Điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh đại dịch Covid-19 của Ngân hàng Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
23/05/2022 10.644 lượt xem
Tóm tắt:
 
Đại dịch Covid-19 bùng phát cuối năm 2019, đầu năm 2020 đã gây ra những tác động tiêu cực chưa từng có đối với sức khỏe và tính mạng con người trên toàn cầu. Nhiều nước thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch nghiêm ngặt do hạn chế về nguồn vắc-xin, vì thế, khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng. Minh chứng, GDP toàn cầu giảm từ 2,8% năm 2019 xuống -3,3% năm 2021. Trước tình trạng này, các ngân hàng trung ương (NHTW) đã có những phản ứng nhanh chóng, kịp thời bằng cách triển khai một loạt các biện pháp để giúp giảm bớt sự gián đoạn trong các hoạt động kinh tế và ổn định thị trường tài chính, chủ yếu bao gồm: Cắt giảm lãi suất chính sách, mua tài sản tài chính để cung cấp thanh khoản đáng kể nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến tổng cầu. 
 
Đối với Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào, cuối năm 2019, sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát trở thành cú sốc bên ngoài tác động tiêu cực đến nền kinh tế, vốn có xu hướng tăng trưởng chậm theo xu hướng tăng trưởng của kinh tế toàn cầu. Do đó, năm 2019, 2020 và 2021, kinh tế Lào tăng trưởng trung bình 3,2%/năm. Nhằm hạn chế tác động tiêu cực,  phục hồi hoạt động kinh doanh và  kinh tế,  Ngân hàng CHDCND Lào (Bank of the Lao PDR - BOL) đã thực hiện các biện pháp và điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) kịp thời và hiệu quả như giảm lãi suất chính sách và tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chính sách hỗ trợ tín dụng hoãn trả gốc, lãi và cơ cấu lại nợ,  cung cấp các khoản vay mới cùng với việc hỗ trợ các chương trình tài trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. 
 
Từ khóa: CSTT, BOL, Covid-19, GDP, lãi suất cơ bản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc. 
 
1. Thực trạng điều hành CSTT của BOL trong thời kỳ Covid-19 
 
Trong giai đoạn 2019 - 2021, nhìn chung, BOL điều hành CSTT tương đối hiệu quả, góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế theo  các mục tiêu mà Quốc hội nước CHDCND Lào thông qua. Cụ thể, tiền gửi ngân hàng tăng lên 64,62% GDP, tín dụng đạt 48,94% GDP, tỷ lệ nợ xấu (NPLs) 3,16%/năm và cao hơn mức cho phép 0,16%, cung tiền  (M2) tăng 16,33%/năm, mức dự trữ ngoại hối trung bình đủ 4,81 tháng nhập khẩu và tỷ giá hối đoái tương đối ổn định, lạm phát trung bình 5,07%/năm.
 
Để chống lại sự suy giảm kinh tế và đối phó với đại dịch Covid-19, BOL đã thực hiện CSTT nới lỏng bằng cách giảm lãi suất chính sách và tỷ lệ dự trữ bắt buộc. BOL tiếp tục giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 5% xuống 3% đối với đồng Kip và từ 10% xuống 5% đối với đồng ngoại tệ, nhằm cải thiện thanh khoản cho các ngân hàng thương mại (NHTM). Đồng thời, BOL tiếp tục giảm lãi suất chính sách từ 4% xuống còn 3%, nhằm mục đích giảm lãi suất đối với giao dịch repo (giao dịch mua đi, bán lại) và giao dịch outright (giao dịch giao ngay) và các tài sản tài chính khác (Bảng 1). Đối với chính sách tỷ giá hối đoái, BOL tiếp tục sử dụng tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý như một công cụ để duy trì sự ổn định của đồng tiền quốc gia bằng cách thiết lập tỷ giá tham chiếu hàng ngày (USD/Kip) cho các NHTM và các điểm đổi tiền. Biên độ tỷ giá hối đoái ±0,25% và chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán đối với Euro/Kip là 0,50%, Baht/Kip là 0,75% và 2% đối với các đồng tiền khác. 

Bảng 1: Lãi suất chính sách và tỷ lệ dự trữ bắt buộc giai đoạn 2017 - 2021
 

 Nguồn: www.bol.gov.la
 
Ngoài ra, BOL đã ban hành Quyết định số 238/BOL ngày 26/3/2020 về chính sách tín dụng nhằm giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19, trong đó có 04 biện pháp chính như hoãn trả gốc và lãi suất; khuyến khích các NHTM giảm lãi suất và miễn phí dịch vụ; khuyến khích các NHTM cung cấp các khoản vay mới cho khách hàng để hỗ trợ phục hồi kinh tế và cơ cấu lại khoản vay. BOL cũng đã ban hành Quyết định số 318/BOL ngày 19/5/2020 về dự án tín dụng hỗ trợ sản xuất và giảm thiểu tác động của dịch Covid-19, nhằm mục đích kích thích nền kinh tế và giảm thiểu tác động của dịch Covid-19 bằng cách cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp 5,5%/năm và thời gian đáo hạn lên đến 06 năm.  
 
Cuối năm 2021, Thống đốc BOL phát biểu tại Kỳ họp thứ II, Quốc hội khóa IX nước CHDCND Lào: “Nước ta sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức do tỷ giá hối đoái tăng theo xu hướng kinh tế phục hồi. Trên thế giới, giá dầu thô, lạm phát, lãi suất đều tăng, trong khi đó, nước CHDCND Lào cũng phải chịu nhiều áp lực và cần thời gian để phục hồi. Vì vậy, để đạt được kế hoạch, theo chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng Lào sẽ tập trung vào các nhiệm vụ chính sau:
 
Một là, tiếp tục thực hiện CSTT theo hướng kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách tiếp tục khuyến khích cung cấp các nguồn vốn hỗ trợ sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu theo kế hoạch, dành nguồn vốn cho Ngân hàng Chính sách, góp nguồn vốn cho Quỹ Phát triển Xaysomboun thông qua Bộ Tài chính.
 
Hai là, tiếp tục thiết lập tỷ giá hối đoái theo cơ chế mới cùng với điều chỉnh hệ thống khảo sát tình hình tỷ giá mua - bán ngoại hối chính xác, đầy đủ hơn để thu hẹp sự chênh lệch tỷ giá giữa đồng Kip với USD của ngân hàng và thị trường (ngày 31/10/2021, chênh lệch tỷ giá USD/Kip của ngân hàng và ngoài thị trường tự do ở mức 13,36% và chênh lệch tỷ giá Baht/Kip ở mức thấp hơn 1%).
 
Ba là, tiếp tục phối hợp với các ngành liên quan thực hiện các biện pháp xử lý đối với cá nhân, tổ chức kinh doanh ngoại tệ và các hình thức kinh doanh tài chính không đúng quy định.
 
Bốn là, theo dõi việc thực hiện chế độ quản lý giữa NHTM và điểm đổi tiền theo quy chế đã ban hành.
 
Năm là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về quản lý ngoại hối nhằm hỗ trợ thực hiện chương trình quốc gia về giải quyết khó khăn của nền kinh tế, tài chính như quản lý hoạt động kinh doanh ngoại hối, mở tài khoản và sử dụng tài khoản ngoại tệ, quản lý thu nhập ngoại hối.
 
Sáu là, tiếp tục thực hiện cơ chế quản lý nguồn thu xuất khẩu hàng hóa trong Đề án thí điểm khai thác và xuất khẩu khoáng sản thông qua tài khoản quản lý đặc thù nhằm thực hiện tập trung ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng; xây dựng hành lang pháp lý, hỗ trợ cung cấp các dịch vụ tài chính trong khu vực ga đường sắt và các đơn vị dịch vụ liên quan đến dự án đường sắt Lào - Trung, tại các đặc khu kinh tế.
 
Bảy là, tiếp tục chuẩn bị cho việc chuyển đổi “Ngân hàng Chính sách” thành “Ngân hàng Phát triển nông thôn”.
 
Tuy nhiên, trong quá trình điều hành chính sách, BOL đã và đang gặp phải nhiều thách thức, cụ thể là: 
 
Thứ nhất, BOL đã thực hiện một chương trình hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng những khoản tín dụng đó có thể không đủ để duy trì thanh khoản của các doanh nghiệp nếu đại dịch Covid-19 còn kéo dài, các biện pháp giãn cách xã hội và hạn chế đi lại tiếp tục được thực hiện trong trung và dài hạn. 
 
Thứ hai, BOL đã thực hiện CSTT nới lỏng bằng cách cắt giảm lãi suất chính sách và tỷ lệ dự trữ bắt buộc để kích thích cho vay của các NHTM, nhưng các NHTM vẫn chưa tích cực cho các doanh nghiệp vay một phần do lo ngại về các khoản nợ xấu gia tăng. 
 
Thứ ba, Covid-19 đã gây áp lực đối với điều hành chính sách tỷ giá hối đoái, đặc biệt là trong việc duy trì sự ổn định của đồng tiền quốc gia.
 

 
Theo chỉ thị của Thủ tướng Lào tại Quyết định số 31/TTg ngày 02/4/2020 về những chính sách và biện pháp giảm thiểu tác động của sự bùng phát dịch Covid -19 đối với nền kinh tế của Lào (Decision No 31/PM dated 02/4/2020, on policies and measures to reduce impact from pandemic Covid-19), BOL đã giảm lãi suất cơ bản, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các NHTM cho phù hợp và chỉ đạo các NHTM thực hiện các chính sách tín dụng để đối phó với ảnh hưởng của đợt bùng phát dịch Covid-19, chẳng hạn như chính sách cơ cấu lại thời gian trả nợ cho các khoản nợ cũ, giảm lãi suất cho khoản vay mới cho các doanh nghiệp…
 
2. Đánh giá điều hành CSTT của BOL trong thời kỳ dịch Covid-19

Kết quả đạt được

 
Điều hành CSTT hiệu quả, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô: Trong giai đoạn năm 2019 - 2021, BOL đã điều hành CSTT hiệu quả nhờ sự kiên định, chủ động, thận trọng và linh hoạt, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, làm ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối;  BOL đã điều hành tín dụng hiệu quả, phù hợp chủ trương từng bước giảm tỷ lệ chính sách, tăng tín dụng cho nền kinh tế, đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế; điều hành và công bố tỷ giá trung tâm linh hoạt mỗi ngày, phù hợp với thị trường; giảm lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tăng vốn trong lưu thông thông qua các NHTM; công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng bảo đảm an toàn, kích thích nền kinh tế, phát triển hệ thống thanh toán và thị trường vốn đa dạng hóa, tạo thuận lợi cho khách hàng; kiểm soát cung tiền ở mức hợp lý, mà nhất là tăng trường tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Những thành công trong điều hành CSTT của BOL thể hiện thông qua một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2019 - 2021 như sau:
 
Về kinh tế và Ngân sách Nhà nước
 
Trong giai đoạn 2019 - 2021, kinh tế Lào tăng trưởng trung bình 3,2%/năm, tổng nguồn thu Ngân sách Nhà nước đạt 21.845,75 tỷ Kip/năm chiếm 12,66% GDP.  Nguyên nhân chính khiến thu nội địa giảm là thu từ thuế xuất khẩu, quỹ bảo tồn rừng, dịch vụ hàng không, thuế tài nguyên thủy điện, thu nhập lãi, khấu hao và cổ tức, phí ưu đãi, thuế tiêu thụ đặc biệt, thu nhập cho thuê, thuế giá trị gia tăng, thuế tài nguyên và thuế đất. Bên cạnh đó, các chính sách giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch Covid-19, cụ thể là miễn thuế thu nhập cho cả công chức và người lao động của khu vực tư nhân trong nhiều tháng, áp dụng mức chiết khấu tiền điện trong một số tháng, miễn thuế lợi tức cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, đã gây ra sụt giảm mạnh trong các khoản thu Ngân sách Nhà nước. Trong giai đoạn 2019 - 2021, tổng chi tiêu Ngân sách Nhà nước là 30.858,17 tỷ Kip/năm, với mức tăng trưởng 0,77%/năm, chiếm 17,88% GDP, chi thường xuyên có xu hướng giảm và chi đầu tư phát triển có xu hướng tăng với mức tăng trung bình 10,38%/năm.
 
Về tiền tệ - ngân hàng
 
Trong giai đoạn 2019 - 2021, trung bình hàng năm, tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng tăng và chiếm 64,62% GDP/năm, trung bình tổng tín dụng đạt 48,94% GDP/năm, NPLs trung bình 3,16%/năm cao hơn một chút so với mức cho phép (3%), cung tiền (M2) tăng trung bình 16,33%/năm, mức dự trữ ngoại hối trung bình đủ 4,81 tháng nhập khẩu, tỷ giá hối đoái tương đối ổn định và lạm phát trung bình 5,07%/năm.
 
Trong giai đoạn 2019 - 2021,  BOL thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng bằng cách cắt giảm lãi suất chính sách và tỷ lệ dự trữ bắt buộc để kích thích cho vay của ngân hàng. Tuy nhiên, các NHTM vẫn chưa chủ động giảm lãi suất cho vay và cho các doanh nghiệp vay một phần do lo ngại về các khoản nợ xấu gia tăng trong đại dịch Covid-19.
 
Một số hạn chế 
 
Trong những năm gần đây, CHDCND Lào duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, nhưng đại dịch Covid-19 đã khiến các hoạt động kinh tế suy giảm mạnh, mức tăng trưởng giảm xuống còn 3,3% (năm 2021).  Sự sụt giảm này do tốc độ tăng trưởng lĩnh vực dịch vụ, trong đó ngành du lịch giảm 98% so với năm trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát, lĩnh vực công nghiệp bị ảnh hưởng bởi sản lượng khai thác khoáng sản kết hợp với ảnh hưởng của mưa lũ tại các tỉnh miền Trung và miền Nam khiến ngành nông nghiệp không sản xuất được theo kế hoạch. Lạm phát vẫn duy trì ở mức cao, đồng Kip trượt giá đã làm tăng chi phí sản xuất vì Lào nhập khẩu nhiều loại hàng hóa nguyên liệu cho sản xuất trong nước. Hơn nữa, lạm phát còn được đẩy lên do các yếu tố tâm lý bị ảnh hưởng bởi nỗi lo đại dịch và sản xuất trong nước hạn chế, còn có hiện tượng đầu cơ, găm giữ hàng tiêu dùng quá mức. Huy động vốn của hệ thống NHTM gặp khó khăn; thanh khoản trong hệ thống ngân hàng căng thẳng, chương trình hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, dân cư không hiệu quả vì chẳng ai muốn vay mượn do chính sách đóng cửa, giãn cách xã hội, hạn chế đi lại, chính sách hoãn, giãn nợ cũng không hiệu quả vì chỉ có một số ít người dân, doanh nghiệp đáp ứng đủ yêu cầu. 
 
3. Định hướng điều hành CSTT của BOL trong năm 2022
 
Năm 2022, tình hình kinh tế quốc tế và trong nước sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, mặc dù CHDCND Lào được kỳ vọng tăng trưởng kinh tế từ 4% đến 4,5% do mức độ nghiêm trọng của dịch Covid 19 giảm, tỷ lệ người dân được tiêm vắc-xin cao, nền kinh tế được mở cửa trở lại. Xuất khẩu được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng ở mức khá; cán cân thương mại dịch vụ, môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt gần như năm trước đại dịch, cán cân thanh toán phục hồi ở mức thặng dư một chút, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống. Nhưng những vấn đề CHDCND Lào tiếp tục phải đối mặt là giá dầu tăng, giá lương thực trên thị trường quốc tế, lãi suất ở các nước trên thế giới tăng cao, nhu cầu nắm giữ tài sản an toàn tăng, lạm phát gia tăng ở các nước đối tác của CHDCND Lào dự báo sẽ tiếp tục gây áp lực lên mặt bằng giá cả trong nước. Dự báo lạm phát năm 2022 của Lào có khả năng gia tăng theo xu hướng của các nước trong khu vực và quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí vận tải tăng vì chịu tác động của giá xăng dầu trên thị trường quốc tế tăng mạnh.  
 
Do đó, các cơ chế, công cụ cần tập trung vào việc cải thiện thanh khoản của hệ thống ngân hàng, xây dựng cơ chế điều tiết thanh khoản của hệ thống ngân hàng có hiệu quả; điều chỉnh lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc định kỳ để đảm bảo ổn định giá cả, phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng phù hợp với tiềm năng sản xuất kinh doanh và đảm bảo ổn định của hệ thống ngân hàng nhằm tiếp tục thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế; điều hành tỷ giá hối đoái theo cơ chế thị trường và phù hợp với điều kiện kinh tế của Lào, trong đó đặc thù là nước nhập khẩu hàng tiêu dùng chủ yếu do nền sản xuất trong nước yếu kém, nhằm mục đích ngăn tỷ giá hối đoái không biến động quá nhiều trong khi vẫn duy trì điều hành tỷ giá hối đoái chặt chẽ; chính sách quản lý ngoại hối hiệu quả để tăng cường dự trữ ngoại hối, trong đó, sẽ thông qua Quốc hội, xem xét sửa đổi về Luật Quản lý ngoại hối, phối hợp với các bên liên quan hoàn thiện pháp luật, trao đổi thông tin, giám sát và thực hiện các quy định chặt chẽ về quản lý hoạt động ngoại hối như quản lý thu ngoại hối từ xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, vay nợ nước ngoài bằng cách tạo điều kiện cho việc nhập khẩu ngoại tệ thông qua hệ thống ngân hàng, cùng với quản lý các đơn vị kinh doanh liên quan thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
 
Với những thách thức đã nêu trên, trong thời gian tới, BOL nên tiếp tục điều hành CSTT theo hướng như sau:
 
Một là, tiếp tục thực hiện CSTT theo hướng kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách tiếp tục khuyến khích cung cấp các nguồn vốn hỗ trợ sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu theo kế hoạch và dành nguồn vốn cho Ngân hàng Chính sách.
 
Hai là, điều chỉnh lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc định kỳ để đảm bảo ổn định giá cả.
 
Ba là, cải thiện các chỉ tiêu kỳ hạn thanh khoản của hệ thống ngân hàng, xây dựng cơ chế điều tiết thanh khoản của hệ thống ngân hàng có hiệu quả.
 
Bốn là, tiếp tục thiết lập tỷ giá hối đoái tập trung, linh hoạt, dựa trên cơ chế thị trường nhằm góp phần tăng dự trữ ngoại hối và thu hẹp khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá phi chính thức.
 
Năm là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về quản lý ngoại hối nhằm hỗ trợ thực hiện chương trình quốc gia về giải quyết khó khăn về kinh tế, tài chính như quản lý hoạt động kinh doanh ngoại hối, mở tài khoản và sử dụng tài khoản ngoại tệ, quản lý các nguồn thu nhập ngoại hối.
 
4. Kết luận
 
CSTT đã khẳng định được vai trò lưu thông “mạch máu” trong nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất trong bối cảnh đại dịch Covid-19: Duy trì hoạt động của doanh nghiệp, hạn chế tối đa tình trạng phá sản; duy trì việc làm cho người lao động, hạn chế tình trạng thất nghiệp, mất thu nhập; đảm bảo hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế - duy trì được trạng thái ổn định, vận hành tốt, đủ năng lực vực dậy nền kinh tế hậu đại dịch Covid-19. Trong bối cảnh này, CSTT có thể hỗ trợ khu vực sản xuất, kinh doanh thông qua việc BOL hỗ trợ các NHTM cơ cấu lại các khoản nợ hiện hành cho các khách hàng (giảm lãi suất đối với các khoản nợ hiện hành...) và miễn giảm lãi suất trong thời kỳ doanh nghiệp không có doanh thu.  
 
Do vậy, để duy trì ổn định nền kinh tế, các giải pháp, chính sách hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế là cần thiết nhưng không thể chủ quan với áp lực lạm phát, đòi hỏi công tác phối hợp chính sách phải thật chặt chẽ, nhịp nhàng, linh hoạt về liều lượng, cách thức triển khai, nhất là CSTT và chính sách tài khóa. Về mặt này, BOL sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh Covid-19 và tác động của nó đối với lĩnh vực tài chính và các hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời, chuẩn bị áp dụng các biện pháp bổ sung cần thiết để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng và giá cả, cũng như  hỗ trợ khả năng phục hồi kinh tế.
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. BOL (2019, 2020, 2021), báo cáo thường niên về kinh tế và tiền tệ của Lào.
2. www.bol.gov.la
3. www.imf.com
4. https://www.mof.gov.la/index.php/publications-
and-statistics_la/
5. https://www.lsb.gov.la/Tổng cục Thống kê Quốc gia
6. https://www.covid19.gov.la/index.php

ThS. Odaly Senchanthixay 
Nghiên cứu sinh Học viện Ngân hàng, cán bộ Ngân hàng CHDCND Lào
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
15/02/2024 2.434 lượt xem
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng trong việc tăng cường và bảo vệ giá trị của tổ chức thông qua chức năng cung cấp sự đảm bảo, tư vấn khách quan, chuyên sâu và theo định hướng rủi ro.
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
13/02/2024 2.576 lượt xem
Nhìn lại năm 2023, trên khắp Việt Nam và Nhật Bản đã diễn ra nhiều sự kiện kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tháng 12/2023, Mizuho đã hỗ trợ Diễn đàn kinh tế Nhật Bản - Việt Nam tại Tokyo cùng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và các định chế tài chính khác.
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
26/01/2024 3.859 lượt xem
Sau những cú sốc mạnh trong năm 2022, hoạt động kinh tế toàn cầu có dấu hiệu ổn định vào đầu năm 2023.
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
15/01/2024 4.652 lượt xem
Chuyển đổi số và sự bùng nổ công nghệ có ảnh hưởng lớn đến hành vi của khách hàng và hoạt động kinh doanh. Xu hướng thay đổi này dẫn đến quá trình số hóa trong các lĩnh vực như sản xuất, chuỗi cung ứng, tài chính và các dịch vụ phụ trợ khác.
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
05/01/2024 5.601 lượt xem
Trong năm vừa qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ sụp đổ của những ông lớn trong lĩnh vực ngân hàng, điều này dấy lên hồi chuông cảnh báo về tính chất dễ đổ vỡ của ngân hàng. Việc một ngân hàng đổ vỡ thể hiện kỉ luật thị trường đối với những ngân hàng có hoạt động kinh doanh thiếu an toàn, lành mạnh nhưng lại tạo ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng và người gửi tiền.
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
21/12/2023 6.654 lượt xem
Sự chuyển dịch nhanh chóng của hệ thống tiền tệ số toàn cầu đã khiến chính phủ các nước có phần lúng túng trong việc thích nghi với sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi chi tiêu và đầu tư của người dân.
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
20/12/2023 6.205 lượt xem
Trung Quốc là đối tác kinh tế, thương mại và đầu tư lớn nhất của châu Phi trong thời gian qua và sẽ tiếp tục trong thời gian tới. Bài viết này tóm lược sự phát triển quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc với các nước châu Phi trong thời gian hơn một thập kỉ vừa qua và việc Trung Quốc sử dụng lĩnh vực ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển đó.
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
16/11/2023 7.318 lượt xem
Bài viết khái quát quá trình triển khai huy động dòng vốn toàn cầu thông qua tiền mã hóa của Chính phủ Ukraine và Liên bang Nga; từ đó, đánh giá hiệu quả thực tiễn của việc sử dụng tiền mã hóa trong thanh toán xuyên biên giới, nguy cơ sử dụng tiền mã hóa trong các hoạt động rửa tiền, khủng bố và đưa ra hàm ý cho Việt Nam.
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
06/11/2023 7.323 lượt xem
Hoạt động huy động vốn cộng đồng đã trở nên phổ biến sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, phương thức này đã phát triển nhanh chóng ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó, hoạt động huy động vốn theo hình thức cổ phần (Equity - based Crowdfunding - ECF) là hình thức gọi vốn được các doanh nghiệp trong giai đoạn khởi đầu, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo rất ưa chuộng. Với ECF, các doanh nghiệp có thể huy động vốn từ cộng đồng thông qua một nền tảng trên Internet.
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
20/10/2023 8.518 lượt xem
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và việc sử dụng ngày càng nhiều điện thoại thông minh và máy tính bảng, xu hướng hợp kênh đã dần trở nên quan trọng đối với tập hợp đa dạng các dịch vụ ngân hàng. Hoạt động ngân hàng hợp kênh cung cấp đường dẫn đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng thông qua nhiều kênh khác nhau (như chi nhánh ngân hàng, ATM, tổng đài điện thoại, eBanking, Internet Banking và Mobile Banking) một cách hợp nhất dựa trên ý tưởng “mọi thứ đều có thể được làm trên mọi kênh”.
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
04/10/2023 11.900 lượt xem
Khi thế giới ngày càng trở nên số hóa và kết nối, cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng ngày một gia tăng, tạo động lực cho các ngân hàng thích ứng và thực hiện chuyển đổi số. Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối... đang hỗ trợ và đẩy nhanh tốc độ của quá trình chuyển đổi số, giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
04/10/2023 9.700 lượt xem
Trong vài năm gần đây, nền kinh tế tuần hoàn (Circular economy - CE) đang ngày càng được chú ý trên toàn thế giới như một cách để khắc phục mô hình sản xuất và tiêu dùng hiện tại dựa trên tăng trưởng liên tục và tăng thông lượng tài nguyên.
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
25/09/2023 10.741 lượt xem
Hiệp ước Basel II đã và đang được các ngân hàng thương mại (NHTM) áp dụng rộng rãi như một chiến lược nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản trị rủi ro, đảm bảo sự ổn định tài chính của ngân hàng. Mặc dù vậy, cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng giai đoạn 2008 - 2009 với sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính lớn như Ngân hàng Đầu tư Bear Stearns, các ngân hàng Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers đã cho thấy những điểm yếu của Basel II như mức vốn cấp 1 (Tier 1) tối thiểu 4% và tỉ lệ an toàn vốn không đủ bù đắp các khoản lỗ lớn; một số kĩ thuật sử dụng kế toán sáng tạo có thể che đậy rủi ro tín dụng; suy thoái kinh tế có thể dẫn đến áp lực bán tháo làm tăng tính thuận chu kì của hệ thống; sử dụng một số sản phẩm tài chính phức tạp như công cụ phái sinh, bảo lãnh như một phần của việc giảm rủi ro tín dụng…
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
21/09/2023 10.580 lượt xem
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi rất nhiều yếu tố làm suy giảm đà phục hồi, nền kinh tế các nước tại khu vực châu Á cũng nằm trong xu hướng đó và được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại với các động lực tăng trưởng yếu, áp lực lạm phát ở mức vừa phải.
Khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ: Nguyên nhân và tác động
Khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ: Nguyên nhân và tác động
20/09/2023 12.552 lượt xem
Căng thẳng ngân hàng tại Mỹ bắt đầu xảy ra vào tháng 3/2023, khi Ngân hàng Silicon Valley (SVB) sụp đổ, sau đó lan truyền sang một số ngân hàng khác, làm dấy lên lo ngại về tính ổn định trong khu vực tài chính. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố dẫn đến khủng hoảng ngân hàng, biện pháp xử lí của cơ quan quản lí, tác động của nó cũng như bài học kinh nghiệm rút ra là hết sức cần thiết.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?