Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.586 lượt xem
1. Triển vọng và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam trong năm 2024
 
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023. Tháng 12/2023 cũng đánh dấu là tháng thứ tư liên tiếp Việt Nam chứng kiến xuất khẩu tăng trưởng so với cùng kì năm 2022. Đặc biệt, các lĩnh vực mới có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu như nông sản cũng tiếp tục cho thấy sự cải thiện đáng kể về những tháng cuối năm 2023. Ngoài sản xuất, nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng tiếp tục là trụ cột vững chắc cho tăng trưởng. 
 
Mặc dù vậy, sự phục hồi là không đồng đều khi các mặt hàng xuất khẩu như dệt may và da giày vẫn chưa cho thấy dấu hiệu hồi phục. Về thương mại, có thể phải mất một thời gian mới thấy được sự phục hồi trên diện rộng. Mặt khác, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng kí vẫn rất tích cực, phản ánh sức hấp dẫn ngày càng tăng của Việt Nam với tư cách là một trung tâm sản xuất đang lên. Trong khi đó, năm 2024, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng GDP 6,0 - 6,5%, phản ánh kì vọng về sự cải thiện hoạt động kinh tế trong năm 2024.
 

 
Về lạm phát, nhìn chung chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vẫn đang được kiểm soát tốt. Bất chấp một số rủi ro tăng giá từ lương thực và năng lượng, áp lực giá cả cơ bản vẫn đang thấp hơn nhiều so với mục tiêu bình quân 4,5% mà Quốc hội đề ra. 
 
Về lãi suất, bên cạnh việc duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với việc duy trì thanh khoản VND dồi dào, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cũng đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Cùng hệ thống các chỉ đạo và giải pháp đồng bộ của NHNN, đến ngày 31/12/2023, tăng trưởng tín dụng đạt 13,71% so với cuối năm 2022. Với triển vọng toàn cầu ổn định và lạm phát ở mức vừa phải, nhóm nghiên cứu Ngân hàng HSBC kì vọng NHNN sẽ tiếp tục giữ nguyên mặt bằng lãi suất điều hành trong thời gian sắp tới. 
 
Về tỉ giá, theo nhóm nghiên cứu Ngân hàng HSBC, tỉ giá USD/VND sẽ duy trì áp lực tăng trong nửa đầu năm 2024 vì bốn lí do chính. Thứ nhất, sự khác biệt về chính sách tiền tệ giữa Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và NHNN có thể sẽ vẫn còn lớn. Thứ hai, thanh khoản VND trên thị trường liên ngân hàng có thể sẽ tiếp tục duy trì dồi dào và giải ngân đầu tư công chưa được như kế hoạch. Thứ ba, trong khi thặng dư thương mại và FDI của Việt Nam có thể duy trì ở mức cao, những biến động trên thị trường quốc tế có thể tiếp tục gây tác động tiêu cực tới thương mại. Cuối cùng, đồng USD nói chung được dự báo sẽ vẫn tiếp tục duy trì mạnh lên trong nửa đầu năm 2024, bên cạnh sự suy yếu của đồng Nhân dân tệ (CNY), từ đó cũng tác động trực tiếp lên biến động của tỉ giá USD/VND. 
 
2. FDI và thuế tối thiểu toàn cầu
 
FDI tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời điểm hiện tại cũng như tương lai. Mặc dù vậy, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tương đối gập ghềnh từ năm 2019. Covid-19 khiến tổng lượng vốn FDI giảm 25% và chững lại cho tới khi mở cửa vào năm 2022. Tới năm 2023, FDI tăng trở lại 15% so với năm 2022 và chính các khoản đầu tư theo chiến lược Trung Quốc + 1, lợi thế chi phí cạnh tranh, hỗ trợ tích cực từ Chính phủ, tầng lớp trung lưu gia tăng cùng sự phát triển đầy hấp dẫn của thị trường tiêu dùng nội địa, các thỏa thuận thương mại tự do ngày càng mở rộng và mức tăng trưởng đầy hứa hẹn của lĩnh vực năng lượng tái tạo, điện, logistics, y tế, ngành hàng tiêu dùng, cơ sở hạ tầng… tiếp tục phản ánh sức mạnh, sự bền bỉ và hấp dẫn khi đầu tư vào Việt Nam.
 
Thuế tối thiểu toàn cầu (Global Minimum Tax - GMT) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organisation for Economic Co-operation and Development - OECD) khởi xướng có hiệu lực từ ngày 01/01/2024 buộc các công ty đa quốc gia phải xem xét và có những cân nhắc tính toán khi tìm kiếm thị trường có lợi nhất để đầu tư. Do đó, điều quan trọng là thiết lập một cơ chế hai chiều: Vừa tạo ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời, vẫn đảm bảo những lợi ích về trung và dài hạn cho Việt Nam trong vai trò là thị trường tiếp nhận đầu tư. Một mặt, ưu đãi cần mang lại lợi ích thiết thực mới giúp Việt Nam cạnh tranh với các nước láng giềng. Mặt khác, phải xem xét trọng tâm theo hướng lâu dài. Chẳng hạn, tiếp nhận chuyển giao công nghệ là mảng mà Việt Nam còn tương đối yếu bất chấp dòng vốn FDI ồ ạt trong nhiều năm qua. Hợp tác hiệu quả và có chiến lược với các công ty đa quốc gia, đồng thời, xây dựng lộ trình khai thác lợi ích từ FDI là một vấn đề hết sức quan trọng, giúp Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng nhanh và mạnh mẽ. Đồng thời, trong khi FDI đóng góp vào hơn 70% xuất khẩu của Việt Nam, số lượng nhà cung ứng để hỗ trợ lại không theo kịp. Phần lớn các công ty đa quốc gia phải dựa vào nhà cung ứng nước ngoài và đây là điểm Việt Nam có thể dồn sức để phát triển các nhà cung ứng trong nước khi vốn đầu tư nước ngoài đổ vào.
 
Việt Nam hiện đang là một thị trường cận biên, với tham vọng thu hút thêm FDI có giá trị gia tăng cao, chẳng hạn như chuỗi giá trị chất bán dẫn, phương tiện chạy điện (EV), pin, tấm pin năng lượng mặt trời… Để làm được điều đó, Việt Nam cần có thêm những ưu đãi hấp dẫn. Nếu ví ưu đãi này như một củ cà-rốt thì củ cà-rốt đó phải đủ hấp dẫn để thu hút nhà đầu tư đổ tiền vào, đồng thời, cũng phải đủ minh bạch để đảm bảo món ăn "ngon miệng" nhằm giữ chân họ ở lại. Môi trường pháp lí đóng một vai trò bổ trợ đối với tác động của GMT. Về cơ bản, đối với nhiều công ty đa quốc gia, thủ tục pháp lí vẫn là một trong những nút thắt khó gỡ nhất từ giai đoạn đầu tư ban đầu đến khi hoạt động tại thị trường Việt Nam. Thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp vẫn tốn nhiều thời gian, cộng với sự thiếu đồng bộ về chính sách giữa các tỉnh, thành; bên cạnh đó, một số quy định về thanh toán nước ngoài còn khá chặt chẽ, nhiều yêu cầu về thủ tục, giấy tờ… Đó là những rào cản đối với thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
 
Đối với Việt Nam, rõ ràng FDI là một nguồn lực cho tăng trưởng. Động lực này sẽ luôn vững vàng và có ý nghĩa nhất định đối với sự tăng trưởng lành mạnh của Việt Nam. Với định hướng rõ ràng như vậy, việc Việt Nam cần làm là tận dụng và học hỏi từ các công ty đa quốc gia để thực hiện chuyển giao công nghệ, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho sự phát triển của các nhà cung cấp trong nước và sớm tháo gỡ những khó khăn về pháp lí, mở đường cho sự tăng trưởng và hiện đại hóa của Việt Nam - một ngôi sao đang lên của ASEAN.
 
3. An toàn cho hệ thống ngân hàng
 
Về cơ bản, Việt Nam đang áp dụng, triển khai nhiều giải pháp tích cực nhằm đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Chẳng hạn như tập trung hoàn thiện các quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân. Với sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện số và sự xuất hiện của nhiều nền tảng mạng xã hội, việc bảo vệ dữ liệu khách hàng ngày càng trở nên đặc biệt khó khăn. Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân được thông qua đã truyền đi một thông điệp rõ ràng đến tất cả người dân rằng các cơ quan chức năng thể hiện sự quyết liệt trong vấn đề này. Đây chính là yếu tố mà nhiều thị trường khác còn thiếu dẫn đến thông tin cá nhân bị các tổ chức khai thác.
 
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng triển khai nhiều sáng kiến kích cầu. Mua được nhà là một trong những mong muốn lớn nhất của người lao động trong một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nơi mà phân khúc thuộc nhóm trung lưu ngày càng đông lên. Những chính sách mới được ban hành của cơ quan quản lí giúp gia tăng khả năng vay thế chấp, đặc biệt đối với người dân bình thường, là rất đáng hoan nghênh. Tương tự, những quy định gần đây của NHNN như Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Thống đốc NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn và Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là những động thái tích cực nhằm giảm nhẹ gánh nặng đối với khách hàng trong bối cảnh kinh tế vĩ mô toàn cầu rất khó khăn hiện nay. Quy định mới về cho vay bằng phương tiện điện tử (Thông tư số 06/2023/TT-NHNN), đồng thời, giúp đáp ứng nhu cầu của thế hệ am hiểu công nghệ mới cho thấy quan điểm cầu thị và hướng đến tương lai của các cơ quan quản lí.  
 
Đối với doanh nghiệp, những văn bản pháp luật có tính hỗ trợ cao như Nghị định số 65/2022/NĐ-CP ngày 16/9/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế; Thông tư số 02/2023/TT-NHNN đã hỗ trợ doanh nghiệp quản lí dòng tiền tốt hơn. Những cập nhật đáng chú ý trong Thông tư số 06/2023/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN cùng với hướng dẫn đánh giá rủi ro về môi trường trong Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Thống đốc NHNN cũng sẽ cải thiện mức độ rõ ràng trong hoạt động cấp tín dụng và hỗ trợ công bố thông tin quan trọng trong khuôn khổ môi trường pháp lí hiện tại.
 
Ngân hàng HSBC Việt Nam đánh giá cao sự giám sát chặt chẽ của Việt Nam đối với lạm phát và những điều chỉnh linh hoạt, chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tâm thế này giúp kiến tạo môi trường kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài yên tâm hoạt động. Tổ chức Fitch Ratings đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ mức BB lên mức BB+, với triển vọng “ổn định” chính là minh chứng cho thấy các tổ chức bên ngoài nhìn nhận thế nào về nỗ lực của NHNN cũng như các cơ quan hữu quan khác của Việt Nam.  
 
Về nghiên cứu và thông tin thị trường, Ngân hàng HSBC ghi nhận kết quả ấn tượng của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (Credit Information Center - CIC) trong việc cung cấp cho các ngân hàng nguồn thông tin chính thống dồi dào. Bản thân Ngân hàng HSBC đã tận dụng được rất nhiều thông tin này trong quá trình đánh giá tín dụng và đó là một trong những lí do chính giúp quản lí rủi ro hiệu quả. Chia sẻ kinh nghiệm từ những thị trường khác nơi Ngân hàng HSBC hoạt động, cơ quan giống như CIC không chỉ đóng vai trò là đầu mối thu thập và phân phối hồ sơ tín dụng khách hàng mà còn đưa ra hướng dẫn cho thị trường. Các cơ quan này làm được điều đó thông qua chia sẻ thông tin chuyên sâu quan trọng cho các tổ chức tín dụng về một số xu hướng như tỉ lệ nợ xấu theo lĩnh vực kinh tế, khu vực địa lí, hồ sơ khách hàng… Việc chia sẻ này giúp các tổ chức tín dụng ở những thị trường này có thể nắm bắt sớm các xu hướng và có biện pháp đón đầu nhằm kiểm soát các phân khúc rủi ro cao nếu có. Thêm nữa, nó cũng giúp các cơ quan quản lí xác định được tổ chức tín dụng nào đang đi theo xu hướng chung của thị trường còn tổ chức tín dụng nào thì nằm ngoài xu hướng.
 
4. Một số đề xuất, kiến nghị
 
Một là, nên đồng bộ tiêu chuẩn kế toán với thế giới. NHNN nên xem xét khả năng áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế 9 - Công cụ tài chính (International Financial Reporting Standard - Financial Instruments, gọi tắt là IFRS9) của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế nhằm thống nhất cách phân loại tài sản và dự phòng. IFRS9 đang được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu và tạo ra cách tiếp cận thống nhất về kế toán tài chính đối với những ngân hàng quốc tế như HSBC. Việc áp dụng này không chỉ giúp các ngân hàng quốc tế hoạt động xuyên suốt ở Việt Nam mà còn hỗ trợ các ngân hàng trong nước mở rộng sang những thị trường khác, từ đó, ghi dấu ấn thương hiệu Việt Nam trên bản đồ thế giới. Trên cơ sở thực thi, IFRS9 mang lại những lợi thế về phương pháp dự phòng hiệu quả hơn cần thiết cho nền kinh tế Việt Nam nếu muốn hội nhập sâu hơn vào mạng lưới tài chính toàn cầu. Chẳng hạn, kinh nghiệm từ biến động kinh tế do đại dịch Covid-19 càng cho thấy dự phòng theo IFRS9 gia tăng nhanh chóng hơn so với dự phòng theo tiêu chuẩn trong nước do cân nhắc những tổn thất tiềm tàng trong tương lai, bởi vì, IFRS9 hoạt động trên cơ sở những tổn thất trước khi xuất hàng (nghĩa là khách hàng hiện tại cũng được yêu cầu phải duy trì dự phòng), như vậy, sẽ tạo bộ đệm đặc biệt nếu có ngân hàng nào có mức tăng trưởng “nóng”.
 
Hai là, NHNN cần xem xét sửa đổi một số quy định quản lí nhà nước trong hoạt động ngân hàng cho rõ ràng hơn. Hiện tại, NHNN đang có những đánh giá toàn diện và định kì nhằm cập nhật các quy định và theo sát các chuẩn mực/xu hướng mới nhất. Tuy nhiên, với những thay đổi mới, trong một vài trường hợp vẫn có những điều khoản có thể được hiểu theo những cách khác nhau đối với từng tổ chức tín dụng dẫn đến sự không đồng nhất trong hệ thống ngân hàng. Cách làm hữu hiệu là áp dụng một khung pháp lí linh hoạt, trong đó, NHNN và các tổ chức tín dụng có thể chia sẻ cởi mở ý kiến, từ đó, những khó khăn trong triển khai có thể được đề xuất ngay lên NHNN. Như vậy, bằng cách làm đó sẽ tạo ra sự đồng thuận giữa các ngân hàng thương mại, dưới sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của NHNN. Một ví dụ có thể nêu ra ở đây là các hướng dẫn về cho vay để trả nợ, theo đó, mỗi ngân hàng có quy định riêng về cung cấp chứng nhận tất toán/cơ cấu lại nợ cho khách hàng.
 
Ba là, Việt Nam có thể ban hành thêm các quy định tiêu chuẩn nhằm đo lường các rủi ro chuyển đổi và rủi ro vật chất, để gia tăng trách nhiệm của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp đang hoạt động trong những ngành khó chuyển dịch và ở những khu vực phải đối mặt với rủi ro vật chất cao. Nhóm tác giả đề xuất có thể dùng hướng dẫn được chấp nhận trên toàn cầu như hướng dẫn của Lực lượng đặc nhiệm về công bố thông tin tài chính liên quan đến khí hậu (Task Force on Climate-related Financial Disclosures - TCFD) nhằm thúc đẩy công bố thông tin của doanh nghiệp, từ đó, tạo điều kiện đối thoại cùng các ngân hàng để hỗ trợ hành trình chuyển dịch của họ.
 
Bốn là, quy trình tố tụng còn nhiều khó khăn do thời gian xử lí kéo dài, trung bình là 3 - 5 năm (thậm chí lâu hơn đối với dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp) và một số yêu cầu pháp lí lại được xử lí theo cách khác nhau ở mỗi địa phương, chẳng hạn như quy định xử lí vi phạm nghĩa vụ bàn giao tài sản bảo đảm, quy định về tịch biên tài sản bảo đảm và quy định về xử lí tài sản bảo đảm trong một dự án bất động sản. Vì vậy, NHNN cần xem xét, rà soát và sửa đổi những quy định này nhằm hỗ trợ các ngân hàng và tổ chức tín dụng cải thiện quy định xử lí nợ xấu và cải thiện chất lượng nợ xấu nói chung trong ngành Ngân hàng.
 
Ngô Đăng Khoa (Giám đốc Khối ngoại hối, thị trường vốn và Dịch vụ chứng khoán, Ngân hàng HSBC Việt Nam) 
Joon Suk Park (Giám đốc Khối kinh doanh quốc tế, Ngân hàng HSBC Việt Nam)
Yong Han (Giám đốc Quản lí rủi ro, Ngân hàng HSBC Việt Nam)

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 1.638 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.796 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 1.615 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 2.768 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.909 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.676 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 3.212 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 2.212 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 2.576 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 8.176 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.862 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.654 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 2.274 lượt xem
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 2.147 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương sau khủng hoảng
Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương sau khủng hoảng
27/12/2023 3.455 lượt xem
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007 - 2009, đặc biệt là sự sụp đổ của tập đoàn ngân hàng Lehman Brothers đã gây chao đảo hệ thống tài chính Mỹ và châu Âu, sau đó gây tác động lan truyền đến nhiều nước khác và đẩy thế giới vào thời kì suy thoái trầm trọng kéo dài.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?