Tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến hoạt động của các tổ chức tín dụng.
22/11/2021 8.730 lượt xem
Dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính về phương diện kế toán cho những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD)...
 
Tóm tắt:
 
Dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính về phương diện kế toán cho những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD), từ đó giúp các TCTD đánh giá chính xác hơn về chất lượng danh mục tín dụng cũng như tình hình tài sản có của họ. Tuy nhiên, do dự phòng rủi ro tín dụng được tính vào chi phí hoạt động và là các khoản chi phí không bằng tiền nên nó có ảnh hưởng đến chi phí hoạt động, lợi nhuận, dòng tiền từ hoạt động, khả năng trích lập quỹ, khả năng chi trả cổ tức, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn cũng như thị giá cổ phần của các TCTD. Nói cách khác, dự phòng rủi ro tín dụng không phải là “công cụ” giúp các TCTD có được “nguồn dự phòng rủi ro tín dụng” hay trích lập được “Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng”. Vì thế, rất cần có những quy định kèm theo để các ước tính kế toán này phát huy tác dụng như kỳ vọng của các nhà quản lý. Trên cơ sở đó, bài viết cho thấy: (1) Bản chất của dự phòng rủi ro tín dụng; (2) Tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến hoạt động của các TCTD; (3) Để dự phòng rủi ro tín dụng phát huy tác dụng như kỳ vọng, nhóm tác giả đề xuất các biện pháp nhằm giúp các TCTD có được lượng “tiền tươi - thóc thật” dự phòng cho các tổn thất trong hoạt động tín dụng của mình.
 
Từ khóa: Chi phí không bằng tiền, tiết kiệm thuế, dự phòng rủi ro, phân loại nợ. 
 
1. Bản chất của dự phòng rủi ro tín dụng 
 
Tín dụng là tài sản sinh lời chủ yếu của các TCTD, tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các TCTD do khả năng khách hàng không trả được nợ khi đến hạn. Sự kiện này được gọi là rủi ro tín dụng. Do đó, để ổn định thu nhập và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn, các TCTD cần ước tính được những tổn thất của hoạt động tín dụng, đồng thời trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và tìm cách duy trì được lượng tiền tương ứng để bù đắp được những tổn thất trong hoạt động tín dụng của mình.
 
Tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thì dự phòng rủi ro tín dụng được giải thích là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với nợ của TCTD. Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể.
 
Để làm cơ sở cho việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, Thông tư số 11/2021/TT-NHNN yêu cầu các TCTD ít nhất mỗi tháng 1 lần phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Nợ của các TCTD được phân thành 5 nhóm nợ theo phương pháp định tính hoặc định lượng, bao gồm: Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn); nhóm 2 (nợ cần chú ý); nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn); nhóm 4 (nợ nghi ngờ); nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trong đó, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với TCTD. Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.
 
Cũng theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN thì các TCTD phải trích dự phòng chung bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 (có loại trừ các khoản tiền gửi tại TCTD, khoản cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các TCTD, khoản mua kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do TCTD phát hành trong nước, khoản mua bán lại trái phiếu Chính phủ). Dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể được tính bằng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể nhân với dư nợ tín dụng của từng khoản cấp tín dụng sau khi đã khấu trừ giá trị tài sản bảo đảm. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: Nhóm 1: 0%; nhóm 2: 5%; nhóm 3: 20%; nhóm 4: 50%; nhóm 5: 100%.
 
Các TCTD được sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong các trường hợp khách hàng là tổ chức bị giải thể, phá sản; cá nhân bị chết, mất tích, các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5. Các TCTD sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý rủi ro theo nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, sử dụng dự phòng chung hoặc sử dụng dự phòng cụ thể, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, sử dụng dự phòng chung. Các TCTD phải hạch toán ngoại bảng phần dư nợ đã sử dụng dự phòng cụ thể, dự phòng chung để xử lý rủi ro. Các TCTD không được thông báo cho khách hàng về việc khoản nợ đã được sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.
 
Để hạch toán và theo dõi dự phòng rủi ro tín dụng, các TCTD phải mở tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng chung và dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể cho từng loại hình cấp tín dụng (cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, trả thay các cam kết ngoại bảng,…). Bên Có của các tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng ghi nhận các khoản trích lập hay trích lập bổ sung dự phòng rủi ro tín dụng tính vào chi phí hoạt động. Bên Nợ của các tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng ghi nhận các khoản sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp tổn thất (nợ có khả năng mất vốn) và hoàn nhập số chênh lệch thừa dự phòng đã lập theo quy định. Số dư Có của tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng phản ánh số dự phòng rủi ro tín dụng hiện có cuối kỳ của TCTD.
 
Để đánh giá chất lượng danh mục tín dụng, các TCTD có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng được tính bằng cách chia dự phòng rủi ro tín dụng cho tổng dư nợ tín dụng của các TCTD. Để phản ánh khả năng bù đắp nợ xấu bằng dự phòng rủi ro tín dụng, các TCTD sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ bao phủ nợ xấu được tính bằng cách chia dự phòng rủi ro tín dụng cho số dư nợ xấu bao gồm nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Thông thường, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng thấp hơn 100%  nhưng tỷ lệ bao phủ nợ xấu có thể lớn hơn 100% do tỷ lệ nợ xấu khá thấp (có khi chưa đến 1% tổng dư nợ tín dụng) trong khi dự phòng rủi ro tín dụng tích lũy lớn hơn tổng nợ xấu của TCTD rất nhiều. 
 
2. Tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến hoạt động của các TCTD
 
Từ các quy định về trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng cho thấy, bản chất của dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính về phương diện kế toán cho những tổn thất tiềm năng trong hoạt động tín dụng của các TCTD. Nhờ các ước tính này mà chất lượng danh mục tín dụng của các TCTD được phản ánh chính xác hơn, từ đó, giúp các TCTD đánh giá được chính xác hơn tài sản Có của TCTD. Mặt khác, do dự phòng rủi ro tín dụng được tính vào chi phí hoạt động và là một khoản chi phí không bằng tiền nên nó có tác động đến chi phí hoạt động, lợi nhuận, dòng tiền từ hoạt động, khả năng trích lập quỹ, khả năng chi trả cổ tức, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn, cũng như giá cổ phần của các TCTD trên thị trường.
 
Tác động đến danh mục tín dụng và tài sản Có của các TCTD 
 
Do dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính kế toán cho những tổn thất tiềm năng trong hoạt động tín dụng của các TCTD nên các khoản dự phòng rủi ro tín dụng này sẽ được điều chỉnh giảm với dư nợ các khoản cấp tín dụng Bên tài sản Có của Bảng cân đối kế toán của các TCTD, các khoản mục dự phòng rủi ro tín dụng điều chỉnh giảm này sẽ giúp các TCTD xác định được dư nợ tín dụng thuần, một chỉ tiêu phản ánh chính xác chất lượng danh mục tín dụng hơn so với chỉ tiêu dư nợ tín dụng của các TCTD cũng như tài sản Có hiện tại của các TCTD. 
 
Tác động đến chi phí hoạt động và lợi nhuận trước thuế 
 
Do khoản dự phòng rủi ro tín dụng này được hạch toán vào chi phí hoạt động nên nó có tác động làm tăng chi phí hoạt động của các TCTD, dẫn đến làm giảm tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên được đo lường bằng tỷ lệ giữa hiệu số thu nhập hoạt động và chi phí hoạt động với tổng tài sản bình quân của TCTD, khiến cho các TCTD không muốn giảm thêm lãi suất cho vay hoặc thậm chí có xu hướng muốn gia tăng lãi suất cho vay để bù đắp cho sụt giảm trong tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên của các TCTD. Chi phí hoạt động tăng cũng làm giảm lợi nhuận trước thuế của các TCTD.
 
Tác động đến chi phí thuế thu nhập và lợi nhuận sau thuế
 
Do dự phòng rủi ro tín dụng được hạch toán vào chi phí hoạt động nên nó có tác động làm giảm chi phí thuế thu nhập hiện hành của các TCTD. 
 
Tác động đến dòng tiền từ hoạt động 
 
Mặc dù dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận sau thuế của các TCTD nhưng do nó là chi phí không bằng tiền nên có tác dụng giúp các TCTD tiết kiệm được chi phí thuế thu nhập hiện hành, từ đó có tác dụng làm tăng dòng tiền từ hoạt động cho các TCTD. 
 
Tác động đến khả năng trích lập các quỹ, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn và thị giá cổ phần 
 
Do dự phòng rủi ro tín dụng tác động làm giảm lợi nhuận sau thuế nên nó cũng tác động làm giảm khả năng trích lập quỹ của các TCTD (Quỹ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ dự phòng tài chính và các quỹ khác). Mặt khác, lợi nhuận sau thuế giảm làm giảm lợi nhuận chưa phân phối, vì vậy, nó tác động trực tiếp làm giảm vốn chủ sở hữu của các TCTD. Vốn chủ sở hữu giảm cũng có tác động làm giảm tỷ lệ an toàn vốn của các TCTD. Ngoài ra, lợi nhuận sau thuế giảm do trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cũng tác động làm giảm khả năng chi trả cổ tức cho các cổ đông. Thông tin này cùng với thông tin về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận sau thuế của các TCTD, cuối cùng có tác động đến giá cổ phần của các TCTD trên thị trường.
 
3. Để dự phòng rủi ro tín dụng phát huy tác dụng như kỳ vọng
 
Nhận biết được bản chất của dự phòng rủi ro tín dụng và các tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến hoạt động của các TCTD về phương diện chi phí và lợi nhuận, tài sản, vốn và quỹ, tỷ lệ an toàn vốn và thị giá cổ phần cho thấy rằng, dự phòng rủi ro tín dụng không phải là “công cụ” giúp cho các TCTD có được “nguồn dự phòng rủi ro tín dụng” hay “Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng” như kỳ vọng của các nhà quản lý. Do đó, cần có những quy định kèm theo để dự phòng rủi ro tín dụng giúp cho các TCTD tạo ra được lượng “tiền tươi - thóc thật” để xử lý rủi  ro tín dụng, đảm bảo được năng lực tài chính và khả năng chi trả cho các TCTD. Do vậy, nhóm tác giả có một số đề xuất bổ sung các quy định kèm theo bao gồm:
 
Một là, loại trừ dự phòng rủi ro tín dụng trong tài sản có tính thanh khoản cao khi tính tỷ lệ khả năng chi trả của các TCTD để đảm bảo các TCTD có được lượng “tiền tươi - thóc thật” để xử lý rủi ro tín dụng. Điều này sẽ giúp cho việc xử lý rủi ro tín dụng không ảnh hưởng đến khả năng chi trả của các TCTD.
 
Hai là, khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt đến 100% thì các TCTD có thể dừng trích lập dự phòng chung, đặc biệt là dự phòng chung cho nợ nhóm 1 vì thực tế cho thấy, tỷ lệ nợ nhóm 1 chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ tín dụng của các TCTD, nên việc trích lập dự phòng chung cho nợ nhóm 1 trong giai đoạn tăng trưởng tín dụng cao và chất lượng tăng trưởng tín dụng được kiểm soát tốt sẽ làm tăng nhanh dự phòng rủi ro tín dụng của các TCTD một cách không cần thiết.
 
Ba là, khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu lớn hơn 100% đến một tỷ lệ nào đó (chẳng hạn 200% hay 300%) thì các TCTD phải hoàn nhập dự phòng phần vượt quá tỷ lệ tối đa được phép. Quy định này sẽ giúp các TCTD giải phóng được lượng tài sản có thanh khoản cao cho các mục đích sinh lời khác như cấp tín dụng hoặc đầu tư. Mặt khác, quy định này cũng nhằm giúp cho các TCTD hạn chế được những tác động tiêu cực do bị giảm lợi nhuận sau thuế, khả năng trích lập quỹ và tỷ lệ an toàn vốn, khả năng chi trả cổ tức. Bên cạnh đó, quy định này cũng giúp cho ngân sách Nhà nước không bị giảm thu từ nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của các TCTD. Thử hình dung rằng, một TCTD có tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên đến 100% hay thậm chí cao hơn nữa giúp cho các TCTD tiết kiệm được thuế thu nhập đáng kể như thế nào. Mặt khác, một khi vốn khả dụng và các khoản đầu tư (tín phiếu, chứng khoán và giấy tờ có giá) hiện có của TCTD thấp hơn dự phòng rủi ro tín dụng thì điều này có nghĩa là TCTD không còn đảm bảo được tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu theo quy định, thậm chí một lượng tiền thay vì để dự phòng rủi ro tín dụng đã bị các TCTD sử dụng vào mục đích cấp tín dụng và/hoặc các mục đích sinh lời khác. Khi đó, dự phòng rủi ro tín dụng không còn tác dụng gì nữa.
 
Bốn là, ban hành thông tư hướng dẫn thẩm định giá tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu các TCTD phải ban hành các quy định nội bộ về thẩm định giá tài sản bảo đảm phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam cũng như các tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế. Quy định này sẽ hạn chế việc các TCTD thẩm định giá hoặc tái thẩm định giá tài sản bảo đảm một cách có chủ ý để cố tình tăng hoặc giảm trích dự phòng rủi ro tín dụng không phù hợp với giá trị thị trường của tài sản bảo đảm được khấu trừ.

Tài liệu tham khảo:
 
1. Phạm Xuân Quỳnh, Trần Đức Tuấn (2019), Nghiên cứu dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Tài chính online 23/4/2019.
 
2. Nguyễn Văn Thuận, Dương Hồng Ngọc (2015), Phân tích các yếu tố tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh - số 10 (3) 2015.
 
3. Hà Phương (2021), Soi mức trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tại ngân hàng, https://sohuutritue.net.vn/soi-muc-trich-lap-chi-phi-du-phong-rui-ro-tin-dung-tai-ngan-hang-d24961.html
 
4. Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
 
5. Quyết định số 479/2004/QĐ-NHNN ngày 29/4/2004 của Thống đốc NHNN ban hành Hệ thống tài khoản kế toán các TCTD.
 
6. Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 của Thống đốc NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

TS. Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc, TS. Phan Ngọc Minh (Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM)
 
ThS. Đinh Văn Hoàn (Công ty cổ phần Khu công nghiệp Tân Bình)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Hệ thống ngân hàng tỉnh Thừa Thiên Huế đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp
Hệ thống ngân hàng tỉnh Thừa Thiên Huế đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp
30/09/2022 86 lượt xem
Trong hai năm 2020 - 2021, dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Cùng với cả nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã đồng tâm, đồng sức tham gia chiến dịch phòng, chống dịch Covid-19 ở quy mô lớn, đẩy lùi dịch bệnh.
Chương trình tín dụng chính sách:  20 năm phát huy hiệu quả
Chương trình tín dụng chính sách: 20 năm phát huy hiệu quả
27/09/2022 882 lượt xem
Chương trình tín dụng chính sách với nòng cốt là các hoạt động cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã và đang mang lại ý nghĩa nhân văn sâu sắc, phù hợp với thực tiễn, là trụ cột quan trọng trong chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững, góp phần hạn chế “tín dụng đen”, tạo nguồn lực cho tỉnh An Giang thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Tín dụng chính sách xã hội: Góp phần giảm nghèo ở Thủ đô Kháng chiến
Tín dụng chính sách xã hội: Góp phần giảm nghèo ở Thủ đô Kháng chiến
23/09/2022 1.325 lượt xem
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, có địa hình đa dạng và phức tạp, đồi núi chiếm hơn 73% diện tích với 02/07 huyện nghèo, 57/138 xã vùng khó khăn; Tuyên Quang có 213.357 hộ gia đình với 867.000 nhân khẩu. Trong 20 năm qua, đã có 825.906 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) để vươn lên thoát nghèo bền vững.
Tiếp tục triển khai và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu - Góp phần khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế
Tiếp tục triển khai và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu - Góp phần khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế
21/09/2022 633 lượt xem
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu luôn được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quan tâm, quyết liệt chỉ đạo thực hiện để đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), góp phần khơi thông nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng, qua đó tăng cường mức độ an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.
Hành trình 20 năm nỗ lực với sứ mệnh vì người nghèo và các đối tượng chính sách khác
Hành trình 20 năm nỗ lực với sứ mệnh vì người nghèo và các đối tượng chính sách khác
20/09/2022 969 lượt xem
Hà Quảng là một huyện vùng cao, nằm ở phía tây tỉnh Cao Bằng, có diện tích đất tự nhiên gần 811 km2, dân số 62.517 người, gồm 5 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 99,5% tổng số hộ dân toàn huyện. Hà Quảng có 21 đơn vị hành chính cấp xã gồm 19 xã và 02 thị trấn; theo chuẩn nghèo đa chiều, tính đến ngày 30/12/2021, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện chiếm 51,59% với tổng số 7.227 hộ, trong đó, hộ nghèo có 5.546 hộ, chiếm 39,59%, hộ cận nghèo có 1.681 hộ, chiếm 12%.
Điều hành tín dụng hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát
Điều hành tín dụng hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát
15/09/2022 351 lượt xem
Theo các chuyên gia, đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, việc không quản lý được lạm phát sẽ tạo ra rất nhiều bất ổn. Từ sau khi ổn định hệ thống tiền tệ với chính sách room tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô khi lạm phát được kiểm soát tốt.
Ngành Ngân hàng chủ động triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương
Ngành Ngân hàng chủ động triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương
13/09/2022 407 lượt xem
Thời gian qua, trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn có chủ trương, chính sách, giải pháp kịp thời, đúng đắn nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, từ đó tạo động lực và nền tảng cho phát triển kinh tế.
 Tín dụng chính sách trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: Gieo niềm tin cho người yếu thế
Tín dụng chính sách trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: Gieo niềm tin cho người yếu thế
07/09/2022 326 lượt xem
Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km, với tổng diện tích tự nhiên là 57.790 ha.
Hệ thống ngân hàng tỉnh Bắc Ninh tiếp tục các giải pháp nhằm hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Hệ thống ngân hàng tỉnh Bắc Ninh tiếp tục các giải pháp nhằm hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội địa phương
02/09/2022 1.153 lượt xem
Tám tháng đầu năm 2022, nhờ hàng loạt cơ chế, chính sách được Chính phủ, các bộ, ngành ban hành kịp thời như điều chỉnh giảm giá xăng dầu, miễn giảm thuế cho người dân và doanh nghiệp…, tạo điều kiện cho nền kinh tế cả nước nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng tiếp tục phục hồi và tăng trưởng.
Ngân hàng Chính sách xã hội  Cư M’gar: Dấu ấn 20 năm đồng hành cùng người nghèo
Ngân hàng Chính sách xã hội Cư M’gar: Dấu ấn 20 năm đồng hành cùng người nghèo
29/08/2022 1.096 lượt xem
Thực hiện Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, trong 20 năm qua, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã triển khai rộng rãi và hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách xã hội, góp phần tích cực vào thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn huyện.
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình: Hướng tín dụng vào động lực phát triển kinh tế của tỉnh
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình: Hướng tín dụng vào động lực phát triển kinh tế của tỉnh
26/08/2022 1.105 lượt xem
Những tháng đầu năm 2022, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã bám sát chủ trương của Chính phủ, định hướng và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thực hiện các giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả.
Hệ thống ngân hàng tỉnh Tuyên Quang: Luôn đồng hành  cùng sự phát triển của địa phương
Hệ thống ngân hàng tỉnh Tuyên Quang: Luôn đồng hành cùng sự phát triển của địa phương
23/08/2022 2.724 lượt xem
Khi tình hình đại dịch Covid-19 cơ bản đã được kiểm soát, tỷ lệ bao phủ vaccine cao, người dân bắt đầu trở lại trong hoạt động kinh doanh, sản xuất, hệ thống ngân hàng tỉnh Tuyên Quang xác định nhiệm vụ trọng tâm của mình trong các tháng cuối năm 2022 và giai đoạn 2022 - 2025 là tập trung, ưu tiên đầu tư tín dụng hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình (Nghị quyết 11/NQ-CP) và đẩy nhanh việc chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt.
Ngân hàng Chính sách xã hội Quảng Nam: Bền bỉ hành trình cung ứng tín dụng giảm nghèo bền vững
Ngân hàng Chính sách xã hội Quảng Nam: Bền bỉ hành trình cung ứng tín dụng giảm nghèo bền vững
22/08/2022 1.169 lượt xem
Những năm qua, tín dụng chính sách xã hội đã trở thành một chủ công hỗ trợ nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa của tỉnh Quảng Nam, tín dụng chính sách xã hội đang là lực đẩy giúp người dân từng bước thoát nghèo. Tuy nhiên, câu chuyện giảm nghèo bền vững, nối gần khoảng cách thu nhập với người dân miền Trung và Tây Nguyên nói riêng, các vùng miền trên cả nước nói chung vẫn là thách thức đối với tỉnh Quảng Nam trong những năm tới.
Giải pháp cho công nhân, người lao động tiếp cận vốn chính thức, tránh xa “bẫy” tín dụng đen
Giải pháp cho công nhân, người lao động tiếp cận vốn chính thức, tránh xa “bẫy” tín dụng đen
19/08/2022 1.439 lượt xem
Nhằm giúp công nhân, người lao động sớm thoát khỏi những hình thức vay tín dụng đen, ngành Ngân hàng đã chỉ đạo các công ty tài chính tiêu dùng đưa ra gói tín dụng 20 nghìn tỷ đồng, với lãi suất bằng một nửa lãi suất cho vay hiện nay để cho công nhân, người lao động ở các khu công nghiệp có nhu cầu vay tiêu dùng.
Hệ thống ngân hàng tỉnh Đồng Tháp đồng bộ các giải pháp hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh
Hệ thống ngân hàng tỉnh Đồng Tháp đồng bộ các giải pháp hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh
11/08/2022 1.220 lượt xem
Để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, thực hiện theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình (Nghị quyết số 11) nhằm phục hồi, phát triển nhanh hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong 7 tháng đầu năm 2022, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã chủ động, kịp thời tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo điều hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các nhiệm vụ, giải pháp về tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn đạt được kết quả tích cực, góp phần đáng kể vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

65.800

66.620

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

65.800

66.600

Vàng SJC 5c

65.800

66.620

Vàng nhẫn 9999

50.350

51.250

Vàng nữ trang 9999

50.250

50.850


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?