Kinh nghiệm về công nghệ tài chính thông qua ngân hàng mở trên thế giới và giải pháp cho Việt Nam
02/04/2021 1.943 lượt xem
1. Giới thiệu về ngân hàng mở
 
Ngân hàng mở (Open banking) gần đây đã nổi lên như một xu hướng toàn cầu, được thúc đẩy bởi sự đổi mới, các quy định pháp lý và tốc độ phát triển của công nghệ tài chính (Fintech). Đồng thời, ngân hàng mở phát triển cũng vì lý do người tiêu dùng có nhu cầu được kiểm soát nhiều hơn cách thức sử dụng dữ liệu của họ. Ngân hàng mở cho phép truyền tải một cách an toàn, bảo mật những dữ liệu tài khoản đã được khách hàng ủy quyền cho ngân hàng cung cấp cho bên đối tác thứ ba (third-party service provider - TPP) (Brodsky & Oakes, 2017). Đồng thời, ngân hàng cũng cho phép bên thứ ba truy cập vào dữ liệu mở hay truy cập bảo mật đến các dữ liệu đóng để viết ứng dụng và cung cấp dịch vụ từ chính dữ liệu đó, trên cơ sở tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan.
 
Trong khi một số quốc gia đưa ra những quy định pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng mở, thì động lực chính để ngân hàng mở phát triển ở nhiều quốc gia là sự xuất hiện của Fintech và các sáng kiến ​​đổi mới về công nghệ tài chính (ví dụ: công ty Fintech cung cấp các công cụ quản lý tài chính để người tiêu dùng có thể theo dõi chi tiêu và vay nợ một cách hợp lý). Các tổ chức tài chính, ngân hàng sử dụng “Ứng dụng giao diện lập trình” (Application programming interfaces - API) để kết nối với các bên đối tác thứ ba như nhà cung cấp, các doanh nghiệp, các công ty Fintech để tạo thêm nhiều ứng dụng mới, cung cấp thêm tiện ích cho khách hàng. API là giao diện kết nối giữa phần mềm với phần mềm. Thực chất, AIP là một tập hợp các tính năng và quy trình cho phép tạo các ứng dụng truy cập vào dữ liệu của hệ điều hành hoặc ứng dụng khác. (Hình 1)
 
Hình 1: Mô hình ngân hàng mở
 

 
Nguồn: IPSI 2020

Lợi ích của ngân hàng mở so với hệ thống ngân hàng truyền thống là khả năng các tổ chức tài chính, ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ tài chính nâng cao, chia sẻ dữ liệu và cung cấp cho người tiêu dùng quyền kiểm soát tốt hơn về dữ liệu tài chính của họ. Khách hàng cũng giảm được chi phí giao dịch tài chính khi tiếp cận được nhiều nguồn thông tin, gia tăng sự lựa chọn sản phẩm dịch vụ, đáp ứng tối đa nhu cầu giao dịch tài chính, nâng cao trải nghiệm khách hàng (Pandy, 2020). Về phía ngân hàng, lợi ích của ngân hàng mở là giúp hệ thống ngân hàng thích ứng với mô hình kinh doanh mới bên cạnh mô hình kinh doanh truyền thống. Ngân hàng sẽ tận dụng được nguồn lực bên ngoài để nâng cao năng lực gia tăng sản phẩm dịch vụ mới, ứng dụng công nghệ hiện đại, cũng như cơ hội tiếp cận những khách hàng mới và bán chéo sản phẩm dịch vụ (Phạm Loan, 2020).
 
2. Hệ thống pháp lý về quản lý ngân hàng mở
 
Nhiều nước trên thế giới đã xây dựng hoặc đang trong quá trình xây dựng khung pháp lý cho ngân hàng mở với nhiều cách tiếp nhận khác nhau như yêu cầu, thúc đẩy hoặc cho phép thực hiện. Nhìn chung, khung pháp lý của các nước đều hướng đến cơ chế hỗ trợ các ngân hàng chia sẻ dữ liệu khách hàng được phép cho các bên đối tác thứ ba. 
 
Liên minh châu Âu (EU) đang dẫn đầu về các sáng kiến ngân hàng mở sau khi ra mắt khuôn khổ quy định vào tháng 01/2018 về “Chỉ thị dịch vụ thanh toán sửa đổi” (PSD2) và Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) điều chỉnh việc bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư cho tất cả các cư dân EU. PSD2 yêu cầu rằng: (i) Các tổ chức tài chính, ngân hàng (Financial Institution-FIs) cung cấp cho bên đối tác thứ ba quyền truy cập vào dữ liệu khách hàng thông qua mở các API; và (ii) Các tổ chức tài chính, ngân hàng và các bên thứ ba thực hiện các biện pháp kiểm soát bảo mật dữ liệu liên quan (EU-Led, 2018). PSD2 đã đưa ra một khuôn khổ pháp lý về cách thức chia sẻ dữ liệu của các tổ chức dịch vụ tài chính như thế nào, cũng như quy định về việc các bên thứ ba nên bảo vệ dữ liệu người tiêu dùng và sử dụng như thế nào những dữ liệu mà họ thu thập được. 
 
Tại châu Á, Cơ quan Quản lý tiền tệ Singapore (MAS) đi đầu trong phong trào ngân hàng mở với bộ khung tiêu chuẩn về hoạt động ngân hàng mở ban hành năm 2016, thông qua việc đóng góp ý kiến của các ngân hàng và tổ chức tài chính trong nước (ndgit, 2019). Ngân hàng Trung ương Hồng Kông (HKMA) cũng đã ban hành khung pháp lý về API mở (Open API) vào tháng 01/2018, nhằm xác định các tiêu chuẩn kỹ thuật tiền đề, hướng tới các quy định pháp lý về ngân hàng mở trong thời gian tới. Tại Nhật Bản, Luật Ngân hàng sửa đổi yêu cầu các ngân hàng phải phát triển API để các doanh nghiệp bên ngoài có thể tích hợp sử dụng được. Chính phủ Úc hiện đang thúc đẩy một cơ chế ngân hàng mở, ban hành “Quyền truy cập dữ liệu” (CDR) vào tháng 8/2019 cho phép khách hàng kiểm soát dữ liệu của họ và chia sẻ dữ liệu với các bên thứ ba (tương tự như GDPR). Chính phủ Úc cũng yêu cầu bốn ngân hàng lớn nhất của Úc (Commonwealth Bank, Westpac, ANZ và NAB) chính thức cung cấp dữ liệu tài chính cho người tiêu dùng vào tháng 7/2020; đồng thời, thiết lập Cơ quan Tiêu chuẩn dữ liệu, nhằm đặt nền móng cho việc chia sẻ dữ liệu xuyên ngành. Tại New Zealand, Chính phủ đã đưa ra chương trình thử nghiệm API năm 2018. Chương trình thử nghiệm tại New Zealand mang tên “Payments NZ” do nhà nước quản lý với sự tham gia của 6 thành viên bao gồm các ngân hàng và bên đối tác thứ ba: ASB, BNZ, Datacom, Paymark, Trade Me và Westpac (Price Waterhouse Coopers, 2018).
 
Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020. Tiếp đến là Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chỉ thị yêu cầu các bộ, ban, ngành, địa phương xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, công nghệ số để đảm bảo an toàn, an ninh, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tận dụng một cách triệt để sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bước đầu xây dựng, thử nghiệm và dần hoàn thiện các khung pháp lý để quản lý hoạt động ngân hàng mở. Cụ thể, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 328/QĐ-NHNN ngày 16/3/2017 về việc thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo về lĩnh vực công nghệ tài chính của NHNN. Tháng 6/2018, Cục Công nghệ thông tin (CNTT) thuộc NHNN đã tiến hành khảo sát Open API trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Tháng 10/2018, Cục CNTT ký biên bản hợp tác chung với Cơ quan Xúc tiến CNTT Hàn Quốc và Viện Tài chính viễn thông - Thanh toán bù trừ Hàn Quốc (KFTC) về giao diện Open API trong lĩnh vực ngân hàng (Nguyễn Nhâm, 2020). Kết quả khảo sát là cơ sở để NHNN ban hành chuẩn dữ liệu về ngân hàng mở, tạo điều kiện cho các ngân hàng và các công ty Fintech phát triển hoạt động ngân hàng mở theo đúng định hướng, nhằm nắm bắt các xu thế phát triển khoa học và công nghệ trên thế giới và vẫn đảm bảo được mục tiêu ổn định tài chính quốc gia. 
 
3. Phát triển ngân hàng mở trên thế giới 
 
Sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng đang thúc đẩy các ngân hàng ngoài việc cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ trực tuyến và di động truyền thống, cần phải chuyển sang các lựa chọn thay thế có thể tăng mức độ tương tác của khách hàng với dữ liệu của ngân hàng. Theo một cuộc khảo sát ngân hàng bán lẻ toàn cầu năm 2018 của Tổ chức tài chính Oracle, khách hàng đang đòi hỏi trải nghiệm ngân hàng kỹ thuật số thông minh hơn và phù hợp hơn. Khoảng 69% khách hàng muốn toàn bộ lịch sử tài chính của họ trên các kênh kỹ thuật số và 30% muốn thử nghiệm dịch vụ tài chính của các công ty Fintech hoặc đối thủ cạnh tranh của ngân hàng (Oracle Financial Services, 2018). Vì vậy, nhiều ngân hàng đang xem xét việc phát triển ngân hàng mở theo hướng cộng tác với các công ty Fintech thông qua API, nhằm tận dụng thế mạnh của cả hai bên và cải thiện trải nghiệm khách hàng được tốt hơn theo cách của từng bên tham gia.
 
Tại Anh: Năm 2019, Cơ quan Quản lý cạnh tranh và điều hành thị trường Anh (CMA) đã yêu cầu 9 ngân hàng lớn (HSBC, Barclays, RBS, Santander, Bank of Ireland, Allied Irish Bank, Danske, Lloyds và Nationwide) phải công bố chuẩn dữ liệu và cấp quyền truy cập dữ liệu bảo mật cho các bên thứ ba được ủy quyền (Nguyễn Nhâm, 2020).
 
Tại Mỹ: Các tổ chức tài chính và ngân hàng coi ngân hàng mở là chất xúc tác cho chuyển đổi kỹ thuật số. Tuy nhiên, họ phải đối mặt với những thách thức bắt nguồn từ việc các ngân hàng có hệ thống máy tính lớn, cũ và phức tạp nên khó tích hợp với các công ty Fintech khi tiến hành tự động hóa, số hóa và mở rộng quy mô. Trong khi nhiều ngân hàng lớn đang chuyển sang hạ tầng dữ liệu đám mây (cloud-based infrastructure), chi phí cho việc mở rộng và mức độ co giãn phạm vi tiếp cận ngân hàng kỹ thuật số đang là một trở ngại cho việc thực hiện tích hợp. Hiện tại, con đường phát triển của ngân hàng mở ở Hoa Kỳ vẫn chưa chắc chắn, bao gồm cả nghi ngờ về một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng và công ty Fintech, cũng như tiêu chuẩn hóa các công nghệ chia sẻ dữ liệu cho phép các ngân hàng chia sẻ dữ liệu với đối tác chiến lược và tăng tốc đổi mới (Pandy, 2020). Hơn nữa, sở thích và mức độ hiểu biết của người tiêu dùng vẫn chưa rõ ràng về ngân hàng mở. Đến nay, Mỹ cũng là quốc gia mà Chính phủ ban hành ít quy định nhất về ngân hàng mở (Capgemini Research Institute, 2019). 
 
Tại Singapore: Năm 2017, Ngân hàng DSB đã ra mắt cổng phát triển API lớn nhất với hơn 155 API có sẵn, mở đầu cho hệ sinh thái ngân hàng mở tại nước này. MAS hoan nghênh và tạo điều kiện cho các ngân hàng thực hiện ngân hàng mở trên tinh thần tự nguyện (ndgit, 2019).
 
Tại Úc: Tiến trình thực hiện ngân hàng mở là bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Trung ương, với bốn ngân hàng hàng đầu phải tuân theo tiến trình này vào tháng 2/2020, các ngân hàng và công ty tài chính nhỏ hơn phải tuân thủ vào tháng 2/2021 (Pandy, 2020)
 
Tại Nhật Bản: Tương tự như Úc, Ngân hàng Trung ương ban hành chỉ thị yêu cầu 80% các ngân hàng và công ty tài chính phải có API vào năm 2020. Đi đầu là Tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ cung cấp cho các bên đối tác thứ ba quyền truy cập bảo mật vào cơ sở dữ liệu của ngân hàng trong một phần tiến trình dự án ngân hàng mở của họ (Pandy, 2020).
 
Tại New Zealand: Chưa có luật cụ thể cho ngân hàng mở và thị trường đang phát triển và thử nghiệm thông số kỹ thuật API mới trong một quá trình gồm năm giai đoạn. Trong đó, ứng dụng “Jude” cho phép người dùng liên kết tất cả các tài khoản ngân hàng của họ trên một nền tảng công nghệ và quản lý tài khoản thông qua một cổng kỹ thuật số duy nhất (Wells & Anderson, 2018).
 
Tại Hồng Kông: HKMA đã đưa ra Open API trên trang thông tin điện tử chính thức của mình vào tháng 7/2018. Trong đó, có khoảng 130 bộ thông tin bao trùm dữ liệu tài chính - ngân hàng và thông tin khác đã được cung cấp cho tiến trình API mở theo các giai đoạn, bao gồm số liệu thống kê về tỉ giá, lãi suất của đô la Hồng Kông, thông tin ngân hàng và thị trường tài chính, các quỹ đầu tư... Các bên liên quan và người tiêu dùng có thể sử dụng nguồn thông tin trên để nghiên cứu hoặc để phát triển các ứng dụng mới (Pandy, 2020).
 
Tại Trung Quốc: Ngân hàng mở được đi đầu bởi các công ty công nghệ lớn như Tencent và Ant Financial. Cụ thể là, khi người tiêu dùng hay doanh nghiệp nhỏ đăng ký một khoản vay trên Ant Financial’s Mybank, API sẽ tự động cung cấp thông tin cho vay của một hoặc nhiều ngân hàng để người tiêu dùng dễ dàng so sánh, lựa chọn (Pandy, 2020).
 
4. Phát triển ngân hàng mở tại Việt Nam
 
Nhận thức tầm quan trọng và xu thế tất yếu của việc sử dụng API mở trong việc phát triển mô hình kinh doanh mới, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam cũng đang nghiên cứu, triển khai từng bước ứng dụng Open API với các đối tác/nhà cung cấp dịch vụ. Đại dịch Covid-19 đã và đang gây ảnh hưởng đến thị trường cung cấp dịch vụ tài chính Việt Nam. Tại Diễn đàn dịch vụ tài chính và Hội thảo Future Banking diễn ra ngày 28/5/2020, với chủ đề “Phát triển các dịch vụ bảo hiểm; kinh doanh chứng khoán trên nền tảng số và hiện thực hóa mô hình ngân hàng mở - giải pháp giúp các tổ chức tài chính vượt qua khó khăn do dịch Covid-19” tại Việt Nam do Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế Việt Nam và Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Việt Nam đồng tổ chức, các chuyên gia nhận định: Ngoài các giải pháp hỗ trợ của Chính phủ, các tổ chức tài chính cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động cung ứng dịch vụ của mình để thoát khỏi suy thoái. Trong đó, việc ứng dụng API được cho là xu thế phù hợp và được nhiều ngân hàng triển khai thực hiện. 
 
Đi đầu là Vietcombank đã hợp tác triển khai với các công ty Fintech ở đa dạng các lĩnh vực thông qua chia sẻ API mở bao gồm: triển khai y tế thông minh  với gần 80 đơn vị, trong đó phát hành thẻ Vietcombank tích hợp với thẻ khám chữa bệnh, cung cấp dịch vụ thanh toán viện phí trên thiết bị di động thông minh; hợp tác với 232 đơn vị trường học, trường đại học cung ứng dịch vụ thanh toán học phí đa dạng như Internet banking, Mobile banking, Autodebit, Quầy giao dịch, E-commerce; hợp tác với 5 tổng công ty điện lực và hơn 30 công ty nước trên toàn quốc để được ủy quyền trích nợ tự động tiền điện, nước theo yêu cầu của khách hàng. Ngoài ra, Vietcombank còn triển khai giao thông thông minh tích hợp với hệ thống soát vé trong giao thông công cộng; thu thuế, phí, lệ phí tự động; kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ để tối ưu hóa nhu cầu mua sắm, giải trí của khách hàng.
 
Với yêu cầu của khách hàng ngày càng cao và công nghệ ngày càng phát triển như hiện nay, một số ngân hàng như VietinBank, BIDV, Techcombank cũng hướng đến việc phát triển ngân hàng mở qua mở rộng kết nối với các đối tác, công ty Fintech và các doanh nghiệp ở ngành nghề khác nhau. Qua đó, ngân hàng sẽ cung cấp API dịch vụ tài chính, ngân hàng lồng ghép vào dịch vụ của các đối tác trên thị trường, từ đó tạo hệ sinh thái phục vụ tốt nhất cho khách hàng. 
 
Ngoài ra, việc chia sẻ dữ liệu ngân hàng với người tiêu dùng nói chung để đạt đến mức độ tích hợp lịch sử giao dịch tài chính trên một giao diện vẫn đang là lĩnh vực được nghiên cứu để triển khai. Thực hiện được điều này sẽ giúp khách hàng quản lý tài chính tốt hơn cũng như truy cập thông tin của các nhà cung cấp trên cùng một giao diện để dễ dàng so sánh, lựa chọn.
 
5. Một số thách thức và giải pháp phát triển ngân hàng mở tại Việt Nam
 
Tình hình thực tế phát triển ngân hàng mở ở Việt Nam hiện nay cho thấy, về cơ bản, việc xây dựng API mở vẫn đang thực hiện một cách riêng lẻ (point-to-point) và chưa được chuẩn hóa, phần lớn do ngân hàng và đối tác tự xây dựng dựa trên nhu cầu của nhau. Đồng thời, chi phí xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin trong dịch vụ tài chính khá lớn. Hiện nay, các công nghệ tài chính chỉ xử lý các ứng dụng chung, để áp dụng trong các trường hợp liên kết cụ thể sẽ đòi hỏi cấu hình mạnh hơn nhiều. Điều này có thể là một thách thức đối với các ngân hàng vừa và nhỏ. Mặt khác, vấn đề bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng cũng là một thách thức khi phải chia sẻ với bên thứ ba, trong khi đảm bảo an toàn thông tin tài chính của khách hàng vẫn là tiêu chí hàng đầu của các ngân hàng từ trước đến nay.
 
Vì vậy, một số giải pháp phát triển ngân hàng mở tại Việt Nam được đề xuất:
 
Đối với Chính phủ và cơ quan quản lý Nhà nước: Chính phủ cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về ngân hàng mở như các nước trên thế giới và trong khu vực. Cụ thể, Chính phủ cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về chuẩn trao đổi thông tin, các hàm API bắt buộc, các chuẩn mã hóa dữ liệu, hay tiêu chuẩn thiết kế các API. Bên cạnh đó, Chính phủ nên xem xét thành lập một trung tâm trung gian làm nhiệm vụ thẩm định, chứng nhận, cấp phép và kiểm tra các bên thứ ba được phép sử dụng Open API của ngân hàng.
 
Đối với các ngân hàng thương mại và công ty tài chính: Nên có định hướng và lộ trình để mở rộng triển khai ngân hàng mở, đồng thời đảm bảo an toàn, tối ưu hóa về chi phí. Cụ thể: Từng bước chuẩn hóa API; xây dựng mô hình chuẩn để kết nối thông tin giữa ngân hàng và công ty Fintech; xây dựng bộ quy định tiêu chuẩn Fintech; đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin, xây dựng và triển khai các hệ thống đảm bảo an ninh CNTT, nghiên cứu và xây dựng, áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin.
 
Đối với các bên đối tác thứ ba: Các bên đối tác thứ ba thường có quy mô nhỏ hơn rất nhiều so với ngân hàng, tiếp cận công nghệ tiên tiến dễ dàng và linh hoạt nhưng cần có chiến lược đầu tư lâu dài trong việc hợp tác với ngân hàng, trên cơ sở phát huy lợi thế của ngân hàng mở và phải đảm bảo sử dụng đúng quyền truy cập thông tin của ngân hàng, bảo mật thông tin cho khách hàng.
 
Đối với người tiêu dùng: Trước khi triển khai chính thức ngân hàng mở, cần đạt được sự tin tưởng của người tiêu dùng bằng cách cung cấp các dịch vụ an toàn, giáo dục đầy đủ về ngân hàng mở và các dịch vụ mới.
 
Tóm lại, việc áp dụng API mở vào trong ngân hàng sẽ giúp hiện đại hóa và đa dạng hóa các dịch vụ tài chính, giúp các bên thứ ba phát huy khả năng sáng tạo, viết ứng dụng và cung cấp dịch vụ mới, khách hàng kiểm soát thông tin tài chính và trải nghiệm dịch vụ tốt hơn. Tuy nhiên, thách thức của việc triển khai ngân hàng mở là đảm bảo cân bằng giữa an toàn và phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo vệ dữ liệu khách hàng. Để triển khai ngân hàng mở hiệu quả, cần có hành lang pháp lý để giúp cho các ngân hàng, tổ chức tài chính có định hướng đầu tư công nghệ và hợp tác với nhau trong tương lai.

Tài liệu tham khảo:
 
1. Brodsky, Laura; Oakes, Liz (2017). “Data sharing and open banking”. McKinsey & Company. Archived from the original on 8 November 2017. 
 
2. Capgemini Research Institute. (2019). World payments report 2019. Truy cập tại https://worldpaymentsreport.com/resources/world-payments-report-2019/.
 
3. Chính phủ (2017). Chỉ thị 16/CT-TTg “Tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4” ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ.
 
4. Competition and Marketing Authority (2017) "The Retail Banking Market Investigation Order 2017 - Gov.uk.” 6/11/2014. Truy cập tại https://assets.publishing.service.gov.uk/media/5893063bed915d06e1000000/retail-banking-market-investigation-order-2017.pdf.
 
5. EUR- Led “Directive (EU) 2015/2366 of the European Parliament and of the Council of 25 November 2015 on payment services in the internal market, amending Directives 2002/65/EC, 2009/110/ EC and 2013/36/EU and Regulation (EU) No 1093/2010, and repealing Directive 2007/64/ EC. Truy cập tại https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A32015L2366.
 
6. Mai Ca (2020). Ngân hàng mở - giúp ngành tài chính vượt bão Covid-19. Công thương 5/2020. Truy cập tại https://congthuong.vn/ngan-hang-mo-giup-nganh-tai-chinh-vuot-bao-covid-19-138085.html.
 
7. ndgit (2019) Open banking: The global evolution in banking. Truy cập tại https://nextdigitalbanking.com/open-banking-whitepaper-article?lang=en. 
 
8. Nguyễn Nhâm (2020). Ngân hàng mở: Xu thế của thời đại 4.0. Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ 8/2020.
 
9. Pandy, Susan (2020). “Developments in Open Banking and APIs: Where Does the US Stand”.  Payment Strategies.  Federal Reserve, Bank of Boston 3/2020.
 
10. PriceWaterhouseCoopers (2018, April). Open banking; US is next. Financial Crimes Observer. Truy cập tại https://www.pwc.com/il/he/bankim/assets/2018/Open%20banking-US%20is%20next.pdf
 
11. Phạm Châu Loan (2020). Cơ chế chia sẻ dữ liệu trong hợp tác ngân hàng với fintech nhằm phát triển ngân hàng mở. Future Banking Conference. IDG 2020.
 
12. Wells, R. and Anderson, K. (2018). Open banking - what it means for New Zealand’s financial services sector. Truy cập tại https://minterellison.co.nz/our-view/open-banking-what-it-means-for-new-zealandsfinancial-services-sector.
 
TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung, TS. Hoàng Hải Yến
Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Ảnh hưởng của biểu hiện vật chất tại các ngân hàng thương mại nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến hành vi tiêu dùng của khách hàng
Ảnh hưởng của biểu hiện vật chất tại các ngân hàng thương mại nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến hành vi tiêu dùng của khách hàng
19/01/2024 180 lượt xem
Hành vi tiêu dùng của khách hàng trong nghiên cứu này được tiếp cận theo hướng sự ủng hộ của khách hàng, được đo lường bằng 3 chỉ tiêu: Doanh số, lợi nhuận và tỉ lệ giữ chân khách hàng. Trên cơ sở kết quả khảo sát từ 238 nhân viên đang làm việc tại các chi nhánh ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
Tạo lập nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước từ trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh hiện nay
Tạo lập nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước từ trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh hiện nay
29/12/2023 377 lượt xem
Tín dụng đầu tư là một hình thức hỗ trợ vốn của Nhà nước đối với các tổ chức kinh tế thông qua hoạt động cho vay trung và dài hạn để đầu tư vào các dự án thuộc các ngành, nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn được Nhà nước khuyến khích đầu tư.
Đo lường khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại từ mô hình kì tới hạn trong quản lí rủi ro lãi suất
Đo lường khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại từ mô hình kì tới hạn trong quản lí rủi ro lãi suất
18/12/2023 917 lượt xem
Nghiên cứu này với mục đích cung cấp phương pháp đo lường về khả năng thanh toán dựa trên trạng thái vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại (NHTM) thông qua mô hình kì tới hạn (The Maturity Model) trong quản lí rủi ro lãi suất.
Giám sát rủi ro biến đổi khí hậu của ngân hàng trung ương các nước châu Âu và gợi ý cho Việt Nam
Giám sát rủi ro biến đổi khí hậu của ngân hàng trung ương các nước châu Âu và gợi ý cho Việt Nam
05/12/2023 782 lượt xem
Rủi ro tài chính liên quan đến biến đổi khí hậu đã làm phát sinh những rủi ro đáng kể cho sự ổn định tài chính ở mỗi quốc gia.
Tác động tràn của chính sách tiền tệ Mỹ đến thị trường tài chính Việt Nam
Tác động tràn của chính sách tiền tệ Mỹ đến thị trường tài chính Việt Nam
04/12/2023 1.238 lượt xem
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một trong những chính sách quan trọng nhất trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ.
Các tổ chức tài chính vi mô - Quá trình chuyển đổi tại Việt Nam
Các tổ chức tài chính vi mô - Quá trình chuyển đổi tại Việt Nam
01/12/2023 983 lượt xem
Quá trình chuyển đổi của các tổ chức tài chính vi mô (TCVM) tại Việt Nam là một sự phát triển tất yếu theo quan điểm học thuật và thực tiễn quá trình hoạt động của TCVM trên thế giới.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tiền gửi không kì hạn của các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tiền gửi không kì hạn của các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Cần Thơ
30/11/2023 1.257 lượt xem
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ CASA của các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Rủi ro đạo đức và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định gây ra rủi ro đạo đức của nhân viên trong bộ phận tín dụng của các ngân hàng thương mại
Rủi ro đạo đức và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định gây ra rủi ro đạo đức của nhân viên trong bộ phận tín dụng của các ngân hàng thương mại
29/11/2023 1.564 lượt xem
Nghiên cứu này tập trung vào vấn đề rủi ro đạo đức và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định gây ra rủi ro đạo đức của nhân viên trong bộ phận tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Khả năng sử dụng dịch vụ tài chính số của người trung niên tại Việt Nam - Cách tiếp cận từ dân trí tài chính
Khả năng sử dụng dịch vụ tài chính số của người trung niên tại Việt Nam - Cách tiếp cận từ dân trí tài chính
28/11/2023 1.273 lượt xem
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của dân trí tài chính dưới góc độ xem xét cả ba yếu tố: Kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính lên khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính số (Digital financial services - DFS) của người trung niên tại Việt Nam.
Hoạt động cho vay của ngân hàng Việt Nam trước ảnh hưởng của thị trường tập trung
Hoạt động cho vay của ngân hàng Việt Nam trước ảnh hưởng của thị trường tập trung
27/11/2023 1.451 lượt xem
Nghiên cứu phân tích tác động của cấu trúc thị trường tập trung đến khả năng mở rộng cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM).
Các nhân tố ảnh hướng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại Việt Nam
Các nhân tố ảnh hướng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại Việt Nam
21/11/2023 1.726 lượt xem
Nợ xấu là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên thế giới như “Non - performing loans” (NPLs), “doubtful debt” chỉ các khoản nợ khó đòi (Fofack, 2005) hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997) hoặc khoản nợ không trả được (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst và Young, 2004) hay các khoản cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Peter Rose, 2004; Mishkin, 2010).
Tác động của tài chính số tới sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Tác động của tài chính số tới sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
16/11/2023 1.210 lượt xem
Bài viết nghiên cứu tác động của tài chính số đến sự ổn định của NHTM, từ đó, đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy tài chính số phát triển tại Việt Nam.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
30/10/2023 1.429 lượt xem
Nghiên cứu xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2021. Nguồn dữ liệu sử dụng trong phân tích được thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 26 NHTM ở Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2021. Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM) và mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model - FEM) được sử dụng để phân tích dữ liệu.
Các nhân tố tác động đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam
Các nhân tố tác động đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam
16/10/2023 2.054 lượt xem
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi sử dụng ví kĩ thuật số tại Việt Nam, thông qua việc áp dụng mô hình lí thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology - UTAUT2) của Venkatesh, Thong và Xu (2012). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 715 người tiêu dùng Việt Nam.
Tác động của hệ thống phí bảo hiểm tiền gửi phân biệt đến hoạt động và mức độ sẵn sàng tham gia của các tổ chức  tín dụng
Tác động của hệ thống phí bảo hiểm tiền gửi phân biệt đến hoạt động và mức độ sẵn sàng tham gia của các tổ chức tín dụng
29/09/2023 2.100 lượt xem
Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của hệ thống tính phí bảo hiểm tiền gửi (BHTG) phân biệt đến hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam và đánh giá mức độ sẵn sàng tham gia của các tổ chức này, thông qua việc sử dụng phương pháp mô phỏng và phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy trên mẫu dữ liệu 215 tổ chức tín dụng tham gia BHTG.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

74.500

77.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

74.500

77.500

Vàng SJC 5c

74.500

77.520

Vàng nhẫn 9999

63.400

64.700

Vàng nữ trang 9999

63.100

64.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,330 24,700 25,777 27,192 30,165 31,449 158.62 167.89
BIDV 24,380 24,690 25,962 27,169 30,297 31,455 159.71 168.14
VietinBank 24,290 24,710 26,000 27,195 30,584 31,594 160.24 168.19
Agribank 24,320 24,670 25,943 26,957 30,363 31,342 160.38 165.98
Eximbank 24,300 24,690 26,040 26,870 30,446 31,417 160.82 165.95
ACB 24,330 24,680 26,090 26,742 30,662 31,302 160.72 165.89
Sacombank 24,330 24,795 26,208 26,773 30,767 31,257 161.56 166.6
Techcombank 24,358 24,704 25,849 27,190 30,175 31,503 156.87 169.29
LPBank 24,120 25,030 25,976 27,305 30,612 31,554 159.02 170.51
DongA Bank 24,370 24,670 26,070 26,720 30,520 31,320 158.80 165.80
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?