Nghiên cứu về chỉ số tự do kinh tế thế giới tại một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
17/07/2023 2.466 lượt xem
Tóm tắt: Tại Việt Nam, tự do kinh tế là cốt lõi của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ số tự do kinh tế thế giới do Viện Fraser đề xuất, đánh giá mức độ tự do kinh tế của một quốc gia qua năm trụ cột: Quy mô chính phủ; hệ thống pháp luật và quyền sở hữu; đồng tiền tốt; tự do thương mại quốc tế; các quy định điều tiết về thị trường tín dụng, lao động và doanh nghiệp. Bài nghiên cứu phân tích quá trình phát triển nền kinh tế thị trường tại một số quốc gia tiêu biểu như Trung Quốc, Singapore và Thái Lan dưới góc nhìn bộ chỉ số tự do kinh tế thế giới, từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm cho quá trình tự do hóa nền kinh tế của Việt Nam.

Từ khóa: Tự do kinh tế, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
 
A STUDY ON THE INDEX OF ECONOMIC FREEDOM OF THE WORLD IN SOME COUNTRIES AND LESSONS FOR VIETNAM
 
Abstract: In Vietnam, economic freedom is at the core of the socialist-oriented market economy. The index of Economic Freedom of the World proposed by the Fraser Institute measures the degree of economic freedom of a country through five aspects, including: Size of Government; Legal System and Proprietary Rights; Sound Money; International free trade; Regulations. The article investigates the development of the market economy in some countries, such as China, Singapore, and Thailand, from the perspective of Economic Freedom of the World, thereby giving lessons learned for the liberalization of Vietnam’s economy.
 
Keywords: Economic freedom, socialist-oriented market economy.
 
 
1. Đặt vấn đề

Chỉ số tự do kinh tế thế giới (Economics Freedom of the World - EFW) do Viện Fraser  (Canada) đề xuất, đánh giá toàn diện mức độ tự do kinh tế của một quốc gia qua năm trụ cột: (i) Quy mô chính phủ; (ii) Hệ thống pháp luật và quyền sở hữu; (iii) Đồng tiền tốt; (iv) Tự do thương mại quốc tế; (v) Các quy định điều tiết về thị trường tín dụng, lao động và doanh nghiệp. 
 
Lịch sử phát triển kinh tế thị trường (KTTT) có ba hình thức: KTTT tự do, KTTT xã hội, KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) tại Việt Nam/KTTT XHCN tại Trung Quốc. Mô hình KTTT tự do đề cao vai trò của sở hữu tư nhân, cạnh tranh tự do. Phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển khu vực tư nhân dưới sự điều tiết của “bàn tay vô hình” (Adam Smith). Nhà nước có vai trò bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân và quyền tự do của con người. Mô hình KTTT xã hội có các đặc trưng cơ bản của mô hình KTTT tự do nhưng coi mục tiêu xã hội, phát triển con người là mục tiêu chính của quá trình phát triển KTTT. Trong mô hình KTTT xã hội, vai trò điều tiết của nhà nước được đề cao hơn. Mô hình KTTT XHCN/định hướng XHCN cho phép nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Dù quốc gia lựa chọn hình thức nào thì đảm bảo tính tự do vẫn là cốt lõi của nền KTTT.


Rào cản thuế quan là biện pháp được nhiều quốc gia sử dụng nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu và tạo nguồn thu cho ngân sách
 
Là quốc gia đi sau về phát triển KTTT, Việt Nam cần phải học hỏi kinh nghiệm thúc đẩy tự do kinh tế trong nền KTTT tại các quốc gia trong khu vực. Bài nghiên cứu lựa chọn ba quốc gia để nghiên cứu, bao gồm: Trung Quốc, Singapore và Thái Lan. Theo đó, Trung Quốc là quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam trong định hướng phát triển KTTT; Singapore được đánh giá mức độ tự do kinh tế cao thứ hai thế giới và thứ nhất trong khu vực Đông Nam Á - là hình mẫu phát triển tự do kinh tế; cùng với Singapore, Thái Lan có mức độ phát triển kinh tế hàng đầu khu vực Đông Nam Á và được đánh giá mức độ tự do kinh tế tương đồng với Việt Nam. Từ phân tích quá trình thúc đẩy tự do kinh tế tại một số quốc gia dưới góc nhìn bộ chỉ số tự do kinh tế, nghiên cứu chỉ ra những khía cạnh then chốt cần cải thiện nhằm thúc đẩy tự do kinh tế trong bối cảnh phát triển KTTT định hướng XHCN tại Việt Nam.
 
2. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong chiến lược phát triển tự do kinh tế
 
2.1. Nghiên cứu về chỉ số tự do kinh tế của Singapore
 
Singapore là quốc đảo có diện tích nhỏ với sự nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, nhưng hiện tại quốc gia này có quy mô kinh tế thứ ba trong ASEAN. Từ sau khi độc lập khỏi Malaysia năm 1965, kinh tế Singapore có sự phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, Singapore có thu nhập bình quân đầu người trên 50.000 USD, nằm trong số các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng trung bình 7,7% mỗi năm và cao nhất là 9,2% trong 25 năm đầu tiên kể từ khi độc lập. Cùng với đó, Singapore là quốc gia có chỉ số tự do kinh tế hàng đầu thế giới. (Hình 1)
 
Hình 1: Chỉ số EFW và xếp hạng EFW của Singapore giai đoạn 1970 - 2020

Nguồn: Viện Fraser

Theo đánh giá từ bộ chỉ số EFW, mức điểm tự do kinh tế của Singapore đã tăng từ 6,78 vào năm 1970 lên 8,48 vào năm 2020, đưa thứ hạng của Singapore từ 17 lên vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng mức độ tự do kinh tế. Mức xếp hạng thứ 2 được Singapore duy trì từ năm 2005 cho tới nay, chỉ xếp sau Hồng Kông (Trung Quốc), cho thấy định hướng và chính sách đúng đắn của Singapore trong công cuộc xây dựng nền kinh tế tự do.
 
2.1.1. Đồng tiền tốt
 
Sự ổn định của đồng tiền thực trong bộ chỉ số EFW được đo lường bằng bốn khía cạnh: 
 
(i) Tăng trưởng cung tiền; (ii) Độ lệch chuẩn của lạm phát; (iii) Lạm phát trong năm gần nhất; (iv) Tự do sở hữu tài khoản ngân hàng bằng ngoại tệ. Singapore được xếp hạng cao trong chỉ số sự ổn định của đồng tiền thực. Trong giai đoạn 2010 - 2022, chỉ số này dao động trong khoảng 9,22 đến 9,86. Trước diễn biến nền kinh tế Singapore và thế giới hiện tại, chỉ số sự ổn định của đồng tiền thực đang có xu hướng giảm. 
 
Hình 2: Chỉ số đồng tiền tốt tại Singapore

 Nguồn: Viện Fraser

Hình 2 cho thấy biến động của bốn khía cạnh trong chỉ số thành phần sự ổn định của đồng tiền thực theo bộ chỉ số EFW. Trong đó, chỉ số tốc độ tăng trưởng cung tiền của Singapore tăng trong giai đoạn 2010 - 2017 và có xu hướng giảm trong giai đoạn sau đó. Nguyên nhân do nền kinh tế Singapore giai đoạn 2017 đến nay có tốc độ tăng trưởng chậm dần. 
 
Sự tăng giá chung của hàng hóa hay lạm phát được Singapore kiểm soát ổn định. Trong giai đoạn 2015 - 2022, chỉ số độ lệch chuẩn của lạm phát và lạm phát trong năm gần nhất duy trì mức điểm cao theo bộ chỉ số EFW. Đặc biệt, chỉ số thành phần tự do sở hữu tài khoản ngân hàng bằng ngoại tệ đạt điểm 10 tuyệt đối trong suốt giai đoạn 2010 - 2022. Tại Singapore, tài khoản ngân hàng bằng ngoại tệ được phép sử dụng mà không bị hạn chế ở cả trong nước và nước ngoài. Điều này có được do chính sách phát triển Singapore trở thành trung tâm tài chính lớn của khu vực. Theo chỉ số trung tâm tài chính toàn cầu (GFCI), Singapore tăng 3 bậc, lên vị trí thứ 3. Trong danh sách này, New York và London duy trì vị trí thứ nhất và thứ hai.
 
2.1.2. Thuế quan
 
Rào cản thuế quan là biện pháp được nhiều quốc gia sử dụng nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu và tạo nguồn thu cho ngân sách. Tuy nhiên, theo lí thuyết về lợi thế so sánh, thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho cả hai bên. Vì vậy, nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) được kí kết nhằm loại bỏ hàng rào thuế quan trong khu vực mà FTA có hiệu lực. Singapore thuộc một trong năm quốc gia sáng lập ASEAN từ năm 1967, vì vậy quốc gia này có mặt trong tất cả các FTA của ASEAN với các đối tác thương mại. Ngoài ra, ASEAN còn tham gia nhiều các FTA với tư cách là quốc gia độc lập.
 
Trong nội bộ ASEAN, Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) kết thúc lộ trình cắt giảm thuế quan từ năm 2018, mức thuế nhập khẩu của tất cả hàng hóa trong khu vực này về 0%. Là trung tâm tài chính lớn và trung tâm trung chuyển hàng hóa, Singapore được hưởng lợi rất lớn từ biểu thuế của AFTA. Singapore còn là thành viên của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). CPTPP xóa bỏ thuế quan cho 94% hàng hóa xuất khẩu của Singapore sang các thị trường thuộc CPTPP. Cùng với Việt Nam, Singapore là một trong hai quốc gia nằm trong ASEAN có kí kết FTA với Liên minh châu Âu (EU). Theo đó, 84% tổng số mặt hàng được EU loại bỏ thuế quan ngay từ năm đầu tiên, 16% còn lại được thực hiện theo lộ trình 3 - 5 năm. EUSFTA (FTA đầu tiên của EU với một thành viên của ASEAN) tăng cường khả năng tiếp cận thị trường EU đối với các mặt hàng sản xuất tại Singapore như xúc xích, cá cơm… Hạn ngạch đối với các mặt hàng này lên tới 1.250 tấn hằng năm. 
 
Bên cạnh đó, Singapore tham gia kí kết các hiệp định thương mại đa phương khác với tư cách thành viên ASEAN và CPTPP như Hiệp định thương mại tự do EFTA - Singapore (ESFTA), Hiệp định thương mại tự do GCC - Singapore (GSFTA - Singapore) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Đối với các hiệp định thương mại song phương, Singapore hiện đang là thành viên của 16 FTA, đã bao gồm EUSFTA như đã phân tích.
 
2.2. Nghiên cứu về chỉ số tự do kinh tế của Thái Lan
 
Theo Ngân hàng Thế giới, trong bốn thập kỉ qua, Thái Lan đã đạt được tiến bộ đáng chú ý trong phát triển kinh tế và xã hội, chuyển từ một quốc gia có thu nhập thấp sang một quốc gia có thu nhập trung bình trong ít hơn một thế hệ. Nền kinh tế của Thái Lan tăng trưởng với tỉ lệ trung bình hằng năm là 7,5% trong những năm bùng nổ (1960 - 1996) và 5% trong những năm 1999 - 2005 sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Thái Lan đã đạt được những tiến bộ to lớn đối với các mục tiêu, đồng thời loại bỏ nghèo đói cùng cực và thúc đẩy sự thịnh vượng chung. Hiện tại, quy mô nền kinh tế Thái Lan đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN sau Indonesia, xếp thứ 25 thế giới. 
 
Theo chỉ số EFW của Viện Fraser, Thái Lan được xếp hạng 86 trong số 165 quốc gia trên thế giới (chỉ số thống kê) vào năm 2020 và xếp thứ 5 trong số 11 quốc gia ở khu vực Đông Nam Á. Đây là quốc gia có tự do kinh tế vừa phải với điểm tổng thể các chỉ số trên mức trung bình của khu vực và cả thế giới. Trong năm chỉ số thành phần, xếp hạng đồng tiền tốt của Thái Lan là 9,78 - cao nhất trong khu vực Đông Nam Á, và cao thứ 5 thế giới, bất chấp bất ổn về chính trị, đồng Baht Thái là một trong những đồng tiền hoạt động ổn định nhất trên thị trường. (Hình 3)

Hình 3: Chỉ số EFW và xếp hạng EFW của Thái Lan giai đoạn 2010 - 2020

 Nguồn: Viện Fraser

2.2.1. Hệ thống pháp luật và quyền sở hữu
 
Năm 2020, xếp hạng chỉ số thành phần hệ thống luật pháp và quyền sở hữu của Thái Lan đứng thứ 95, điều này cho thấy luật pháp ở Thái Lan rất yếu. Tham nhũng, hối lộ, chủ nghĩa thân hữu và gia đình trị là phổ biến. Đặc biệt là trong năm 2014 khi xảy ra khủng hoảng chính trị, tình trạng bất ổn xã hội đã đe dọa sự phát triển của nền kinh tế Thái Lan làm cho chỉ số giảm nghiêm trọng. Trong những năm gần đây, tổng chỉ số hệ thống pháp luật và quyền sở hữu tăng lên đáng kể nhờ hệ thống pháp luật đã được cải thiện, đặc biệt môi trường sở hữu trí tuệ ở Thái Lan được cập nhật liên tục. Hệ thống luật pháp về sở hữu trí tuệ ở Thái Lan cũng được sửa đổi và hoàn thiện.
 
Năm 2017, Cục Sở hữu trí tuệ Thái Lan đã công bố Lộ trình sở hữu trí tuệ 20 năm, đưa ra những chỉ dẫn cho việc phát triển sở hữu trí tuệ của đất nước trong vòng hai thập kỉ tới. Lộ trình bao gồm bốn lĩnh vực: Sáng tạo, bảo hộ, thương mại hóa, thực thi và hai lĩnh vực liên quan đến sở hữu trí tuệ cộng đồng và sở hữu trí tuệ quốc gia là chỉ dẫn địa lí và tài nguyên di truyền, kiến thức truyền thống, biểu hiện văn hóa truyền thống (là những lĩnh vực mà Thái Lan có lợi thế cạnh tranh). Năm 2018, Cục Sở hữu trí tuệ Thái Lan đã giới thiệu đầy đủ hệ thống nộp đơn điện tử mới để đăng kí nhãn hiệu, bằng sáng chế, bằng sáng chế thiết kế và cũng để ghi bản quyền, là hệ thống đăng nhập một lần cho bốn loại tài sản trí tuệ chính trong một nền tảng.
 
Bên cạnh đó, việc vận hành hệ thống chính sách đổi mới, nghiên cứu và phát triển (R&D) của Thái Lan trong một thời gian dài bị phân tán và gặp nhiều vấn đề về quản trị. Do đó, năm 2016, Chính phủ Thái Lan đã cải cách lại cấu trúc hệ thống đổi mới bằng cách thành lập Hội đồng Chính sách Nghiên cứu và Đổi mới quốc gia, đây là cơ quan hoạch định chính sách duy nhất. Chính phủ Thái Lan cũng nhận ra tầm quan trọng của R&D đối với tăng trưởng kinh tế. Do đó, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia lần thứ 12 của Thái Lan đã đặt ra mục tiêu tăng tổng đầu tư cho R&D lên 2% trong GDP vào năm 2021. Để đạt được mục tiêu, Chính phủ Thái Lan đã đưa ra nhiều cơ chế ưu đãi về thuế cho R&D. (Hình 4)
 
Hình 4: Xếp hạng thành phần hệ thống pháp luật và quyền sở hữu của Thái Lan

Nguồn: Viện Fraser

Có thể thấy, chính phủ Thái Lan đang đẩy mạnh những nỗ lực để giải quyết hai lĩnh vực quan trọng cho tầm nhìn của chính phủ về việc tiến tới một nền kinh tế dựa trên giá trị và dựa trên đổi mới - bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và an ninh mạng. Những cải cách nỗ lực này là chìa khóa để cho phép đầu tư vào tài sản kiến thức phát triển hơn. 
 
2.2.2. Tự do thương mại quốc tế
 
Các FTA Thái Lan đang tham gia gồm: AFTA; FTA Thái Lan - Australia (tháng 01/2005); FTA Thái Lan - New Zealand (tháng 4/2005); FTA Thái Lan - Nhật Bản (tháng 4/2007); FTA Thái Lan - Trung Quốc; FTA Thái Lan - Peru và FTA Thái Lan - Chile... Biện pháp phòng vệ thương mại được Thái Lan sử dụng nhiều nhất trong 10 năm qua là chống bán phá giá. 
 
Với hàng rào thuế quan, Thái Lan áp dụng mức thuế rất cao đối với tất cả hàng nhập khẩu. Về hàng rào phi thuế quan, Thái Lan thường có nhiều yêu cầu khắt khe về giấy phép hoặc những thủ tục hành chính phức tạp. Ngoài ra, Thái Lan còn sử dụng các biện pháp khống chế giá và cách tính thuế nhiều lần dựa trên một cấu trúc thuế rất phức tạp. Các tiêu chí về vệ sinh, an toàn thực phẩm cũng được Thái Lan áp dụng một cách triệt để. Các mặt hàng bị áp dụng nhiều nhất về hàng rào kĩ thuật chống bán phá giá là thép, hợp chất phthalic anhydride, acid citric, đèn hình màu và thủy tinh khối. Đối tác bị áp dụng nhiều nhất là các nước EU và Mỹ.
 
2.3. Nghiên cứu về chỉ số tự do kinh tế của Trung Quốc 

Sau 44 năm cải cách và mở cửa, nhờ tái cấu trúc kinh tế và nâng cao trình độ quản lí vĩ mô, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn: Trình độ phát triển tổng thể kinh tế - xã hội được nâng cao, vị thế trên trường quốc tế và đóng góp vào nền kinh tế toàn cầu không ngừng gia tăng. Ngay sau khi thực hiện mở cửa năm 1978, Trung Quốc đã thành lập nhiều khu kinh tế và đạt được những mục tiêu về thu hút vốn đầu tư, kĩ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lí tiên tiến từ bên ngoài và là nơi thực nghiệm các chính sách, thể chế mới của Trung Quốc. Đối với hội nhập quốc tế, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn của hơn 140 quốc gia và khu vực, dẫn đầu thế giới về tổng khối lượng thương mại hàng hóa. Trung Quốc có hơn 200 thỏa thuận hợp tác được kí kết trong khuôn khổ Sáng kiến Vành đai và Con đường.
 
Nhìn chung, chỉ số tự do kinh tế của Trung Quốc tăng dần trong giai đoạn 2010 - 2020; tuy nhiên, xếp hạng về tự do kinh tế của Trung Quốc vẫn thấp hơn mức trung bình của thế giới và không được cải thiện theo thời gian, điểm số tự do kinh tế của Trung Quốc năm 2020 là 6,27, xếp hạng thứ 116/165 quốc gia được khảo sát. (Hình 5)
 
Hình 5: Chỉ số EFW và xếp hạng EFW của Trung Quốc giai đoạn 2010 - 2020

   Nguồn: Viện Fraser

2.3.1. Hệ thống pháp luật và quyền sở hữu
 
Điểm mạnh của hệ thống pháp luật Trung Quốc là sự toàn diện, thiết lập trình tự tố tụng cho hệ thống tòa án và quy định rõ ràng tiêu chí về trình độ chuyên môn và đào tạo cho thẩm phán, luật sư. Hệ thống cũng hỗ trợ cải cách và tiếp nhận ý kiến đóng góp từ cơ quan, tổ chức và cá nhân khác nhau. Đảng Cộng sản Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách khác cũng mềm dẻo trong việc tham khảo các giải pháp quản lí và lập pháp khác trên thế giới. Tuy nhiên, hệ thống vẫn tồn tại một số điểm hạn chế liên quan đến cơ cấu luật pháp và hoạt động của hệ thống do phân lập chức năng giữa các cơ quan và sự can thiệp của nhiều bộ, cấp và cơ quan khác nhau. Tòa án và Viện kiểm sát không thể giám sát tính hợp pháp của các văn bản và quy định do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành. Điều này dẫn đến sự không thống nhất giữa phương thức tiếp cận của các cơ quan điều tra, tòa án và luật sư đối với mối quan hệ giữa Luật Luật sư và Bộ luật Tố tụng Hình sự.
 
Luật Sở hữu tài sản tư Trung Quốc gồm 247 điều, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/10/2007. Với quy định: “Quyền sở hữu tài sản của nhà nước, tập thể, cá nhân đều được pháp luật bảo hộ”, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, quyền sở hữu tài sản tư nhân được pháp điển hóa. Trong nền kinh tế thị trường, tất cả các cá nhân đều có vị thế bình đẳng, được hưởng quyền như nhau, phải tuân thủ cùng một nguyên tắc và phải bảo đảm thực hiện những nghĩa vụ như nhau. Việc bảo vệ quyền sở hữu cá nhân - lợi ích thiết thân của mỗi người dân  là vô cùng cần thiết, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi tiến trình cải cách kinh tế Trung Quốc ngày càng đi vào chiều sâu.
 
2.3.2. Đồng tiền tốt
 
Xếp hạng thành phần sự ổn định của đồng tiền thực của Trung Quốc có xu hướng tăng trong cả giai đoạn nghiên cứu, từ 7,89 (năm 2010) lên 8,44 (năm 2020). Điều này có thể được lí giải bằng việc Trung Quốc đã thực hiện kịp thời và có hiệu quả chính sách tiền tệ và các công cụ chính sách tiền tệ, cộng với chính sách chống lạm phát và quản lí tỉ giá đồng Nhân dân tệ cũng được triển khai thành công tại quốc gia này.
 
Từ tháng 12/1993, Chính phủ Trung Quốc đã thiết lập mục tiêu của chính sách tiền tệ là duy trì sự ổn định của đồng tiền và thông qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.  Năm 2010, Trung Quốc tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng ở mức độ phù hợp. Chính sách tiền tệ sẽ thực hiện theo hướng có sự phối hợp, hỗ trợ tích cực của chính sách tài chính, chính sách ngành nghề và chính sách phân phối thu nhập, đồng thời thúc đẩy phát triển thị trường vốn và tối ưu hóa cơ cấu nguồn cung. (Hình 6)
Trong năm 2015, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) điều hành chính sách tiền tệ theo phương thức linh hoạt hơn, để hỗ trợ tăng trưởng đạt được theo mục tiêu đề ra, ngăn chặn những rủi ro mà nền kinh tế phải đối mặt trong bối cảnh suy giảm trên toàn cầu. Năm 2020, khi PBoC xóa bỏ nội dung về kiểm soát cung tiền đã giúp kích thích chi tiêu mạnh trong nền kinh tế và tạo tiền đề cho một bước tiến trong việc nới lỏng tiền tệ. Tuy nhiên, PBoC vẫn rất thận trọng đối với triển vọng lạm phát.
 
Hình 6: Xếp hạng thành phần sự ổn định của đồng tiền thực của Trung Quốc

 Nguồn: Viện Fraser

2.3.3. Tự do thương mại quốc tế
 
Điểm chỉ số tự do thương mại quốc tế và các chỉ số thành phần của Trung Quốc nhìn chung có xu hướng gia tăng đều qua các năm, cho thấy quốc gia này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế quốc tế. (Bảng 1) 
 
Bảng 1: Xếp hạng tự do thương mại quốc tế của Trung Quốc 
và các chỉ số thành phần giai đoạn 2010 - 2020

Nguồn: Viện Fraser
 
Các rào cản thuế quan và phi thuế của Trung Quốc đã giảm đáng kể trong giai đoạn xem xét đến từ việc tham gia các FTA và các khối liên kết kinh tế. Kể từ khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/12/2001, Trung Quốc đã giảm dần các rào cản hành chính đối với thương mại và tự do hóa hệ thống thương mại nước ngoài của mình.
 
Tính đến quý I/2023, Trung Quốc đã kí kết và thực hiện 21 FTA, 10 FTA đang đàm phán và 8 FTA đang được xem xét. Trung Quốc có các FTA có hiệu lực với các quốc gia và khối kinh tế như ASEAN, New Zealand, Singapore, Thụy Sĩ, Hàn Quốc và Australia... Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang đàm phán các FTA với các quốc gia và tổ chức bao gồm các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC), Na Uy, Sri Lanka, Israel, Panama và các quốc gia khác. Các cuộc đàm phán về Hiệp định RCEP giữa 15 quốc gia, bao gồm các quốc gia ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand đã kết thúc và Hiệp định có hiệu lực vào ngày 01/01/2022.
 
3. Bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy tự do kinh tế ở Việt Nam
 
Theo chỉ số EFW được công bố bởi Viện Fraser năm 2019, điểm số tự do kinh tế của Việt Nam là 6,26/10, xếp thứ 126 trên thế giới và thuộc nhóm các quốc gia có điểm số thấp nhất. (Hình 7)

Hình 7: Điểm số EFW của Việt Nam giai đoạn 2009 - 2019

Nguồn: Viện Fraser

Kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng trong thời gian qua, tuy vậy, độ tự do của nền kinh tế lại chưa được cải thiện nhiều. Không chỉ nằm ở nhóm cuối trên thế giới, điểm số tự do kinh tế Việt Nam chỉ hơn Myanmar trong khu vực các nước ASEAN, kém Trung Quốc 10 bậc trên bảng xếp hạng (EFW 2019, Viện Fraser). Việt Nam đang làm tốt nhất ở quy định điều tiết về lao động, tín dụng và kinh doanh, nhưng mức chênh lệch là không nhiều so với các nhóm chỉ tiêu còn lại. Hệ thống luật pháp và các quyền sở hữu cần được cải thiện nhất mới chỉ 4,98 điểm. 
 
Dựa trên phân tích chỉ số tự do kinh tế tại Trung Quốc, Singapore và Thái Lan, nghiên cứu chỉ ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau: 
 
Thứ nhất, giải quyết triệt để vấn đề tham nhũng
 
Tham nhũng là vấn nạn, là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới và phát triển của đất nước. Vì vậy, phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đất nước. Ngày 20/11/2018, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14. So với các Luật sửa đổi, bổ sung trước đây, Luật Phòng, chống tham nhũng đã mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả những cá nhân, tổ chức trong khu vực ngoài nhà nước, phù hợp với yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên, nhằm phát hiện và xử lí tham nhũng hiệu quả hơn.
 
Bên cạnh đó, việc khuyến khích và bảo vệ người dân tham gia chống tham nhũng sẽ hỗ trợ hữu hiệu chính quyền, cùng với việc bảo vệ các tổ chức xã hội để giám sát và hạn chế sự thao túng quyền lực của các quan chức tham nhũng. 
 
Thứ hai, xây dựng cơ chế luật lệ rộng mở, thông thoáng, minh bạch
 
- Về kinh doanh: Môi trường kinh doanh cần được cải thiện hơn nữa trong các khâu như đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành và tăng cường công khai, minh bạch trong quản lí. Chính phủ cần tiếp tục có các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong tháo gỡ khó khăn để tạo cơ hội cho mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ Thái Lan và Singapore về xây dựng bộ máy hành chính hiệu quả nhờ công nghệ cao, thủ tục thuế đơn giản và chính sách quản lí thị trường chặt chẽ.
 
- Về sở hữu trí tuệ: Các quốc gia ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ và xây dựng bộ luật để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Điều này tạo ra điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế và thương mại giữa các chủ thể kinh tế khác nhau trong một quốc gia và hội nhập quốc tế. Thái Lan và Philippines đã tập trung xây dựng và cải thiện Luật Sở hữu trí tuệ để tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của họ. 
 
Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam còn một số bất cập và hạn chế, bao gồm chuyển nhượng quyền sở hữu, thương mại hóa sản phẩm sáng chế, thủ tục đăng kí quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ cần được hoàn thiện để đảm bảo thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế và thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Các giải pháp cần được cụ thể hóa các quy định liên quan đến chủ thể nắm giữ quyền tài sản, phân định rõ lợi ích giữa tác giả và bên khai thác và ban hành cơ chế để bảo vệ quyền sở hữu hiệu quả.
 
Thứ ba, thuận lợi hóa môi trường đầu tư
 
Trong thập kỉ qua, nguồn vốn FDI đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách để thu hút nguồn vốn này, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong môi trường đầu tư. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, công nghệ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vì vậy, để thu hút thêm nguồn vốn FDI, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đặc biệt là trong các lĩnh vực có liên quan đến công nghệ, nâng cao hạ tầng và cơ sở sản xuất công nghiệp phụ trợ và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để tận dụng hết lợi thế của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
 
Thứ tư, tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển bền vững
 
Phát triển bền vững từ lâu đã được quan tâm để giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến thất nghiệp, giảm nghèo và phát triển kinh tế. Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình và kế hoạch hành động để đạt được 17 mục tiêu phát triển bền vững và 115 mục tiêu đặt ra cho Việt Nam đến năm 2030 trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường.
 
Bài học rút ra đối với chúng ta là không thể đánh đổi tăng trưởng nhanh với sự phát triển bền vững mà có thể dựa vào những kết quả của phát triển bền vững để cải thiện những tiêu chí của chỉ số kinh tế tự do. Trước hết, cần nâng cao nhận thức về phát triển bền vững cho doanh nghiệp và cộng đồng để họ có sự quan tâm đúng mực đến việc khai thác và sử dụng tài nguyên sao cho hợp lí. Khuôn khổ pháp lí về phát triển bền vững cũng cần được hoàn thiện, đặc biệt là những quy định về thuế môi trường. Chủ trương về phát triển bền vững cần được xây dựng theo từng giai đoạn cụ thể. Ở giai đoạn tiếp theo, phát triển bền vững cần dựa trên sự thúc đẩy mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
 
4. Kết luận
 
Nghiên cứu phân tích kinh nghiệm thúc đẩy tự do kinh tế trong bối cảnh phát triển KTTT tại một số quốc gia, bao gồm: Trung Quốc, Singapore và Thái Lan. Từ đó, đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - nền KTTT định hướng XHCN. Mức độ tự do kinh tế được đánh giá dựa trên bộ chỉ số EFW của Viện Fraser. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, Việt Nam cần cải thiện các vấn đề liên quan đến tham nhũng; luật pháp về kinh doanh, sở hữu trí tuệ, tạo môi trường đầu tư/kinh doanh thuận lợi. Ngoài ra, cần xác định rõ các mục tiêu tăng trưởng kinh tế phải được gắn liền với phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo:
 
1. Arslan-Ayaydin, Ö., Chen, S., Ni, S. X., & Thewissen, J. (2022), “Is cross-listing a panacea for improving earnings quality? The case of H- and B-share firms in China”, International Review of Financial Analysis, 81, pages 102 - 113. 
2. Ayyagari, M., & Doidge, C. (2010), “Does cross-listing facilitate changes in corporate ownership and control?”, Journal of Banking & Finance, 34(1), pages 208 - 223. 
3. Baker & McKenzie (2022), “A global guide to stock exchanges and raising capital around the world”, 9th edition. Cross-Border Listing Handbook.
4. Coffee, J. C. (2002). “Racing towards the Top? The Impact of Cross-Listings and Stock Market Competition on International Corporate Governance”, Columbia Law Review, 102(7), pages 17 - 57.
5. Doidge, C., Karolyi, G. A., Lins, K. V., Miller, D. P., & Stulz, R. M. (2009), “Private Benefits of Control, Ownership, and the Cross-listing Decision”, The Journal of Finance, 64(1), pages 425 - 466. 
6. Dương Ngân Hà (2019), “Đánh giá tác động của các nhân tố tới khả năng niêm yết chéo trên Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore của doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, số 207, trang 60 - 70.
7. Duh, R. R., Hsu, A. W., & Alves, P. A. P. (2012). “The impact of IAS 39 on the risk-relevance of earnings volatility: Evidence from foreign banks cross-listed in the USA”, Journal of Contemporary Accounting and Economics, 8(1), pages 23-38. 
8. Garel, A., Martín-Flores, J. M., & Petit-Romec, A. (2020),  “Stock market listing and the persistence of bank performance across crises”, Journal of Banking and Finance, page 118. 
9. Hail, L., & Leuz, C. (2006). “International Differences in the Cost of Equity Capital: Do Legal Institutions and Securities Regulation Matter?” Journal of Accounting Research, 44(3), pages 485 - 531. 
10. Karolyi, G. A. (2012). “Corporate governance, agency problems and international cross-listings: A defense of the bonding hypothesis”, Emerging Markets Review, 13(4), pages 516 - 547. 
11. Lang, M. H., Lins, K. v., & Miller, D. P. (2003). “ADRs, Analysts, and Accuracy: Does Cross Listing in the United States Improve a Firm’s Information Environment and Increase Market Value?” Journal of Accounting Research, 41(2), pages 317 - 345.
12. Lê Thị Hương Lan (2017), “Nhân tố ảnh hưởng tới việc niêm yết của doanh nghiệp Việt Nam trên TTCK của các nước thành viên ASEAN: Nghiên cứu điển hình tại thị trường Singapore”, Tạp chí Ngân hàng, số 5, trang 31 - 36.
13. Li, H., & Shi, Y. (2021), “A new unique information share measure with applications on cross-listed Chinese banks”, Journal of Banking and Finance, page 128.
14. Merton, R. C. (1987), “A Simple Model of Capital Market Equilibrium with Incomplete Information”, The Journal of Finance, 42(3), pages 483 - 510. 
15. Nguyễn Thị Tám và Lê Thị Lanh (2010), “Lựa chọn thị trường niêm yết chứng khoán ra nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí phát triển kinh tế, số 238, pages 42 - 47.
16. Saudagaran, S. M., & Biddle, G. C. (1995), “Foreign Listing Location: A Study of MNCs and Stock Exchanges in Eight Countries”, Journal of International Business Studies, 26(2), pages 319 - 341. 
17. Stulz, R. M. (2022). “Globalization, Corporate Finance, and the Cost of Capital”, Journal of Applied Corporate Finance, 34(1), pages 8 - 23. 

Nguyễn Đình Việt (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội)
Nguyễn Hà My, Nguyễn Thị Thùy Dương (Trường Đại học Ngoại thương)
 
 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
12/04/2024 725 lượt xem
Phát triển bền vững đang là mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai, theo đó tăng trưởng xanh với sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường chính là tiền đề để thực hiện mục tiêu này.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
10/04/2024 732 lượt xem
Bài viết đề xuất một số khuyến nghị về xây dựng, thực thi chính sách tín dụng liên kết bền vững để góp phần đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam...
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
05/04/2024 1.040 lượt xem
Nghiên cứu trình bày về tầm quan trọng của ESG (Environmental - môi trường, Social - xã hội, Governance - quản trị) trong quá trình phát triển bền vững của ngân hàng, thực tiễn triển khai các hoạt động về ESG, các kết quả đạt được và thách thức, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy triển khai ESG trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
03/04/2024 958 lượt xem
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu tác động của tính minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility - CSR) đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng.
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
02/04/2024 930 lượt xem
Bài viết dựa trên cơ sở tổng quan về giám sát tài chính, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để rút ra một số bài học và khuyến nghị đối với công tác giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước tại Việt Nam hiện nay.
Kinh nghiệm thực thi chính sách tài chính khí hậu trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm thực thi chính sách tài chính khí hậu trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam
01/04/2024 937 lượt xem
Một trong những vấn đề khó khăn nhất hiện nay đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đó là việc thiếu nguồn lực tài chính để ứng phó với biến đổi khí hậu, hay còn gọi là tài chính khí hậu...
Xây dựng Sổ tay kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Xây dựng Sổ tay kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
28/03/2024 1.032 lượt xem
Để nâng cao tính chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm toán nội bộ NHNN phù hợp thông lệ quốc tế và các quy định về kiểm toán nội bộ của Việt Nam, một trong những yêu cầu hiện nay là nghiên cứu, rà soát, ban hành Sổ tay Kiểm toán nội bộ NHNN nhằm tập hợp, hệ thống hóa các quy định chung về kiểm toán nội bộ của NHNN.
Nâng cao chất lượng Chatbot chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nâng cao chất lượng Chatbot chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
25/03/2024 1.425 lượt xem
Trong kỉ nguyên số, Chatbot đóng vai trò vô cùng quan trọng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.
Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước
Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước
22/03/2024 2.130 lượt xem
Trong thị trường kinh tế, giao dịch phái sinh là một dạng hợp đồng dựa trên giá trị các loại tài sản cơ sở khác nhau như hàng hóa, chỉ số, lãi suất hay cổ phiếu (giấy tờ có giá).
Văn hóa số và lộ trình xây dựng
Văn hóa số và lộ trình xây dựng
11/03/2024 2.472 lượt xem
Hiện nay, quyết liệt chuyển đổi số, tạo dựng hệ sinh thái ngân hàng mở, tạo ra nền tảng phát triển bán lẻ, tăng doanh thu dịch vụ, gia tăng trải nghiệm của khách hàng là xu hướng chủ đạo của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam.
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
07/03/2024 3.308 lượt xem
Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ quốc gia có thu nhập thấp sang quốc gia có thu nhập trung bình. Song, những khó khăn nội tại và thách thức bên ngoài của nền kinh tế làm cho nguy cơ Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình là có thể.
Động lực và kì vọng mới cho tương lai
Động lực và kì vọng mới cho tương lai
07/03/2024 2.343 lượt xem
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và phu nhân Lê Thị Bích Trân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã bắt đầu chuyến công tác tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Australia; thăm chính thức Australia và New Zealand từ ngày 05 - 11/3/2024 theo lời mời của Thủ tướng Australia Anthony Albanese và Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon.
Vai trò, tầm quan trọng của ESG trong phát triển bền vững tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò, tầm quan trọng của ESG trong phát triển bền vững tại ngân hàng thương mại Việt Nam
05/03/2024 4.158 lượt xem
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp đang dần chú trọng hơn đến sự phát triển bền vững như một hướng đi quan trọng trong hoạt động kinh doanh.
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 2.847 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 3.413 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

81.800

83.800

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

81.800

83.800

Vàng SJC 5c

81.800

83.820

Vàng nhẫn 9999

74.800

76.700

Vàng nữ trang 9999

74.700

76.000


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,100 25,440 26,252 27,714 30,724 32,055 157.77 167.11
BIDV 25,130 25,440 26,393 27,618 30,763 32,067 158.12 166.59
VietinBank 25,090 25,443 26,504 27,799 31,154 32,164 160.64 168.59
Agribank 25,100 25,440 26,325 27,607 30,757 31,897 159.58 167.50
Eximbank 25,040 25,440 26,425 27,239 30,914 31,866 160.82 165.77
ACB 25,110 25,442 26,596 27,279 31,230 31,905 161.07 166.37
Sacombank 25,170 25,420 26,701 27,261 31,332 31,835 162.03 167.05
Techcombank 25,192 25,442 26,362 27,707 30,760 32,094 157.36 169.78
LPBank 24,960 25,440 26,088 27,611 30,970 31,913 158.36 169.76
DongA Bank 25,170 25,440 26,570 27,260 31,080 31,940 159.20 166.40
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,30
2,40
2,60
3,50
3,70
4,50
4,50
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,20
2,20
2,30
3,40
3,45
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,30
3,80
3,80
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?