Hội đồng trường đại học: Các điểm nghẽn cần quan tâm tháo gỡ trong bối cảnh hiện nay
31/05/2023 2.446 lượt xem
1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập hiện nay, giáo dục đại học đã có sự chuyển mình cần thiết để phù hợp với xu thế phát triển. Việc thành lập hội đồng trường là một trong những chủ trương đúng đắn, tiệm cận với giáo dục đại học thế giới. Hội đồng trường được thành lập là bước đi và khâu quan trọng để tiến tới tự chủ đại học. Thực tế đã cho thấy, tự chủ đại học sẽ góp phần quan trọng giúp cho các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) công lập hoạt động hiệu quả hơn, tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở GDĐH, tạo điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động GDĐH. Điều này, xét về bản chất cũng là phù hợp với xu thế khách quan của sự phát triển, đó là sự dịch chuyển mô hình từ việc Nhà nước kiểm soát sang các mô hình hệ thống Nhà nước giám sát. Theo đó, cũng đặt ra cho công tác quản trị đại học những thách thức cần quan tâm, giải quyết.



 
Cần thực hiện hiệu quả việc gắn kết giữa cơ sở GDĐH với doanh nghiệp, từ công tác tuyển sinh, đào tạo, thực tập đào tạo, thực hành sản xuất đến tuyển dụng và sử dụng lao động
 
Trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, môi trường giáo dục đã có sự thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi cần phải có sự đổi mới về quản lí cũng như cách tiếp cận mới. Chính vì vậy mà các cơ sở GDĐH đôi khi phải thực hiện nhiệm vụ giống như một doanh nghiệp. Nếu hoạt động theo lối mòn cũ sẽ vô cùng lạc hậu và kém phát triển. Hiện nay, về cơ bản chúng ta có thể khái quát bốn (04) mô hình quản trị đại học, thể hiện địa vị pháp lí của các cơ sở GDĐH trong xã hội, bao gồm: i) Mô hình Nhà nước quản lí (state control)
1; ii) Mô hình bán tự chủ (semi-autonomous)2; iii) Mô hình bán độc lập (semi-independent3; iv) Mô hình độc lập (independent)4. Mỗi mô hình quản trị đại học đều thể hiện tính tự chủ ở các mức độ khác nhau. Đối với mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn thì các cơ sở GDĐH vẫn được tự chủ ở mức độ nhất định trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tài chính. Ngược lại, mô hình độc lập (nhà nước giám sát) thể hiện rõ Nhà nước chỉ đóng vai trò giám sát hệ thống đảm bảo chất lượng đại học và duy trì mức độ tự chủ, chịu trách nhiệm cao cho các cơ sở GDĐH.

2. Những thách thức và khó khăn của các cơ sở GDDH công lập

Đối với các cơ sở GDĐH công lập đang chuyển dần từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang mô hình Nhà nước giám sát với quyền tự chủ đại học ngày càng mở rộng, điều này tạo môi trường cho phép các trường tự quyết và chịu trách nhiệm để ứng phó trước sức ép tài chính và sự thay đổi nhanh của nền kinh tế. Khuynh hướng này cũng làm giảm giá trị truyền thống của mối quan hệ Nhà nước và trường đại học, theo đó, việc tăng quyền lực ở cấp trường đại học cũng đồng nghĩa với giảm bớt quyền lực của cơ quan quản lí Nhà nước.

Các “điểm nghẽn” cần tập trung tháo gỡ

Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 có hiệu lực từ ngày 01/7/2019 là hành lang pháp lí quan trọng và cần thiết để mở rộng quyền tự chủ về học thuật, tổ chức và nhân sự, tài chính cho các cơ sở GDĐH. Cũng theo quy định, chủ tịch hội đồng trường của các cơ sở GDĐH hiện nay đều là chuyên trách, thuộc biên chế chính thức của cơ sở GDĐH không có những người có chức vụ trong các cơ quan quản lí thuộc và trực thuộc bộ chủ quản và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc phân bổ ngân sách Nhà nước được đổi mới từ cơ chế “xin cho” sang cơ chế đầu tư căn cứ năng lực quản trị của các trường kết hợp với đầu tư trực tiếp cho người học; các cơ sở GDĐH được tăng quyền tự chủ trong tuyển sinh, đào tạo, tổ chức nhân sự, tài chính và thu hút sự tham gia của giảng viên, sinh viên và các bên liên quan… sẽ là điều kiện và tiền đề quan trọng để các GDĐH “cởi trói” phát triển theo nhu cầu, yêu cầu của thị trường, phù hợp với xu thế quốc tế. 

Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh và điều kiện cụ thể, cần nhận thức được những thách thức, khó khăn phải tập trung tháo gỡ:

Thứ nhất, tổng thể các cơ sở GDĐH chưa thực sự thay đổi tư duy, nhận thức cũng như cách làm trong quản trị nội bộ nhà trường để sẵn sàng thích ứng với sự đổi mới theo hướng tự chủ. Các thói quen trong hoạt động lãnh đạo, quản lí, điều hành vẫn chưa được thay đổi triệt để do còn ảnh hưởng bởi cơ chế trước đây.

Thứ hai, về bản chất, hội đồng trường hiện nay chưa phát huy hết vai trò tại các cơ sở GDĐH. Thành viên trong các cơ sở GDĐH vẫn chiếm tỉ lệ lớn trong hội đồng trường (trên 70%), hầu hết là ban giám hiệu, trưởng, phó các đơn vị trực thuộc trường; do đó, rất khó có những ý kiến khách quan trong khi ra các quyết sách của hội đồng trường, vì họ vừa có vai trò định hướng, giám sát lại vừa chịu trách nhiệm quản lí, thực hiện, chịu trách nhiệm về hoạt động của trường trước hội đồng trường. Ở khía cạnh này, xét cơ cấu thành viên ngoài trường chiếm tỉ lệ thấp, hội đồng trường khó thực hiện vai trò một cơ quan quyền lực cao nhất và độc lập với hiệu trưởng, ban giám hiệu mà chỉ thiên về tư vấn cho hiệu trưởng.

Thứ ba, phần lớn cơ sở GDĐH vẫn chưa mạnh dạn đổi mới thực hiện cơ chế tài chính trong nội bộ nhà trường theo hướng khoán, tự đảm bảo chi thường xuyên cho các đơn vị trực thuộc trường, nhất là đối với một số đơn vị đủ khả năng để triển khai thực hiện theo hình thức này căn cứ vào nhu cầu của xã hội và thực tế của chính đơn vị
5. Nhiều cơ sở GDĐH chưa có phương án khả thi để tăng cường tính tự chủ và nâng cao, ổn định nguồn tài chính trong dài hạn, đặc biệt các nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học chưa được khai thác hiệu quả như các cơ sở GDĐH lớn trên thế giới.

Thứ tư, một thực tế cần thừa nhận là, trong thời gian dài, mối gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, mục tiêu hợp tác nhiều khi mang tính hình thức. Dường như mối quan hệ này vẫn là hai đường thẳng đi song song với nhau. Nhà trường thì đánh giá doanh nghiệp không gắn với nhà trường, còn doanh nghiệp thì cho rằng công tác đào tạo kém, lao động không sử dụng được, phải đào tạo lại. Hai bên chủ yếu chỉ dừng lại ở việc đưa sinh viên đi thực tập, kiến tập tại doanh nghiệp. Thực hiện hiệu quả việc gắn kết giữa cơ sở GDĐH với doanh nghiệp, từ công tác tuyển sinh, đào tạo, thực tập đào tạo, thực hành sản xuất đến tuyển dụng và sử dụng lao động... là điều cần triển khai mạnh mẽ. Đó sẽ là khâu đột phá quan trọng tác động đến đổi mới quản trị đại học trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay.

Thứ năm, bất kỳ cơ sở GDĐH nào cũng có 02 hoạt động lõi là giảng dạy và nghiên cứu khoa học, do vậy, vị trí, vai trò của đội ngũ “chủ chốt” là giảng viên có trình độ cao, có kinh nghiệm là rất quan trọng cho cơ sở GDĐH đó phát triển bền vững. Nhưng trong thực tế, cơ chế hình thành chính sách và ra quyết định ở các cơ sở GDĐH hiện nay ít nhấn mạnh đến quyền hành, quyền hạn của đội ngũ cán bộ học thuật, giảng viên có trình độ cao (GS, PGS, TS) mà dành một quyền lực cao cho các bộ phận quản lí điều hành.

Thứ sáu, việc xác định vị trí và vai trò của người đứng đầu trường dưới góc độ pháp lí, quy định hiện hành liên quan và trong thực tế vẫn còn tình trạng mỗi cơ sở giáo dục có cách hiểu chưa thống nhất về vị trí, vai trò của người đứng đầu. Có quan điểm cho rằng, người đứng đầu của cơ sở GDĐH là người chủ tài khoản, là người có “thực quyền” trong quá trình điều hành các hoạt động thường nhật ở nhà trường. Hiệu trưởng cũng là người kí các quyết định về nhân sự liên quan đến các phòng chức năng, khoa chuyên môn trong trường. Cũng có quan niệm lại cho rằng, đó là chủ tịch hội đồng trường, vì được thực hiện theo cơ chế bầu. Chủ tịch hội đồng trường đồng thời cũng là bí thư đảng ủy tại cơ sở giáo dục. Trên thực tế, chúng tôi nhận thấy rằng, điều này là tùy vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, bối cảnh không gian, thời gian, từng con người cụ thể, từng mối quan hệ của các chủ thể của các cơ sở GDĐH để thực hiện nội dung này, thực hiện “văn hóa” người đứng đầu tại một cơ sở GDĐH công lập.

Một sự thật dễ nhận thấy là vẫn còn tình trạng chủ tịch hội đồng trường “luân chuyển” sang làm hiệu trưởng, còn chủ tịch hội đồng trường lại do lãnh đạo của một khoa chuyên môn đảm nhận. Đương nhiên, việc này cũng thông qua các quy trình, quy định có liên quan. Tùy vào điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở giáo dục đại học và các ê-kíp liên quan để quyền lực thực sự nằm ở chủ tịch hội đồng trường hay nằm ở hiệu trưởng.

Bên cạnh đó, những thách thức hiện hữu liên quan đến công tác quản trị tại các trường trong giai đoạn hiện nay còn thể hiện ở các khía cạnh liên quan đến việc hoạch định chính sách của các cơ sở GDĐH cần theo kịp để đào tạo gắn với nhu cầu xã hội, tránh tình trạng “đào tạo thừa”, đào tạo xong nhưng xã hội không sử dụng, không có nhu cầu; chưa kể, việc chuyển các trường từ trung cấp lên cao đẳng, từ cao đẳng lên đại học và cho ra đời nhiều trường đại học trong thời gian vừa qua (có giai đoạn, bộ nào cũng có trường đại học, thậm chí có những bộ, có nhiều cơ sở GDĐH trải dài khắp các vùng của cả nước) đã kéo chất lượng đào tạo đại học đi xuống, chưa ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, việc quy hoạch mạng lưới các cơ sở GDĐH để các trường kém chất lượng được chuyển đổi, công tác xây dựng hệ thống đại học Việt Nam đẳng cấp quốc tế chưa được quan tâm đúng mức.

3. Gợi mở những giải pháp cơ bản

Thứ nhất, văn hóa tổ chức và tầm nhìn của người lãnh đạo tại các cơ sở GDĐH cần nâng lên một tầm mới để thích ứng với sự thay đổi trong môi trường quản trị đại học đang có sự thay đổi. Khi văn hóa tổ chức và tầm nhìn của lãnh đạo thay đổi, nâng lên một “nấc” mới thì sẽ chi phối, quy định các vấn đề liên quan đến các cơ sở GDĐH, bao gồm tầm nhìn, giá trị, các mối quan hệ, các sản phẩm và dịch vụ,… của chính cơ sở GDĐH.

Thứ hai, khi có hội đồng trường đúng nghĩa, các cơ sở GDĐH nên nghiên cứu để tổ chức, quản lí như một doanh nghiệp, với các cơ chế hoạt động và giám sát hiệu quả.

Thứ ba, chú trọng xây dựng đội ngũ viên chức quản lí và giảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, chuyên môn cao, đủ về số lượng, phong cách quản lí, giảng dạy tiên tiến và hiện đại. Quan tâm đến công tác đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng mở, nội dung giảng dạy gắn với yêu cầu thực tiễn của ngành, chuyên ngành đào tạo.

4. Kết luận

Bối cảnh hiện nay, trong điều kiện Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) ra đời, có hiệu lực, GDĐH Việt Nam đan xen nhiều cơ hội và thách thức. Để phát huy tính tự chủ thì mỗi cơ sở GDĐH phải có đủ các nguồn lực, gắn với quá trình tự chủ từng phần, sau đó đến tự chủ toàn diện. Thực hiện tốt vấn đề tự chủ đại học sẽ mở ra những cơ hội phát triển lớn cho các trường đại học công lập nói chung và các đại học vùng nói riêng. Và muốn làm tốt điều đó, buộc các cơ sở GDĐH cần có chiến lược quản trị đại học phù hợp với quy luật, xu thế của sự phát triển.


Mỹ Latinh, Malaysia
Pháp và New Zealand
3 Singapore
4 Mỹ, Anh, Úc
Thường sẽ tập trung vào các trung tâm liên quan đến các mảng: Hợp tác quốc tế; ngoại ngữ; tin học
 
Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017). Hội nghị Tổng kết thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ giai đoạn 2014 - 2017.
3. Báo cáo tổng kết năm học 2021 - 2022 Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
4. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
5. Luật Giáo dục đại học (Sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014, 2015, 2018), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019.
6. Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08/9/2015 của Chính phủ quy định về tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học.
7. Trần Mai Ước (2019), Quán triệt Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, Hội thảo Khoa học quốc gia "Tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam cho các thập niên đầu của thế kỷ XXI", Nhà Xuất bản Thông tin và Truyền thông, ISBN 978-604-80-3965-3.
 
PGS.TS. Trần Mai Ước
Giảng viên Cao cấp, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đám bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đám bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
19/04/2024 0 lượt xem
Do nhu cầu tài chính phục vụ cho quá trình chuyển đổi của các doanh nghiệp ngày càng cao nên thị trường tín dụng liên kết bền vững toàn cầu tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Việt Nam cần nhanh chóng thúc đẩy và mở rộng hoạt động cho vay nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp ở đa dạng ngành, nghề thực hiện chiến lược phát triển bền vững.
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
12/04/2024 836 lượt xem
Phát triển bền vững đang là mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai, theo đó tăng trưởng xanh với sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường chính là tiền đề để thực hiện mục tiêu này.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
10/04/2024 884 lượt xem
Bài viết đề xuất một số khuyến nghị về xây dựng, thực thi chính sách tín dụng liên kết bền vững để góp phần đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam...
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
05/04/2024 1.149 lượt xem
Nghiên cứu trình bày về tầm quan trọng của ESG (Environmental - môi trường, Social - xã hội, Governance - quản trị) trong quá trình phát triển bền vững của ngân hàng, thực tiễn triển khai các hoạt động về ESG, các kết quả đạt được và thách thức, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy triển khai ESG trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
03/04/2024 1.060 lượt xem
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu tác động của tính minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility - CSR) đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng.
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
02/04/2024 993 lượt xem
Bài viết dựa trên cơ sở tổng quan về giám sát tài chính, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để rút ra một số bài học và khuyến nghị đối với công tác giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước tại Việt Nam hiện nay.
Kinh nghiệm thực thi chính sách tài chính khí hậu trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm thực thi chính sách tài chính khí hậu trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam
01/04/2024 1.004 lượt xem
Một trong những vấn đề khó khăn nhất hiện nay đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đó là việc thiếu nguồn lực tài chính để ứng phó với biến đổi khí hậu, hay còn gọi là tài chính khí hậu...
Xây dựng Sổ tay kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Xây dựng Sổ tay kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
28/03/2024 1.104 lượt xem
Để nâng cao tính chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm toán nội bộ NHNN phù hợp thông lệ quốc tế và các quy định về kiểm toán nội bộ của Việt Nam, một trong những yêu cầu hiện nay là nghiên cứu, rà soát, ban hành Sổ tay Kiểm toán nội bộ NHNN nhằm tập hợp, hệ thống hóa các quy định chung về kiểm toán nội bộ của NHNN.
Nâng cao chất lượng Chatbot chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nâng cao chất lượng Chatbot chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
25/03/2024 1.481 lượt xem
Trong kỉ nguyên số, Chatbot đóng vai trò vô cùng quan trọng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.
Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước
Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước
22/03/2024 2.201 lượt xem
Trong thị trường kinh tế, giao dịch phái sinh là một dạng hợp đồng dựa trên giá trị các loại tài sản cơ sở khác nhau như hàng hóa, chỉ số, lãi suất hay cổ phiếu (giấy tờ có giá).
Văn hóa số và lộ trình xây dựng
Văn hóa số và lộ trình xây dựng
11/03/2024 2.520 lượt xem
Hiện nay, quyết liệt chuyển đổi số, tạo dựng hệ sinh thái ngân hàng mở, tạo ra nền tảng phát triển bán lẻ, tăng doanh thu dịch vụ, gia tăng trải nghiệm của khách hàng là xu hướng chủ đạo của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam.
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
07/03/2024 3.402 lượt xem
Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ quốc gia có thu nhập thấp sang quốc gia có thu nhập trung bình. Song, những khó khăn nội tại và thách thức bên ngoài của nền kinh tế làm cho nguy cơ Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình là có thể.
Động lực và kì vọng mới cho tương lai
Động lực và kì vọng mới cho tương lai
07/03/2024 2.378 lượt xem
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và phu nhân Lê Thị Bích Trân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã bắt đầu chuyến công tác tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Australia; thăm chính thức Australia và New Zealand từ ngày 05 - 11/3/2024 theo lời mời của Thủ tướng Australia Anthony Albanese và Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon.
Vai trò, tầm quan trọng của ESG trong phát triển bền vững tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò, tầm quan trọng của ESG trong phát triển bền vững tại ngân hàng thương mại Việt Nam
05/03/2024 4.272 lượt xem
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp đang dần chú trọng hơn đến sự phát triển bền vững như một hướng đi quan trọng trong hoạt động kinh doanh.
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 2.874 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

81.800

83.800

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

81.800

83.800

Vàng SJC 5c

81.800

83.820

Vàng nhẫn 9999

74.800

76.700

Vàng nữ trang 9999

74.700

76.000


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,100 25,440 26,252 27,714 30,724 32,055 157.77 167.11
BIDV 25,130 25,440 26,393 27,618 30,763 32,067 158.12 166.59
VietinBank 25,090 25,443 26,504 27,799 31,154 32,164 160.64 168.59
Agribank 25,100 25,440 26,325 27,607 30,757 31,897 159.58 167.50
Eximbank 25,040 25,440 26,425 27,239 30,914 31,866 160.82 165.77
ACB 25,110 25,442 26,596 27,279 31,230 31,905 161.07 166.37
Sacombank 25,170 25,420 26,701 27,261 31,332 31,835 162.03 167.05
Techcombank 25,192 25,442 26,362 27,707 30,760 32,094 157.36 169.78
LPBank 24,960 25,440 26,088 27,611 30,970 31,913 158.36 169.76
DongA Bank 25,170 25,440 26,570 27,260 31,080 31,940 159.20 166.40
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,30
2,40
2,60
3,50
3,70
4,50
4,50
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,20
2,20
2,30
3,40
3,45
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,30
3,80
3,80
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?