Hoàn thiện các FTA: Động lực cho nền kinh tế Đông Nam Á đón đầu cơ hội
06/10/2020 2.378 lượt xem
Khi xảy ra suy thoái, các nền kinh tế thường hình thành xu hướng bảo hộ bằng cách dựng lên các rào cản thương mại. Nhưng đó không phải là một lựa chọn được khuyến khích đối với khu vực Đông Nam Á vốn phụ thuộc vào thương mại. Bây giờ là thời điểm các thành viên ASEAN cởi mở hơn nữa bằng cách tham gia hoàn thiện các thỏa thuận thương mại đa phương như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Khi Đông Nam Á thận trọng từng bước nới lỏng các hạn chế sau đại dịch Covid-19, trọng tâm chính sách đang chuyển từ giai đoạn thử nghiệm sang khởi động nền kinh tế. Trong dự báo hồi tháng 6, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính rằng 5 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á sẽ giảm 2% vào năm 2020, tốt hơn mức trung bình toàn cầu - 5%, nhưng vẫn sẽ là một cú sốc nghiêm trọng đối với một khu vực đã trải qua tăng trưởng hàng năm kể từ những năm 1960.

Xây dựng lại động cơ tăng trưởng của Đông Nam Á sẽ là một thách thức. Ba lĩnh vực thương mại lớn của khu vực - hàng hóa, điện tử và dệt may - tất cả đều phải đối mặt với sự bất ổn kinh tế khi nhu cầu giảm. Và đầu tư, vốn đã từng là động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng, sẽ giảm đáng kể trên khắp Đông Nam Á, làm kìm hãm tốc độ tăng trưởng sản xuất của khu vực. Sự cám dỗ vào những thời điểm kinh tế toàn cầu không chắc chắn là cố gắng kích cầu và đóng cửa nền kinh tế.

Hoàn thiện các FTA khu vực sẽ là động lực cho nền kinh tế Đông Nam Á đón đầu cơ hội và không bị bỏ lại phía sau

Ngay cả trước Covid-19, có bằng chứng cho thấy Đông Nam Á đang trở nên thận trọng hơn khi nền kinh tế toàn cầu chao đảo. Vào tháng 4/2019, Hội đồng Kinh doanh ASEAN- EU ước tính rằng, 10 thành viên ASEAN đã áp đặt khoảng 6.000 hàng rào phi thuế quan riêng biệt đối với thương mại trong khu vực.

Các rào cản được xây dựng nhằm cố gắng bảo hộ nền kinh tế khỏi sự không chắc chắn có xu hướng trở thành rào cản đối với tăng trưởng. Phục hồi sau đại dịch là một thách thức, nhưng nó cũng là cơ hội để thiết lập lại chính sách: cơ hội mới để tạo ra một môi trường thương mại thuế quan thấp minh bạch, có phối hợp, tạo điều kiện cho sự phục hồi trong ngắn hạn và tạo tiền đề cho sự thịnh vượng lâu dài.

Mấu chốt nằm ở các hiệp định thương mại tự do, cụ thể là RCEP và CPTPP. RCEP chiếm 30% dân số thế giới và 29% tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu. CPTPP là một hiệp định thương mại tự do khu vực toàn diện, tiêu chuẩn cao, quy tụ 11 ​​nền kinh tế từ cả hai bên Thái Bình Dương, chiếm tỷ trọng dưới 14% nền kinh tế toàn cầu.

Trong thời điểm chủ nghĩa bảo hộ gia tăng và những sóng gió kinh tế, các hiệp định này hứa hẹn sẽ mở ra cánh cửa cho một kỷ nguyên mới về hội nhập thương mại và đầu tư và sự chắc chắn giữa các quốc gia, duy trì trật tự dựa trên luật lệ và tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các nước lớn và nhỏ. RCEP - bao gồm 10 quốc gia ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand - được cho là đã đi đến những chi tiết cuối cùng sau gần một thập kỷ đàm phán.

Rõ ràng, một hiệp định RCEP được hoàn thành sẽ là một động lực kinh tế được hoan nghênh và kịp thời cho các doanh nghiệp đang tìm cách bù đắp tác động của đợt bùng phát Covid-19. Các thành viên đang nỗ lực kết thúc các cuộc đàm phán này trước hội nghị thượng đỉnh RCEP vào cuối năm nay.

Các thành viên RCEP cũng đã tuyên bố rõ ràng rằng sẽ “để ngỏ cánh cửa” để Ấn Độ tham gia trở lại. Các FTA cũng có thể tạo ra hàng rào cho các thị trường Đông Nam Á, những thị trường có thể bị ảnh hưởng và dễ bị tổn thương bởi các rào cản thương mại từ các đối tác thương mại truyền thống. Thái Lan, Indonesia và Philippines đã cân nhắc chi phí và lợi ích của việc gia nhập CPTPP khi mà Singapore, Malaysia, Việt Nam và Brunei đã là thành viên trong hiệp định này. Nhưng với triển vọng kinh tế toàn cầu không còn tươi sáng như 9 tháng trước, các thị trường này có thể cần phải lựa chọn thực dụng hơn là sự hoàn hảo khi đánh giá khả năng tồn tại trong CPTPP. Rủi ro bỏ lỡ có thể gây tốn kém. Các FTA khu vực như RCEP và CPTPP cũng đang thúc đẩy các cải cách quy định quan trọng trong nước, bao gồm các lĩnh vực như luật lao động (gắn với năng suất lao động), tự do hóa đầu tư, an ninh mạng, quy tắc dữ liệu xuyên biên giới và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Những cải cách này tạo ra các khuyến khích thương mại vật chất cho thương mại và đầu tư từ các đối tác thành viên.

Điều này sẽ chỉ tăng tốc khi thấy được động lực của chuỗi cung ứng thay đổi. Ví dụ: nghiên cứu vào tháng 7/2020 của HSBC cho thấy, các công ty đang tìm kiếm sự kiểm soát, minh bạch và tự tin hơn trong sản xuất chuỗi cung ứng của họ. Các nhà cung cấp có thể đưa ra các đảm bảo theo khuôn khổ FTA để tìm kiếm lợi thế cạnh tranh. Kịch bản này rất có thể được áp dụng cho hệ sinh thái sản xuất điện tử của Đông Nam Á.

Hiện tại, Malaysia, Philippines, Việt Nam và Thái Lan đều cạnh tranh việc lắp ráp thiết bị điện tử có giá trị thấp hơn. Khi các nhà sản xuất bắt đầu xem xét lại các địa điểm trong chuỗi cung ứng của họ, trong môi trường Covid-19 này, các địa điểm trong tương lai có thể được lựa chọn dựa trên các quốc gia cung cấp các yếu tố hấp dẫn nhất. Tất nhiên, việc hoàn thiện một FTA không phải chỉ diễn ra trong một sớm một chiều vì các hiệp định này rất phức tạp và có tác động trực tiếp đến các nền kinh tế trong nước.

Để đạt được thành công sẽ đòi hỏi các chính phủ Đông Nam Á phải đưa ra những thông điệp mạnh mẽ và hấp dẫn đến các thành viên về những lợi ích mà các hiệp định này sẽ mang lại. Các nước cũng sẽ cần bổ sung chính sách thương mại với các chương trình trong nước nhằm tái kỹ năng hoặc sử dụng lại những lao động có thể bị ảnh hưởng bất lợi do cạnh tranh nước ngoài gia tăng.

Tuy có vẻ trái ngược, nhưng triển vọng kinh tế đầy thách thức hiện tại thực sự có thể là thời điểm hoàn hảo để các nước Đông Nam Á thực hiện các hành động chính sách kinh tế và thương mại mạnh mẽ và sâu rộng như hoàn thiện RCEP hoặc gia nhập CPTPP. Trong thời kỳ bấp bênh hơn, chẳng hạn như giai đoạn hiện nay, lựa chọn rõ ràng hơn, đó là phải nhận ra, chấp nhận và đón nhận sự thay đổi và nắm bắt cơ hội, hoặc phải đối mặt với việc bị bỏ lại phía sau.

Việt Dũng

Theo congthuong.vn

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 1.490 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.678 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 1.516 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 2.579 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.798 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.533 lượt xem
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.602 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 3.120 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 2.127 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 2.445 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 7.663 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.716 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.520 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 2.149 lượt xem
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 2.027 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?