưu trí bắt buộc và hệ thống hưu trí tự nguyện. Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển quỹ hưu trí tự nguyện tại doanh nghiệp ở các nước trên thế giới rất quan trọng nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Dự báo kinh tế thế giới năm 2024 vẫn còn nhiều khó khăn
Dự báo kinh tế thế giới năm 2024 vẫn còn nhiều khó khăn
19/03/2024 21.021 lượt xem
Năm 2023, kinh tế thế giới phục hồi yếu và không đồng đều giữa các nền kinh tế chủ chốt. Hoạt động sản xuất, từ sản lượng công nghiệp đến hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế đều giảm.
Ứng phó với các thách thức nhân khẩu học: Chiến lược thích ứng của ngành Ngân hàng và gợi ý đối với Việt Nam
Ứng phó với các thách thức nhân khẩu học: Chiến lược thích ứng của ngành Ngân hàng và gợi ý đối với Việt Nam
07/03/2024 8.540 lượt xem
Những thay đổi về nhân khẩu học toàn cầu, đặc biệt là xu hướng già hóa dân số đang đặt ra những thách thức và rủi ro lớn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Chính sách tiền tệ của Fed năm 2024 và một số khuyến nghị đối với Việt Nam
Chính sách tiền tệ của Fed năm 2024 và một số khuyến nghị đối với Việt Nam
03/03/2024 12.200 lượt xem
Sau gần hai năm thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát và đưa lạm phát của nền kinh tế Hoa Kỳ về gần lạm phát mục tiêu là 2%, trong năm 2024, dự kiến Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ có những thay đổi lớn trong điều hành chính sách tiền tệ.
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
15/02/2024 8.735 lượt xem
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng trong việc tăng cường và bảo vệ giá trị của tổ chức thông qua chức năng cung cấp sự đảm bảo, tư vấn khách quan, chuyên sâu và theo định hướng rủi ro.
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
13/02/2024 9.320 lượt xem
Nhìn lại năm 2023, trên khắp Việt Nam và Nhật Bản đã diễn ra nhiều sự kiện kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tháng 12/2023, Mizuho đã hỗ trợ Diễn đàn kinh tế Nhật Bản - Việt Nam tại Tokyo cùng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và các định chế tài chính khác.
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
26/01/2024 10.124 lượt xem
Sau những cú sốc mạnh trong năm 2022, hoạt động kinh tế toàn cầu có dấu hiệu ổn định vào đầu năm 2023.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

74.980

76.980

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

74.980

76.980

Vàng SJC 5c

74.980

77.000

Vàng nhẫn 9999

73.450

75.050

Vàng nữ trang 9999

73.350

74.350


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,221 25,471 26,605 28,064 31,481 32,819 156.24 165.36
BIDV 25,251 25,471 26,786 28,052 31,719 32,813 156.92 165.09
VietinBank 25,251 25,471 26,773 28,068 31,886 32,896 158.15 165.95
Agribank 25,270 25,471 26,744 28,047 31,626 32,796 157.51 165.28
Eximbank 25,210 25,471 26,827 27,748 31,813 32,808 158.51 163.96
ACB 25,230 25,471 26,819 27,739 31,881 32,842 157.91 164.14
Sacombank 25,263 25,471 27,040 27,801 32,059 32,769 159.46 164.47
Techcombank 25,277 25,471 26,665 28,022 31,468 32,803 154.21 166.62
LPBank 25,011 25,471 26,667 28,248 31,936 32,833 157.42 168.06
DongA Bank 25,270 25,471 26,840 27,700 31,780 32,830 156.40 164.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,30
3,60
4,30
4,40
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,60
2,60
2,90
3,80
3,80
4,50
4,50
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
2,00
2,00
2,30
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
2,90
3,10
3,20
4,00
4,00
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?