Hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam
28/09/2022 17.917 lượt xem
Tóm tắt:
 
Với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, một phương thức cho vay trực tuyến mới xuất hiện là cho vay ngang hàng (Peer-to-Peer Lending/P2P Lending). P2P Lending là hoạt động được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay mà không thông qua các tổ chức trung gian tài chính. Nhờ ứng dụng nền tảng công nghệ kỹ thuật số, thủ tục, quy trình cho vay, giải ngân cũng được tối giản, tiết kiệm thời gian. Mặc dù có nhiều lợi thế hơn so với cho vay truyền thống, nhưng hoạt động P2P Lending cũng gây ra một số rủi ro. Vì vậy, bài nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò cũng như những rủi ro của hoạt động P2P Lending. Từ đó đề xuất các khuyến nghị chính sách đối với hoạt động P2P Lending tại Việt Nam.
 
Từ khóa: P2P Lending, rủi ro, Việt Nam.
 
PEER - TO - PEER LENDING IN VIETNAM
 
Abstract: Along with development of digital technology, Peer-to-peer (P2P) Lending, an online lending activity, has recently been growing rapidly. P2P Lending is designed and operated on digital technology platform, in which lenders and borrowers can connect directly with each other instead of via financial institutions. P2P Lending can simplify lending procedures, paperworks and save time in transferring fund. However, P2P Lending could cause risks to the financial monetary security and stability. The paper aims to analyze benefits and risks relating to P2P Lending activity. Then, authors suggest recommendations to P2P Lending activity in Viet Nam.
 
Keywords: Peer-to-peer Lending, risk, Viet Nam.
 
1. Quy mô hoạt động P2P Lending tại Việt Nam
 
Tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện công ty hoạt động giống mô hình P2P Lending từ năm 2016 với trang huydong.com. Kể từ đó, nhiều công ty P2P Lending khác đã dần đi vào hoạt động, như Tima, SHA, Mobivi, Vaymuon.vn, Mofin…
 
Theo Báo cáo tài chính khu vực châu Á - Thái Bình Dương lần 3, quy mô của thị trường P2P Lending Việt Nam khá nhỏ so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chiếm 1,6% khối lượng giao dịch của khu vực, chỉ xếp trên Nepal và Kazakhstan (University of Cambridge JBS, 2018). Điều này cũng phù hợp với tuổi đời còn non trẻ của mô hình P2P Lending tại Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam có nhiều tiềm năng thích hợp cho sự phát triển của mô hình này dựa trên sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, Internet, thiết bị di dộng và đặc biệt là dữ liệu lớn (Big Data). Bên cạnh đó, sự thay đổi về cơ cấu dân số học, đặc biệt là thế hệ trẻ sẵn sàng thích ứng với công nghệ mới và mong muốn được cung cấp các dịch vụ tài chính thuận lợi và nhanh chóng hơn nên dễ dàng chấp nhận các sản phẩm dịch vụ mới như P2P Lending1
 
Thống kê sơ bộ của Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam hiện có khoảng 100 công ty P2P Lending (bao gồm cả công ty đã đi vào hoạt động chính thức và một số công ty đang trong giai đoạn thử nghiệm) như Tima, Trust Circle, Vay mượn, Lendmo, Wecash, InterLoan… (Bảng 1). Tuy nhiên, thực tế số doanh nghiệp hoạt động P2P Lending có thể nhiều hơn và rất khó đo lường một cách chính xác vì hiện nay các cơ quan quản lý chưa tổ chức thống kê chính thức các thông tin liên quan đến doanh nghiệp triển khai hoạt động P2P Lending tại Việt Nam. 

Bảng 1: Danh sách một số công ty P2P Lending truyền thống hoạt động tại Việt Nam


Nguồn: Lender.vn
 
Tuy mới xuất hiện và tồn tại khoảng 5 năm, các công ty P2P Lending đã đưa ra các sản phẩm vay vốn trên các nền tảng trực tuyến khá đa dạng, gồm: Vay có tài sản bảo đảm và vay không có tài sản bảo đảm, trong đó chủ yếu là vay không có tài sản bảo đảm. Đối với khoản vay cá nhân, các công ty P2P Lending đưa ra các sản phẩm vay tín chấp theo lương, vay theo sổ hộ khẩu, vay theo đăng ký xe máy, vay trả góp, vay theo hóa đơn điện, nước... Đối với doanh nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ - SMEs), các công ty P2P Lending cũng đưa ra nhiều sản phẩm, dịch vụ như vay tài trợ các khoản phải thu, tài trợ bên mua hàng, tài trợ vốn lưu động, tài trợ thương mại điện tử... (Bảng 2)
 
Bảng 2: Số nền tảng P2P Lending theo quốc gia và theo đơn vị tiền tệ


Nguồn: https://p2pmarketdata.com/p2p-finance-worldwide-statistics/
 
2. Đánh giá vai trò và rủi ro trong hoạt động P2P Lending tại Việt Nam
 
Hoạt động P2P Lending tại thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, cần được hoàn thiện hơn về mọi mặt, cần đặt dưới sự quản lý sát sao của cơ quan quản lý. Trong thời gian tới, hoạt động P2P Lending tại Việt Nam được kỳ vọng sẽ góp phần hỗ trợ phổ cập tài chính, mở rộng khả năng và tạo thêm kênh tiếp cận nguồn lực tài chính, cách thức cho vay đối với nền kinh tế, nhất là đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội nhưng có khả năng tiếp cận Internet, qua đó có thể góp phần đẩy lùi tình trạng “tín dụng đen”.
 
Để đánh giá vai trò và rủi ro trong hoạt động P2P Lending, nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu khảo sát đối với 55 chuyên gia đến từ các tổ chức tín dụng (TCTD), các công ty Fintech và các trung gian. Kết quả khảo sát được thể hiện thông qua phân tích trong các nội dung tiếp theo. Thống kê dữ liệu khảo sát được thể hiện qua Bảng 3.

Bảng 3: Thống kê dữ liệu khảo sát


Nguồn: Kết quả thu được từ dữ liệu khảo sát
 
2.1. Vai trò của hoạt động P2P Lending 
 
Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động Fintech nói chung và hoạt P2P Lending nói riêng do có tỷ lệ người dân tiếp cận dịch vụ viễn thông và sử dụng điện thoại di động ở mức cao. Theo số liệu của Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông công bố, đến quý II/20222 số thuê bao điện thoại di động có phát sinh lưu lượng ở Việt Nam khoảng 123,87 triệu thuê bao, trong đó số thuê bao đang hoạt động có sử dụng dữ liệu là gần 78,66 triệu thuê bao. Đồng thời, theo kết quả điều tra dân số tháng 8/2022, Việt Nam hiện có hơn 99 triệu dân, đứng thứ 15 trên thế giới, thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines). Đây là điều kiện quan trọng cho sự phát triển hoạt động P2P Lending tại Việt Nam.

Hình 1: Vai trò của hoạt động P2P Lending tại Việt Nam 
(điểm trung bình của các chuyên gia)


Nguồn: Kết quả thu được từ khảo sát

 
Kết quả khảo sát các chuyên gia (Hình 1) cho thấy hoạt động P2P Lending tại Việt Nam được kỳ vọng có những vai trò chính như sau:
 
Thứ nhất, những đổi mới, sáng tạo trong lĩnh vực P2P Lending đã đem lại những lợi ích to lớn đối với các tổ chức tài chính - ngân hàng bằng cách bổ khuyết, cải tiến hoặc giải quyết tính thiếu hiệu quả trong sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện hành như giới hạn về thời gian, địa điểm giao dịch, điểm tiếp xúc khách hàng theo kênh vật lý, nhận biết và xác thực khách hàng (KYC), cũng như quy trình thủ tục giao dịch tương đối phức tạp như hiện tại. Theo khảo sát,  các chuyên gia đều đồng tình và chấm điểm 4.35/5 cho vai trò này của hoạt động P2P Lending.
 
Thứ hai, P2P Lending cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thêm kênh tiếp cận nguồn lực tài chính, cách thức cho vay đối với nền kinh tế, thúc đẩy tài chính toàn diện quốc gia, góp phần hỗ trợ phổ cập tài chính thông qua tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính đối với một bộ phận người dân chưa có tài khoản ngân hàng (unbanked) hoặc khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính - ngân hàng truyền thống (underbanked), người dân vùng sâu, vùng xa ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng truyền thống. 
 
Thứ ba, đặc biệt, P2P Lending có thể đóng vai trò quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu Chính phủ số và nền kinh tế số trong cuộc CMCN 4.0 mà nhiều quốc gia đang hướng tới trong đó có Việt Nam. 
 
Trong những năm gần đây, lĩnh vực tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của các công ty Fintech. Riêng đối với lĩnh vực P2P Lending, tại Việt Nam hiện nay, qua khảo sát sơ bộ có khoảng 100 công ty P2P Lending (bao gồm cả công ty đã đi vào hoạt động chính thức và một số công ty đang trong giai đoạn thử nghiệm). Trong đó, một số công ty có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nga, Indonesia, Singapore… Điều này cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến thị trường cho vay tiêu dùng của Việt Nam và nhìn nhận đây là thị trường tiềm năng cho P2P Lending phát triển. Trong bối cảnh một số quốc gia trong khu vực châu Á thắt chặt quản lý hoạt động P2P Lending (Trung Quốc, Indonesia, Singapore…), thì các công ty nước ngoài đặc biệt là các công ty P2P Lending của Trung Quốc đang tìm cách chuyển hướng hoạt động sang thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế số doanh nghiệp hoạt động P2P Lending rất khó chính xác vì hiện nay các cơ quan quản lý tại Việt Nam chưa tổ chức thống kê chính thức các thông tin liên quan đến doanh nghiệp triển khai hoạt động P2P Lending tại Việt Nam (số lượng, tên gọi, quy mô, thực tế hoạt động, phạm vi, lĩnh vực hoạt động…), vì hoạt động này hiện chưa có khung pháp lý điều chỉnh.
 
2.2. Rủi ro trong P2P Lending tại Việt Nam 
 
Lĩnh vực P2P Lending mới xuất hiện tại Việt Nam với những rủi ro chưa được nhận diện, đánh giá, xác định bản chất một cách đầy đủ, toàn diện và chính xác. Tuy nhiên, nhìn chung rủi ro đối với hoạt động P2P Lending có thể tương tự với các rủi ro trong hoạt động đầu tư tài chính và rủi ro vay nợ ngân hàng truyền thống, mang lại những tác động bất lợi, bất ổn đến an ninh kinh tế và ổn định xã hội. 
 
Qua khảo sát của các chuyên gia, hoạt động P2P Lending ở Việt Nam hiện nay có thể gây ra các rủi ro sau đây cho những người tham gia: Rủi ro tín dụng và rủi ro pháp lý là hai rủi ro lớn nhất khi tham gia vào hoạt động P2P Lending vì hiện nay khung pháp lý chưa được hoàn thiện. Tiếp theo đó là rủi ro liên quan đến vấn đề bảo mật thông tin, về đạo đức cũng như rủi ro trong vận hành công nghệ, và các nền tảng. Cụ thể như sau: (Hình 2)
 
Hình 2: Mức độ nghiêm trọng của các loại rủi ro trong P2P Lending hiện nay tại Việt Nam
(Điểm trung bình từ các chuyên gia
)

Nguồn: Dữ liệu thu thập từ khảo sát

a) Rủi ro pháp lý
 
Hiện nay, Việt Nam chưa có khung khổ pháp lý điều chỉnh, thiếu sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý dẫn đến tình trạng khách hàng không được bảo vệ quyền lợi thỏa đáng, với một hệ sinh thái như vậy, người cho vay trên hệ thống P2P Lending phải đối mặt với rủi ro mất tiền do người đi vay không thực hiện đúng thỏa thuận, lừa đảo; hoặc công ty vận hành P2P Lending thực hiện không đúng, không đủ các thủ tục xác định thông tin khách hàng vay và phòng, chống rửa tiền (AML) và trên thực tế hiện nay, đa số các sàn P2P Lending đều quy định việc thực hiện các nghĩa vụ đối với người đầu tư thuộc trách nhiệm của người đi vay mà không có bất kỳ liên đới trách nhiệm nào đến các công ty P2P. 
 
b) Rủi ro tín dụng
 
Thỏa thuận giữa các bên tham gia mô hình P2P Lending (công ty  P2P Lending và người cho vay, công ty P2P Lending và bên thứ ba, công ty P2P Lending và khách hàng vay…) còn thiếu rõ ràng, thiếu ràng buộc có tính pháp lý, cũng như chưa có cơ chế giám sát, hậu kiểm đối với việc sử dụng, quản lý vốn vay đúng mục đích của người đi vay, nên người cho vay có nguy cơ mất tài sản, dẫn đến rất nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài giữa các bên đối với các thỏa thuận và giao dịch dân sự lỏng lẻo nêu trên, từ đó tạo áp lực rất lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tư pháp trong việc theo đuổi, xét xử các vụ kiện, đặc biệt là các vụ khiếu kiện tập thể, đông người kéo dài. Đây là kinh nghiệm và cái giá phải trả khá đắt tại một số nền kinh tế thời gian qua, đặc biệt là tại Trung Quốc.
 
c) Rủi ro do liên quan đến hoạt động bất hợp pháp
 
Mô hình P2P Lending dễ trở thành công cụ cho một số đối tượng tiến hành trốn thuế, rửa tiền, tài trợ khủng bố… vì các cơ quan chức năng khó kiểm soát nguồn gốc luồng tiền, danh tính, mục đích.
 
d) Rủi ro bảo mật
 
Mô hình P2P Lending mới được hình thành và phát triển gần đây tại Việt Nam, nên nhiều ứng dụng P2P Lending chưa được hoàn thiện, cũng như chưa đáp ứng các tiêu chí về an toàn bảo mật dẫn tới nhiều lỗ hổng bảo mật còn tồn tại trước nguy cơ bị tấn công mạng, đánh cắp thông tin, lộ, lọt, rò rỉ dữ liệu tài khoản, có thể gây thiệt hại cho các bên tham gia. Trường hợp các nền tảng P2P Lending bị mất dữ liệu hoặc các rủi ro công nghệ liên quan thì khả năng người cho vay mất trắng các khoản đầu tư là rất cao (vì không có cơ sở, bằng chứng ghi nhận lại các khoản cho vay mà người cho vay đã tiến hành cho vay). Bên cạnh đó, các công ty Fintech hầu hết khởi nguồn là các công ty khởi nghiệp non trẻ, không có hoặc chưa thiết lập bộ phận kiểm soát tuân thủ, thiếu sự kiểm soát, giám sát về mặt quy trình hoạt động (như yêu cầu kỹ thuật, yêu cầu về vốn và khung khổ kiểm soát các rủi ro trong hoạt động...) nên hoạt động của các công ty tiềm ẩn rủi ro dẫn tới thiệt hại, tổn thất cho khách hàng, gây mất niềm tin của công chúng vào lĩnh vực non trẻ này. 
 
e) Các rủi ro khác như rủi ro đạo đức, vận hành
 
Không chỉ tại Việt Nam mà tại nhiều nước trên thế giới (đặc biệt là các trường hợp phát sinh tại Trung Quốc), một số nền tảng P2P Lending đã tận dụng sự nhầm lẫn, thiếu thông tin, thiếu hiểu biết của người dân để quảng cáo và đưa ra thông tin lập lờ, không rõ ràng dẫn đến người cho vay hiểu nhầm các hoạt động đầu tư/cho vay qua các nền tảng P2P Lending là một hình thức gửi tiền có sự quản lý và bảo hiểm của Nhà nước. Khi người cho vay bị mất trắng các khoản đầu tư mà không được Nhà nước bảo hiểm như các khoản tiền gửi thông thường của hệ thống ngân hàng đã để lại các hệ lụy, bất ổn xã hội kéo dài rất nghiêm trọng.
 
Mô hình P2P Lending mới phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây và nhiều nền tảng P2P Lending đưa ra các quảng cáo sai lệch sự thật, hứa hẹn lợi nhuận cao, lãi suất cạnh tranh, để đánh vào điểm yếu là lòng tham của người cho vay. Trong các trường hợp đó, các bên tham gia mô hình P2P Lending dựa vào niềm tin, sự tín nhiệm, chỉ thấy những ưu điểm nổi bật được một số nền tảng P2P Lending quảng cáo sai sự thật, thậm chí lừa đảo mà chưa hiểu rõ bản chất, rủi ro của mô hình này nên chưa có ý thức bảo vệ được quyền lợi của mình. Dẫn đến khi phát sinh các rủi ro liên quan thì người cho vay/người đi vay bị mất trắng các khoản tiền đầu tư mà không truy đòi được bất kỳ trách nhiệm nào từ các nền tảng P2P Lending này.
 
Một số mô hình P2P Lending bị lợi dụng, biến tướng thành huy động tài chính đa cấp, lừa đảo, hình thức biến tướng của tín dụng đen, đòi nợ phi pháp và người cho vay, người đi vay dễ trở thành công cụ, nạn nhân của hành vi lừa đảo, rửa tiền hoặc chịu mức lãi suất (cộng phí) rất cao, thậm chí có thể cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay tại các TCTD. 
 
Tất cả các vấn đề thực trạng ngành công nghiệp P2P Lending trên thế giới được tổng kết đến nay cũng là những vấn đề tương tự mà các nền tảng P2P Lending tại Việt Nam đang gặp phải trong bối cảnh khung pháp luật tại Việt Nam chưa có quy định cụ thể nhưng cũng không có quy định cấm đối với hoạt động này. 
 
Tuy nhiên, NHNN đã rất quan tâm đến lĩnh vực này, cụ thể, tại Công văn số 5228/NHNN-CSTT ngày 08/7/2019, NHNN đã lưu ý đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài về hoạt động P2P Lending.
 
3. Kết luận
 
Với sự phát triển nhanh, hoạt động trên phạm vi rộng, quy mô hoạt động ngày càng gia tăng của hoạt động P2P Lending cần thiết lập đầy đủ, đồng bộ các cơ chế, chính sách, trong đó thiết lập các quy tắc, tiêu chuẩn nội bộ cho bản thân hoạt động của các công ty P2P Lending là rất cần thiết. Trên cơ sở xem xét cơ chế thử nghiệm đã được một số quốc gia ban hành3, cũng như nhận thức, hiểu biết chung về thực tiễn thị trường, các rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động P2P Lending tại Việt Nam được tổng kết đến thời điểm này, trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả khuyến nghị một số các quy tắc, tiêu chuẩn nội bộ cho các công ty P2P Lending như sau: 
 
Một là, quy định rõ các mô hình hoạt động P2P Lending để đảm bảo loại hình hoạt động của các công ty tham gia được đăng ký đầy đủ chức năng hoạt động P2P Lending. Có thể thông qua việc xác định các nhóm khách hàng mục tiêu phù hợp và phân chia thành các nhóm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp; nhóm khách hàng phục vụ đại trà, nhóm khách hàng phục vụ có chọn lọc phù hợp với mỗi mô hình hoạt động P2P Lending. Từ việc xác định nhóm khách hàng mục tiêu, có thể xác định mô hình hoạt động P2P Lending để tương tác gồm: Các mô hình doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B - Business to Business), doanh nghiệp với khách hàng (B2C - Business to Consumer) hay khách hàng với khách hàng (C2C - Consumer to Consumer). Đối với mỗi một mô hình hoạt động cần hình thành những quy định về nguyên tắc, tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể bao gồm các yêu cầu về tài chính (vốn điều lệ), điều kiện thành lập (giấy phép thành lập doanh nghiệp, giấy phép vận hành sàn giao dịch), nguồn nhân lực (nhân sự quản lý, vận hành), tổ chức, vận hành (KYC; quản lý tài khoản và thanh toán cho giao dịch của khách hàng; kiểm tra, theo dõi, quản lý khoản vay…), đặc biệt là phạm vi hoạt động, cung ứng dịch vụ thu hút vốn xuyên biên giới... Các quy định rõ ràng, tạo thuận lợi cho các công ty P2P Lending phù hợp với năng lực kinh doanh.
 
Hai là, thiết lập các quy định chi tiết gồm tiêu chuẩn kỹ thuật phần mềm trực tuyến; yêu cầu duy trì sự hoạt động ổn định, liên tục của nền tảng; trách nhiệm định hạng tín dụng của người vay; trách nhiệm cung cấp thông tin cho nhà đầu tư; những hạn chế trong việc quảng cáo, mời chào và đặc biệt không đưa ra mức cam kết về mức lãi suất đầu tư hấp dẫn, trách nhiệm dẫn vốn đến nơi sử dụng theo đúng hợp đồng giữa người cho vay và người đi vay…
 
Ba là, quy định đầy đủ về các hoạt động chuyên ngành, sản phẩm và dịch vụ, thiết lập các tiêu chuẩn sản phẩm và dịch vụ cho công ty P2P Lending theo chuẩn mực một cách minh bạch, đảm bảo an toàn, ổn định. Trong đó, quy định các tiêu chuẩn và chuẩn mực đối với giao dịch của hoạt động cho vay; các dự án cần huy động vốn để nhà đầu tư lựa chọn góp vốn vào dự án; kết nối nhà đầu tư với các khoản đầu tư phù hợp,… Thực hiện tiêu chuẩn hóa ở cấp độ ngành là rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và ổn định lâu dài trong lĩnh vực P2P Lending và mức độ tiêu chuẩn hóa cao nhất có thể sẽ giúp hạn chế rủi ro hoạt động, tăng cường bảo vệ khách hàng, lợi ích của những người tham gia được đảm bảo bao gồm sự tham gia của các ngân hàng trong nền tảng P2P Lending.
 
Bốn là, quy định về trách nhiệm của công ty P2P Lending trong việc bảo vệ quyền lợi đối với những người tham gia. Các nhà đầu tư cần đáp ứng các tiêu chí để tham gia, đảm bảo đủ hiểu biết để đầu tư; cần được thông báo về chi phí và rủi ro liên quan đến lựa chọn các sản phẩm vay để quyết định lựa chọn và sử dụng vốn vay hiệu quả, hạn chế rủi ro.
 
Năm là, quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động P2P Lending của công ty P2P Lending đầy đủ và đồng bộ, quy định về đánh giá tín nhiệm các đơn yêu cầu vay, các chuẩn mực quản trị rủi ro và tiêu chuẩn hóa các số liệu, minh bạch các thông tin giao dịch để giúp xác định kịp thời tổn thất, góp phần đảm bảo an toàn đối với các khoản vay.
 

1 Theo số liệu của Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông công bố, đến quý II/2022 số thuê bao điện thoại di động có phát sinh lưu lượng ở Việt Nam khoảng 123,87 triệu thuê bao, trong đó số thuê bao đang hoạt động có sử dụng dữ liệu là gần 78,66 triệu thuê bao. Đồng thời, theo kết quả điều tra dân số tháng 8/2022, Việt Nam hiện có hơn 99 triệu dân, đứng thứ 15 trên thế giới, thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines). 
2 http://vnta.gov.vn/thongke/Trang/dulieuthongke.aspx#.
3 Một số quốc gia ban hành Cơ chế thử nghiệm được xem xét, bao gồm: Vương quốc Anh (FCA); Hồng Kông (HKMA, SFC, IA); Singapore (MAS), Malaysia (BNM), Thái Lan (BOT, SEC, OIC).

Tài liệu tham khảo:
 
1. Bùi Tín Nghị và cộng sự (2022), Nghiên cứu hoạt động cho vay ngang hàng: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam. Đề tài cấp ngành 2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Một số trang website:Lender.vn; https://p2pmarketdata.com

ThS. Bùi Thúy Hằng (Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
ThS. Phạm Xuân Dũng (Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thừa Thiên Huế)  
PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh (Học viện Ngân hàng)
 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Tác động của hệ thống phí bảo hiểm tiền gửi phân biệt đến hoạt động và mức độ sẵn sàng tham gia của các tổ chức  tín dụng
Tác động của hệ thống phí bảo hiểm tiền gửi phân biệt đến hoạt động và mức độ sẵn sàng tham gia của các tổ chức tín dụng
29/09/2023 182 lượt xem
Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của hệ thống tính phí bảo hiểm tiền gửi (BHTG) phân biệt đến hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam và đánh giá mức độ sẵn sàng tham gia của các tổ chức này, thông qua việc sử dụng phương pháp mô phỏng và phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy trên mẫu dữ liệu 215 tổ chức tín dụng tham gia BHTG.
FED tăng lãi suất và tác động đến Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
FED tăng lãi suất và tác động đến Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
18/09/2023 1.302 lượt xem
Giai đoạn hậu đại dịch Covid-19, nền kinh tế thế giới đối mặt với nhiều khó khăn do chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy trong một thời gian do hậu quả của các biện pháp giãn cách xã hội. Sau đại dịch Covid-19, xung đột Nga - Ukraine khiến cho giá năng lượng thế giới tăng cao kỉ lục. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất lên cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1980.
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Cần Thơ
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Cần Thơ
04/09/2023 2.297 lượt xem
Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại thành phố Cần Thơ.
Nghiên cứu tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nghiên cứu tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
22/08/2023 3.097 lượt xem
Nghiên cứu tập trung phân tích tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng báo cáo tài chính của 19 NHTM giai đoạn 2013 - 2022 trước, trong và sau dịch Covid-19, tương ứng 190 quan sát.
Rủi ro tín dụng và chuyển giao rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Rủi ro tín dụng và chuyển giao rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
14/08/2023 3.247 lượt xem
Chuyển giao rủi ro tín dụng (RRTD) là một phương pháp ứng xử của các ngân hàng thương mại (NHTM) khi các ngân hàng này phải đối mặt với RRTD. Bài viết phân tích, làm rõ bức tranh thực trạng về chuyển giao RRTD tại các NHTM Việt Nam.
Đo lường khu vực kinh tế chưa được quan sát của Việt Nam bằng phương pháp nhiều chỉ số nhiều nguyên nhân
Đo lường khu vực kinh tế chưa được quan sát của Việt Nam bằng phương pháp nhiều chỉ số nhiều nguyên nhân
03/08/2023 3.947 lượt xem
Bài viết này sử dụng phương pháp nhiều chỉ số nhiều nguyên nhân (Multiple indicators Multiple causes - MIMIC) để đo lường quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát (Non - observed Economy - NOE) của Việt Nam. Kết quả ước lượng cho thấy quy mô khu vực NOE của Việt Nam tương đương khoảng từ 12,46% đến 21,54% GDP. Nghiên cứu cũng chỉ ra gánh nặng thuế và tỉ lệ thất nghiệp là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành và phát triển của khu vực NOE ở Việt Nam.
Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự chấp nhận thanh toán bằng QR Code khi giao dịch của khách hàng cá nhân tại tỉnh Thái Nguyên
Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự chấp nhận thanh toán bằng QR Code khi giao dịch của khách hàng cá nhân tại tỉnh Thái Nguyên
31/07/2023 4.112 lượt xem
Dịch vụ ngân hàng điện tử đã trở thành một trong những mảng dịch vụ thu hút được sự quan tâm đầu tư và cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận sử dụng các dịch vụ ngân hàng xanh của khách hàng cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận sử dụng các dịch vụ ngân hàng xanh của khách hàng cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội
24/07/2023 4.389 lượt xem
Nghiên cứu nhằm đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận sử dụng các dịch vụ ngân hàng xanh của khách hàng cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích mô hình hồi quy bội, dựa trên hai mô hình lí thuyết là mô hình lí thuyết chấp nhận về công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) và mô hình lí thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) được sử dụng cho bài nghiên cứu.
Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam
18/07/2023 4.676 lượt xem
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích kinh tế lượng dựa trên dữ liệu bảng không cân bằng của 26 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2007 - 2021 để phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của các NHTM.
Tác động của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới điều tiết của lạm phát và biến động lạm phát
Tác động của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới điều tiết của lạm phát và biến động lạm phát
03/07/2023 5.388 lượt xem
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tác động của rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng đến ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần dưới điều tiết của lạm phát và biến động lạm phát. Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 21 NHTM cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2022.
Dự báo khách hàng ngân hàng rời bỏ dịch vụ với thuật toán học máy - Hồi quy Logistic
Dự báo khách hàng ngân hàng rời bỏ dịch vụ với thuật toán học máy - Hồi quy Logistic
30/06/2023 5.529 lượt xem
Học máy (Machine Learning) đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Học máy không những là công cụ hỗ trợ ra quyết định trong việc xét duyệt tín dụng cho khách hàng, mà còn giúp các ngân hàng nhận định đúng đâu là khách hàng tiềm năng trong chiến lược kinh doanh của họ.
Nguồn dữ liệu mới phục vụ điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Nguồn dữ liệu mới phục vụ điều hành chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
28/06/2023 5.413 lượt xem
Điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) là chức năng quan trọng hàng đầu của ngân hàng trung ương (NHTW) tại mỗi quốc gia. Trong trường hợp công cụ điều hành thông thường không còn hữu dụng, NHTW có thể áp dụng các công cụ CSTT phi truyền thống để ứng phó với tình trạng kinh tế bất thường. Để các công cụ phi truyền thống đạt hiệu quả tối đa, việc phát triển và khai thác nguồn dữ liệu mới tại NHTW là hết sức cần thiết.
Nghiên cứu về tài chính toàn diện tại các quốc gia châu Á
Nghiên cứu về tài chính toàn diện tại các quốc gia châu Á
21/06/2023 5.832 lượt xem
Châu Á đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực tài chính toàn diện, tuy nhiên, sự chênh lệch về tài chính toàn diện giữa các quốc gia và trong mỗi quốc gia đang là vấn đề chung của toàn châu lục. Bài viết này nhằm mục đích đánh giá sự phát triển và thực trạng tài chính toàn diện, đồng thời, làm sáng tỏ các chính sách thúc đẩy tài chính toàn diện trong khu vực châu Á.
Phát triển ngành công nghiệp điện tử của Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
Phát triển ngành công nghiệp điện tử của Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
19/06/2023 5.736 lượt xem
Ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, là ngành đóng vai trò kết nối, động lực phát triển chung cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và cả nước, hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Năm 2020, vùng KTTĐPN đóng góp 55,8% GDP công nghiệp của cả nước.
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên khối ngành kinh tế về dịch vụ thanh toán qua ví điện tử
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên khối ngành kinh tế về dịch vụ thanh toán qua ví điện tử
06/06/2023 6.994 lượt xem
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy sự phát triển nhanh của các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. Trong các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thì ví điện tử được xem là một phương thức khá phổ biến đối với giới trẻ. Sự cạnh tranh gay gắt đã buộc các nhà cung cấp ngày càng phải quan tâm đến khách hàng nhiều hơn, đáp ứng nhu cầu cũng như thỏa mãn sự hài lòng của khách hàng tốt nhất.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

68.050

68.750

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

68.050

68.750

Vàng SJC 5c

68.050

68.770

Vàng nhẫn 9999

56.650

57.600

Vàng nữ trang 9999

56.500

57.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,200 24,570 25,105 26,483 28,868 30,098 159.15 168.46
BIDV 24,240 24,540 25,281 26,469 29,007 30,070 160.4 168.73
VietinBank 24,137 24,557 25,354 26,489 29,226 30,236 160.3 168.25
Agribank 24,200 24,550 25,358 26,066 29,122 29,955 161.42 165.41
Eximbank 24,150 24,540 25,385 26,091 29,179 29,991 161.18 165.66
ACB 24,190 24,540 25,423 26,061 29,339 29,955 160.81 166.01
Sacombank 24,180 24,535 25,495 26,160 29,402 29,911 161.08 167.62
Techcombank 24,211 24,548 25,142 26,464 28,831 30,120 156.91 169.16
LPBank 24,190 24,750 25,283 26,610 29,286 30,211 159.12 170.63
DongA Bank 24,250 24,550 25,470 26,070 29,280 30,020 159.4 166.1
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,50
4,50
4,50
5,50
5,50
BIDV
0,10
-
-
-
3,00
3,00
3,50
4,50
4,50
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,00
3,00
3,50
4,50
4,50
5,50
5,50
Cake by VPBank
0,40
-
-
-
4,75
4,75
4,75
7,0
7,10
7,3
6,00
ACB
0,05
0,50
0,50
0,50
3,40
3,50
3,60
5,10
5,30
5,30
5,40
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,30
5,60
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,70
4,90
4,95
5,50
5,50
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
4,35
4,35
4,35
5,50
5,50
6,30
6,60
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,50
6,20
6,30
6,55
6,75
Agribank
0,20
-
-
-
3,00
3,00
3,50
4,50
4,50
5,50
5,50
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
4,00
4,00
4,00
5,00
5,30
5,50
5,80

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?