Vận đơn đường biển điện tử - điều kiện áp dụng tại Việt Nam
08/12/2022 1.779 lượt xem
Tóm tắt: Đại dịch Covid-19 xảy ra gây tác động không nhỏ đến mọi mặt của nền kinh tế thế giới, đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu, Logistics bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Để ngăn chặn dịch bệnh lây lan, nhiều quốc gia đưa ra chính sách giãn cách xã hội kéo dài, dẫn đến việc chuyển giao vận đơn đường biển trở nên khó khăn, tốn kém, mất nhiều thời gian. Vận đơn đường biển bị thất lạc, đến chậm, không xuất trình đúng hạn dẫn đến hàng hóa bị ách tắc tại cảng và các hệ lụy cho các chủ thể tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu. Để giải quyết vấn đề này, số hóa chứng từ trong đó có vận đơn đường biển là giải pháp hiện nay ngành Hàng hải thế giới hướng tới. Trong phạm vi bài viết sau đây, nhóm tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để đi sâu vào tìm hiểu và đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện áp dụng vận đơn đường biển điện tử  (Electronic Bill of Lading, viết tắt là e-B/L) tại Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy việc sử dụng e-B/L  tại Việt Nam 

Từ khóa: Vận đơn đường biển, điện tử, e-B/L.
 
ELECTRONIC BILL OF LADING - CONDITIONS TO APPLY IN VIETNAM
 
Abstract: The Covid-19 pandemic has significantly impacted all aspects of the world economy, especially import-export and logistics activities have been hit hardest. In order to prevent the spread of the disease, many countries have introduced prolonged social distancing policies which causes the delivery of bills of lading to be difficult, expensive and time-consuming. The fact that the bill of lading is lost, delayed, or not presented on time leads to congestion at the port and consequences for entities involved in import and export activities. In order to solve this problem, digitizing documents, including bill of lading, is the current solution for the world’s maritime industry. Within the scope of the following paper, the authors use synthesis and analysis methods to evaluate the ability to meet the conditions for applying electronic bill of lading in Vietnam. Based on the analysis, this paper proposes recommendations to promote the electronic bill of lading in Vietnam.
 
Keywords: Bill of lading, electronic, e-B/L.
 
1. Giới thiệu về e-B/L
 
1.1. Cơ sở ra đời e-B/L
 
e-B/L được ra đời nhằm thay thế cho vận đơn đường biển truyền thống (Bill of lading, viết tắt là B/L), B/L được sử dụng phổ biến trong vận tải biển với các chức năng hữu ích, đặc biệt là chức năng sở hữu hàng hóa, tuy nhiên trong thực tế khi sử dụng B/L phát sinh một số bất cập như:
 
Thứ nhất, tình trạng vận đơn đến chậm so với hàng hóa. Ngoại trừ sử dụng vận đơn xuất trình (Surrendered B/L) và giấy gửi hàng đường biển (Seaway Bill) thì các vận đơn còn lại bắt buộc phải được xuất trình bản gốc tới người chuyên chở để được nhận hàng, vì vậy nếu vận đơn đến chậm sẽ dẫn đến việc giải phóng hàng chậm trễ. Nếu muốn nhận hàng sớm sẽ cần sự can thiệp của các bên như ngân hàng để phát hành thư bảo lãnh nhận hàng.
 
Thứ hai, tình trạng thất lạc vận đơn trên đường chuyển giao tới các chủ thể. Vì vận đơn có chức năng sở hữu hàng hóa nên phải xuất trình bản gốc để nhận hàng, bộ vận đơn gốc chuyển giao từ người xuất khẩu, qua hệ thống ngân hàng đến người nhập khẩu, quá trình này có thể xảy ra việc mất trộm, thất lạc bộ vận đơn gốc. Việc bộ vận đơn gốc thất lạc sẽ dẫn đến khó khăn cho các bên liên quan trong việc nhận hàng, thanh toán và giải quyết các tranh chấp phát sinh.
 
Thứ ba, chi phí in ấn, vận chuyển vận đơn đắt đỏ, tốn kém, gây ô nhiễm môi trường. 
 
Để khắc phục các bất cập trên, ngành Hàng hải thế giới không ngừng tìm kiếm các giải pháp nhằm cải thiện việc xử lý chứng từ, mang lại sự tiện lợi và tiết kiệm. Một trong những giải pháp đó là ra đời e-B/L nhằm thay thế B/L. 
 
E-B/L hay còn có tên gọi là vận đơn kỹ thuật số, là thông điệp dữ liệu được tạo lập trên một hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) sử dụng các công nghệ hiện đại như công nghệ chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây (Cloud Computing). E-B/L là phiên bản điện tử sở hữu đầy đủ đặc điểm và chức năng của B/L. Điểm khác biệt cơ bản giữa e-B/L và B/L nằm ở việc e-B/L được chuyển giao hoàn toàn trên hệ thống dữ liệu điện tử mà không có bất cứ sự chuyển giao nào về mặt cơ học như B/L. Một lưu ý với e-B/L đó là ở bất kỳ thời điểm nào e-B/L cũng chỉ thuộc sở hữu bởi duy nhất một chủ thể trên hệ thống. 
 
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều hệ thống tạo lập e-B/L, trong đó có 07 hệ thống được sử dụng phổ biến nhất và đã được công nhận bởi tổ chức quốc tế cung cấp bảo hiểm Bảo vệ và Bồi thường (Protection and Indemnity) - Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu (International Group of P&I Clubs (IG P&I)). 07 hệ thống e-B/L bao gồm: Bolero, essDocs, Singapore-based eTitle, edoxOnline, CargoX, Wave và mới đây nhất là TradeLens - nền tảng kỹ thuật số hỗ trợ bởi công nghệ IBM Cloud và IBM Blockchain, được hợp tác phát triển bởi công ty vận chuyển Maersk đến từ Đan Mạch và hãng công nghệ khổng lồ IBM (Eleanor Wragg, 2021). Trong 07 hệ thống này, Bolero là hệ thống tạo lập vận đơn điện tử lâu đời và được sử dụng nhiều nhất ở thời điểm hiện tại. Chính vì vậy, bài viết này sẽ tập trung vào nghiên cứu hệ thống vận đơn điện tử Bolero và điều kiện để áp dụng vận đơn Bolero tại Việt Nam.
 
1.2. Vận đơn Bolero 
 
Vận đơn Bolero -  Bolero B/L (BBL) là một sản phẩm của dịch vụ Bolero eBL-as-a-Service do Công ty Trách nhiệm hữu hạn quốc tế Bolero cung cấp, là phiên bản điện tử của vận đơn truyền thống được tạo lập trên hệ thống Bolero.net. BBL ra đời dựa trên sự kết hợp của bản quy tắc pháp lý Bolero (Bolero Rulebook) và nền tảng công nghệ gồm các yếu tố: Siêu dữ liệu (meta data) bao gồm: Số hiệu vận đơn, trạng thái, đặc điểm loại hình vận đơn...; hệ thống đăng ký quyền sở hữu BBL (Bolero Title Registry) có chức năng “công chứng” kiểm soát việc trao đổi BBL giữa các bên và ai là người nắm giữ bản gốc tại bất kỳ thời điểm nào - một bản tài liệu bí mật được tải lên bởi người chuyên chở và một cấu trúc “thô” được lập trình để bảo mật việc chuyển giao chứng từ và dữ liệu. Toàn bộ dữ liệu sẽ được lưu trữ tại các hệ thống máy chủ AWS (Amazon Web Service) - một nền tảng điện toán đám mây toàn diện với một trong những chức năng chính là lưu trữ và xử lý thông tin. Khái niệm về BBL được nhóm tác giả tham khảo từ chia sẻ của trưởng phòng kinh doanh toàn cầu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn quốc tế Bolero, Jacco De Jong. 
 
BBL có đầy đủ đặc điểm và chức năng của một B/L là: Biên lai nhận hàng để chở của người chuyên chở, là bằng chứng của một hợp đồng vận chuyển, là chứng từ sở hữu hàng hóa và được sử dụng để giao nhận hàng hóa trong thương mại quốc tế. Bên cạnh đó BBL còn có các đặc điểm sau đây: (i) BBL được phát hành một bản gốc duy nhất trên hệ thống Bolero và không có vận đơn gốc nào được phát hành dưới dạng văn bản giấy kèm theo; (ii) BBL được xây dựng trên cơ sở hai thành phần cơ bản có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau là thỏa thuận pháp lý hoặc Quy tắc Bolero (Legal Agreement or Bolero Rulebook) và một ứng dụng hoặc giải pháp công nghệ thực hiện các chức năng của BBL đồng thời cung cấp các yêu cầu pháp lý theo yêu cầu của Quy tắc Bolero; (iii) Các chủ thể cần tham gia đăng ký tài khoản trên hệ thống điện tử Bolero để tham gia tạo lập và sử dụng BBL; (iv) Chủ thể ký phát vận đơn cần có chức năng của người chuyên chở (trong trường hợp người phát hành vận đơn không phải người chuyên chở, người chuyên chở sẽ tiến hành cung cấp mã ID đăng nhập (log in ID) và chứng chỉ người dùng (user certificate) cho đại lý của người chuyên chở ở cảng xếp hàng (load port agent) để họ tiến hành tạo BBL. BBL này vẫn sẽ thuộc sự kiểm soát trực tiếp từ người chuyên chở); (v) BBL là sự kết hợp của hồ sơ đăng ký tiêu đề (Title registry record) và tài liệu đính kèm có chứa dữ liệu e-B/L; (vi) Một BBL kể từ khi được tạo ra luôn có một người nắm giữ quyền sở hữu, tuy nhiên chỉ có một chủ sở hữu Bolero duy nhất tại một thời điểm; (vii) Người nắm giữ BBL luôn được ghi lại trên hệ thống đăng ký quyền sở hữu (Title Registry); (viii) Quyền sở hữu BBL trên hệ thống Bolero có giá trị tương đương với việc sở hữu B/L.
 
Điều kiện cơ bản để áp dụng vận đơn Bolero:
 
Thứ nhất, cơ sở pháp lý. Để có hành lang pháp lý cho e-B/L, các quốc gia cần xây dựng bộ luật điều chỉnh các vấn đề liên quan tới hoạt động kinh doanh ngành Hàng hải. Trong bộ luật cần quy định cụ thể B/L và e-B/L. Đặc biệt với e-B/L, bộ luật cần nêu rõ: Tính pháp lý của e-B/L, quy trình vận hành e-B/L trong thương mại quốc tế từ khâu ký phát tới chuyển nhượng và xuất trình để nhận hàng. Bên cạnh đó, bộ luật cũng cần thống nhất các nghĩa vụ và quyền lợi của các bên tham gia vận hành e-B/L như: Bên cung cấp giải pháp e-B/L (các công ty như Bolero International), chủ thể có đủ tư cách pháp lý phát hành e-B/L (người chuyên chở hoặc đại lý của người chuyên chở), các chủ thể sở hữu e-B/L (các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, ngân hàng...), các chủ thể tham gia tài trợ (các ngân hàng, tổ chức tín dụng) và cung cấp bảo hiểm (công ty bảo hiểm) cho hàng hóa được điều chỉnh bởi e-B/L. 
 
Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển không chỉ sử dụng một loại chứng từ vận tải mà còn kết hợp rất nhiều chứng từ quan trọng khác như hợp đồng thương mại quốc tế, chứng từ hàng hóa, tài chính, bảo hiểm... vì vậy, các quốc gia cần ban hành bộ luật giao dịch điện tử quy định rõ tính pháp lý và cơ chế vận hành các loại chứng từ điện tử trong phương thức vận tải bằng đường biển để các chủ thể tham gia thương mại quốc tế yên tâm sử dụng chứng từ điện tử nói chung và e-B/L nói riêng.
 
Để bảo đảm vấn đề an ninh quốc gia nói chung, quyền lợi và nghĩa vụ và nghĩa vụ của các chủ thể thương mại quốc tế nói riêng, chính phủ các nước cần chú trọng vào việc bảo mật hệ thống thông tin, tránh bị tấn công an ninh mạng dẫn tới việc thông tin quan trọng bị phát tán, thậm chí mất quyền kiểm soát dữ liệu điện tử. Cơ quan lập pháp cần ban hành luật an ninh mạng, quy định chi tiết cách thức quản lý thông tin, bảo vệ nghĩa vụ và quyền lợi của các bên khi sử dụng dữ liệu điện tử thay thế cho văn bản truyền thống.
 
Thứ hai, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Điều kiện này đặt ra yêu cầu đối với nền tảng công nghệ quốc gia và của các chủ thể trong nền kinh tế tham gia thương mại quốc tế. Trước tiên, Nhà nước cần đầu tư kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ phát triển nền kinh tế số. Cơ sở công nghệ thông tin, viễn thông đồng bộ và hiện đại giúp Nhà nước quản lý dữ liệu về các chủ thể tham gia nền kinh tế và giúp doanh nghiệp ở mọi miền tổ quốc có thể tiếp cận với mạng lưới viễn thông.
 
Về hạ tầng công nghệ thông tin đặt ra với các chủ thể tham gia thương mại quốc tế trong phương thức vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đó là, để tham gia sử dụng e-B/L, các doanh nghiệp cần trang bị cơ sở vật chất cơ bản như hệ thống máy tính, kết nối mạng Internet và các phần mềm có tính đồng bộ với phần mềm mà nhà cung cấp dịch vụ e-B/L sử dụng, việc này nhằm đảm bảo thông tin sẽ được truyền chính xác từ hệ thống nhà cung cấp e-B/L đến hệ thống quản lý thông tin sẵn có của doanh nghiệp. 
 
Thứ ba, nguồn lực của các doanh nghiệp. Điều kiện về nguồn lực bao gồm nguồn nhân lực và vật lực của doanh nghiệp. Nhân viên ở các công ty cần có nhận thức rõ ràng về vai trò thiết yếu của việc số hóa chứng từ vận tải điện tử, được đào tạo chuyên môn về quy trình sử dụng chứng từ vận tải điện tử. Văn hóa doanh nghiệp nên tập trung vào yếu tố con người chứ không chỉ tập trung vào hiện đại hóa quy trình bởi lẽ công nghệ được vận hành bởi con người và đầu tư vào yếu tố con người sẽ giúp các công ty có sự phát triển bền vững. 
 
Bên cạnh đó, nguồn lực về tài chính, chuyển đổi số là một hành trình mang tính lâu dài, không chỉ dừng lại ở việc số hóa vận đơn đường biển mà xu hướng trong tương lai chính là số hóa toàn bộ quy trình thủ tục vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, vì vậy doanh nghiệp cần trang bị đủ khả năng về vật lực để áp dụng các thay đổi hiện đại về công nghệ. 
 
Thứ tư, sự đồng thuận của các chủ thể trong việc sử dụng vận đơn đường biển điện tử. Có thể nói, đây là điều kiện quyết định rằng liệu e-B/L có thể được áp dụng ở phạm vi toàn cầu và được áp dụng với tốc độ như thế nào, bởi lẽ cần có sự chấp thuận sử dụng e-B/L và đồng ý tham gia hệ thống vận hành e-B/L giữa các chủ thể tham gia thương mại điện tử: Từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, công ty dịch vụ Logistics, ngân hàng, công ty bảo hiểm tới các cơ quan quản lý Nhà nước như cơ quan hải quan... thì e-B/L mới được sử dụng chính thức, rộng rãi và phát huy hết hiệu quả của nó.    
 
2. Thực trạng đáp ứng các điều kiện áp dụng e-B/L tại Việt Nam
 
2.1. Điều kiện về cơ sở pháp lý
 
Luật Hàng hải
 
Việt Nam đã xây dựng Bộ luật Hàng hải năm 2015 quy định đầy đủ và chi tiết các nội dung liên quan tới vận đơn đường biển như: Các loại B/L, ký phát B/L, nội dung B/L, chuyển nhượng B/L, ghi chú trong B/L, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên liên quan khi sử dụng B/L. Ưu điểm của Bộ luật này đó là có sự tham khảo và hài hòa với nội dung của các công ước quốc tế có quy định về B/L như quy tắc Hague-Visby, công ước Hamburg 1978.
 
Luật Giao dịch điện tử
 
Ngày 29/11/2005, Luật Giao dịch điện tử chính thức có hiệu lực, điều chỉnh cách thức giao dịch trên nền tảng điện tử giữa cơ quan Nhà nước và các chủ thể trong nền kinh tế. Các vấn đề về giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, thông điệp dữ liệu được thể hiện rõ ràng trong Bộ luật. Các điều khoản quy định trong Luật Giao dịch điện tử rất quan trọng là cơ sở đáp ứng điều kiện về sự công nhận tính hợp pháp của chữ ký điện tử và chứng từ điện tử ở Việt Nam, giúp các dữ liệu điện tử tạo lập từ hệ thống e-B/L được thừa nhận và đóng vai trò là cơ sở pháp lý để giải quyết khi xảy ra tranh chấp. 
 
Luật An ninh mạng
 
Bên cạnh Luật Giao dịch điện tử, Quốc hội cũng đã ban hành Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 12/6/2018. Các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, phòng ngừa và xử lý tội phạm an ninh mạng trong bộ luật này cung cấp sự bảo đảm về không gian pháp lý nơi diễn ra các giao dịch điện tử.
 
Luật Điều chỉnh e-B/L
 
Hiện nay, luật pháp Việt Nam vẫn chưa ban hành bộ luật chính thức nào điều chỉnh e-B/L, do đó về tính pháp lý, e-B/L vẫn chưa được công nhận hợp pháp tại Việt Nam dù Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đã chỉ rõ các thông điệp dữ liệu ở dạng điện tử có giá trị như văn bản gốc nếu nó đáp ứng các điều kiện theo luật định. 
 
Có thể nói điều kiện về pháp luật điều chỉnh e-B/L là điều kiện tiên quyết để áp dụng e-B/L nhưng khi luật quy định về e-B/L chưa được ban hành, tính pháp lý của e-B/L sẽ chưa được công nhận và các quan hệ phát sinh từ việc sử dụng e-B/L sẽ không được điều chỉnh, dẫn tới sự thiếu thống nhất về cách thức vận hành, đặc biệt quyền lợi và trách nhiệm của các bên sẽ khó được bảo đảm khi xảy ra tranh chấp. Sự thiếu hụt về hành lang pháp lý điều chỉnh e-B/L cũng khó đảm bảo rằng các ngân hàng sẽ tham gia tài trợ cho các giao dịch sử dụng e-B/L bởi ngân hàng là chủ thể luôn cẩn trọng khi kiểm tra tính hợp pháp của các giao dịch và thực hiện các giao dịch ở mức độ tuân thủ pháp luật tuyệt đối. Cho tới khi bộ luật điều chỉnh e-B/L được ban hành thì điều kiện về pháp luật vẫn sẽ là một rào cản lớn nhất khiến các chủ thể tham gia thương mại quốc tế e ngại trước quyết định lựa chọn e-B/L.
 
2.2. Điều kiện về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
 
Về chất lượng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 
 
Hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông quốc gia được phát triển mạnh, phủ sóng rộng khắp. Theo thống kê từ Cục Viễn thông, năm 2021, các công ty viễn thông đã tăng cường đầu tư phát triển hạ tầng băng rộng. Hệ thống mạng 5G được ứng dụng sơ bộ ở 16 tỉnh, thành phố; mạng 4G được sử dụng bởi gần 99,8% dân số; mạng cáp quang kết nối tới 100% xã, phường, giúp nâng cao tốc độ băng rộng cố định lên 68,50Mbps. Bên cạnh đó, về tốc độ băng rộng di động, Việt Nam chạm mức 35,14Mbps, đứng thứ 48/141 quốc gia, vùng lãnh thổ, tăng 9 bậc so với năm 2020. Từ đây giúp củng cố chất lượng và tốc độ truy cập mạng Internet cho các doanh nghiệp, giúp thông tin được truyền đi nhanh chóng, ổn định và an toàn.  
 
Về việc ứng dụng công nghệ vào vận hành của các chủ thể trong nền kinh tế 
 
Các chủ thể trong nền kinh tế đã và đang tích cực áp dụng công nghệ vào quy trình quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung và theo hình thức vận tải biển nói riêng. Điều này tạo ra sự thuận lợi cho việc đồng bộ về hạ tầng công nghệ và cơ sở dữ liệu giữa các chủ thể khi tham gia vận hành e-B/L. 
 
- Hệ thống thông tin quản lý của Nhà nước: Cơ chế một cửa quốc gia (Single Window - SW) là một hệ thống thông tin tích hợp phục vụ việc quản lý tất cả dữ liệu hàng hóa xuất đi và nhập vào Việt Nam. Sự đồng nhất dữ liệu giữa Cổng thông tin một cửa quốc gia với trang web hải quan điện tử là một nền tảng quan trọng trong việc tiếp nhận e-B/L và các chứng từ điện tử khác thuộc bộ chứng từ khai hải quan. 
 
- Hệ thống khai hải quan điện tử: Cơ quan Hải quan Việt Nam đã triển khai hệ thống thông quan hàng hóa tự động (Vietnam Automated Cargo Clearance System - VNACCS). VNACCS ra đời nhằm hỗ trợ số hóa thủ tục khai báo hải quan thông qua hai cơ chế: Hệ thống thông quan tự động và hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (VCIS). VNACCS/VCIS cung cấp dịch vụ như: Tiếp nhận bản khai hàng hóa, các chứng từ có liên quan và thông quan điện tử (e-Manifest); thanh toán điện tử (e-Payment); khai báo điện tử (e-Declaration); hóa đơn điện tử (e-Invoice); giấy chứng nhận xuất xứ điện tử (e-C/O); quản lý hồ sơ rủi ro/tiêu chí rủi ro; phân luồng (selectivity); quản lý doanh nghiệp xuất nhập khẩu; thông quan và giải phóng hàng; giám sát và kiểm soát.
 
- Cổng thông tin cảng biển điện tử e-Port: Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn đã thành lập và đồng loạt áp dụng website cảng biển điện tử e-Port tại các cảng biển lớn trên khắp cả nước nhằm phục vụ việc trao đổi dữ liệu giữa các hãng tàu và cảng biển về thông tin của tàu nhập, tàu xuất, hệ thống khai báo Manifest của hãng tàu, tình hình luân chuyển container. Ngoài ra, dịch vụ khai báo điện tử các thủ tục nhập khẩu - xuất khẩu và số hóa thủ tục thanh toán các loại phí dịch vụ cũng được cung cấp ngay trên e-Port. 
 
- Hệ thống quản lý điện tử của các hãng tàu: Các hãng tàu hoạt động tại Việt Nam đều đã và đang tăng cường số hóa quy trình liên quan tới việc vận chuyển hàng hóa, cụ thể các thủ tục từ lúc đặt chỗ với hãng tàu (Booking), nộp chỉ dẫn giao hàng (Shipping instruction), phiếu khai báo trọng lượng container chứa hàng (Verified gross mass), trả bản sao vận đơn (Copy of B/L), phát hành lệnh giao hàng (Delivery order), lên hóa đơn thanh toán đều được tiến hành trên hệ thống website của hãng tàu và gửi tự động qua mail mà không cần tới bất kỳ thủ tục giấy tờ hành chính nào. Chính các hãng tàu này cũng đã triển khai e-B/L trong hệ thống dịch vụ của mình như là: Maersk, MSC, Hapag-Lloyd, CMA CGM, ONE, Yangming, Evergreen,…
 
Việc áp dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số của các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, tập trung vào hai chủ thể chính là doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Logistics.
 
Theo khảo sát của Hiệp hội phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (Vinasa), tính đến cuối năm 2021, 99% các doanh nghiệp Việt Nam đều đã ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh như các phần mềm, giải pháp hoạt động quản lý đa kênh, bán hàng online, quản trị kinh phân phối, hàng trăm nghìn doanh nghiệp đang trực tiếp kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử như Lazada, Shopee, Tiki... 60% doanh nghiệp đang sử dụng phần mềm kế toán, trên 200.000 doanh nghiệp đang sử dụng các phần mềm hóa đơn điện tử và hầu hết các doanh nghiệp trang bị chữ ký số. 
 
Về các chủ thể tham gia cung cấp dịch vụ Logistics bao gồm: Các công ty giao nhận vận tải (Freight forwarder), các công ty kinh doanh vận tải biển không sở hữu tàu (NVOCC). Theo khảo sát của trang Vietnam Report vào tháng 12/2021, 100% các doanh nghiệp Logistics đã thực hiện gia tăng đầu tư vào phần mềm công nghệ để xây dựng hệ thống quản lý và trao đổi thông tin các lô hàng một cách thông minh và tiện lợi nhất. Có tới 86% công ty mong đợi việc chuyển đổi số sẽ giúp gia tăng đáng kể năng suất, hiệu quả kinh doanh; 36% doanh nghiệp ủng hộ việc áp dụng công nghệ vào quy trình vận hành Logistics giúp đáp ứng mức độ hài lòng của khách hàng trên phạm vi toàn cầu. Gần 68% các doanh nghiệp đã sử dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động như Internet kết nối vạn vật (IoT), Cloud Computing, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và nền tảng Blockchain.
 
Tuy nhiên, chuyển đổi số giữa các công ty Logistics còn thiếu sự đồng đều, theo thống kê của Vietnam Report năm 2021, 100% công ty Logistics đã tăng cường đầu tư vào công nghệ nhưng thực tế theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) mới có khoảng 40% doanh nghiệp áp dụng được các phần mềm công nghệ hoàn chỉnh vào vận hành. Một phần không nhỏ doanh nghiệp còn lại mới chỉ thực hiện số hóa, chuyển từ thông tin được lưu trữ dưới dạng bản cứng sang hình thức lưu trữ điện tử chứ chưa thực sự bắt tay vào chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ Blockchain, Cloud Computing, AI vẫn còn hạn chế. Các phần mềm đạt tiêu chuẩn quốc tế hiện nay vẫn chưa được nhiều công ty Việt Nam áp dụng. Hệ quả của rào cản về chất lượng công nghệ vận hành còn thiếu và yếu dẫn tới sự thiếu liên kết và đồng bộ dữ liệu trong chính nội bộ doanh nghiệp Logistics, giữa doanh nghiệp với hãng chuyên chở, cụm cảng và cơ quan hải quan.
 
Bên cạnh đó, việc sử dụng chứng từ điện tử có thể khiến doanh nghiệp gặp phải những rủi ro bị tấn công hệ thống, bị đánh cắp và mất quyền kiểm soát dữ liệu. Chỉ tính riêng trong hai tháng đầu năm 2022, theo Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), hệ thống giám sát an toàn không gian mạng đã tiếp nhận và xử lý 1.260 cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống thông tin. Ba chủ thể chính mà các cuộc tấn công mạng thường hướng tới là cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính - ngân hàng và các doanh nghiệp viễn thông. Rủi ro mất an toàn thông tin điện tử là một trong những thách thức lớn nhất đối với khả năng ứng dụng e-B/L ở Việt Nam bởi B/L là chứng từ có giá trị nhất của bộ chứng từ giao nhận. Trong trường hợp thông tin của hàng hóa bị rò rỉ hay đánh cắp sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới quyền sở hữu hàng hóa, sự an toàn của các chủ thể tham gia thương mại quốc tế nói chung và an ninh toàn ngành Hàng hải nói riêng. 
 
2.3. Điều kiện về nguồn lực của doanh nghiệp
 
Khi xét tới các khó khăn trong việc ứng dụng e-B/L tại Việt Nam thì một trong những yếu tố cần xem xét đến là nguồn lực doanh nghiệp, bao gồm: Nhân lực và vật lực (nguồn tài chính).
 
Nguồn nhân lực
 
Các doanh nghiệp tuy đã biết tới sự phát triển của e-B/L nhưng chưa thực sự đầu tư tìm hiểu về e-B/L, vì vậy một bộ phận không nhỏ các chủ thể trong thương mại quốc tế chưa nhận thức được rõ ràng những lợi ích e-B/L đem lại. Bên cạnh đó, thực tế e-B/L được ghi nhận là chưa được sử dụng chính thức bởi một doanh nghiệp nào tại thị trường Việt Nam, dù các phương tiện truyền thông đăng tải rất nhiều bài báo về các mô hình thử nghiệm e-B/L, điều này cùng với nguyên nhân chưa hiểu rõ về e-B/L dẫn tới sự thiếu chủ động của các tổ chức kinh doanh và tâm lý chờ đợi một doanh nghiệp tiên phong áp dụng trước rồi các doanh nghiệp khác sẽ dựa vào đó để đánh giá và quyết định làm theo. Tuy rằng e-B/L mang đầy đủ đặc điểm và chức năng của B/L nhưng yêu cầu người sử dụng cần có khả năng vận hành công nghệ để xử lý chứng từ và các giao dịch diễn ra trên hệ thống điện tử trong khi mặt bằng chung về kỹ năng công nghệ thông tin của nhân viên công ty hiện nay được ghi nhận ở mức độ trung bình. Đây chính là vấn đề nan giải của các doanh nghiệp hiện nay khi nhân viên sở hữu năng lực về nghiệp vụ nhưng lại thiếu kỹ năng xử lý công nghệ và ngược lại. 
 
Nguồn tài chính đầu tư vào việc chuyển đổi số của doanh nghiệp
 
Khi bắt đầu lựa chọn sử dụng e-B/L, các doanh nghiệp sẽ phải đầu tư một khoản chi phí không nhỏ để tham gia và lắp đặt các phần mềm của nhà cung cấp. Tiếp đó, các công ty sẽ cần đầy tư hoàn thiện môi trường công nghệ của mình để số hóa toàn bộ giao dịch, đồng bộ dữ liệu giữa các chủ thể tham gia quá trình thương mại điện tử. Theo thống kê của VLA, chi phí dùng để chuyển đổi số trong ngành Logistics là rất lớn, dao động từ vài trăm triệu tới hàng chục tỷ đồng mà trong khoảng 4.000 công ty Logistics tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa chiếm 95%. Trên thực tế, chỉ những doanh nghiệp quy mô lớn thuộc top đầu mới có khả năng đầu tư mạnh mẽ nguồn lực vào chuyển đổi số như Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, CJ Gemadept Logistics, TBS Logistics... Có thể nhận thấy thấy gánh nặng về tài chính hiện là cản trở rất lớn để các doanh nghiệp Logistics đầu tư vào số hóa thủ tục giao dịch thương mại quốc tế.
 
2.4. Điều kiện về sự đồng thuận của các chủ thể 
 
Tập quán kinh doanh của các chủ thể tham gia thương mại quốc tế cũng là rào cản đối với việc e-B/L có được áp dụng tại nước ta không mà ở đây tập trung vào hai chủ thể là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và hệ thống tổ chức tín dụng, ngân hàng. 
 
Các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu
 
Do thói quen trong việc thỏa thuận giữa doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài về sử dụng B/L cũng như sự thận trọng tin tưởng vào việc sử dụng chứng từ gốc dưới dạng văn bản truyền thống, nên các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa vẫn đang sử dụng B/L hoặc giấy gửi hàng đường biển (Seaway bill) và lựa chọn xuất trình chứng từ tới các chủ thể yêu cầu theo đường chuyển phát nhanh. Dù hệ thống pháp lý và công nghệ thông tin đã phát triển rất mạnh trong vòng 10 năm qua thì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đủ khả năng tìm hiểu chính xác về các đối tác ở nước ngoài, cũng như chưa đủ khả năng để phòng ngừa và bảo vệ mình trước các rủi ro của việc lựa chọn chứng từ gốc dưới dạng khác ngoài văn bản. Ngoài ra, các doanh nghiệp vẫn còn mang nặng tâm lý chỉ bản gốc thể hiện ở dạng giấy tờ có chữ ký tươi mới có giá trị chân thực nhất và trở thành bằng chứng bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp.
 
Hệ thống tổ chức tín dụng, ngân hàng 
 
Bên cạnh rào cản đến từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa thì rào cản còn lại đến từ sự khó khăn trong việc thuyết phục các ngân hàng chấp thuận cung cấp dịch vụ cho các giao dịch thanh toán sử dụng e-B/L. Điều này xảy ra không phải do các ngân hàng không chấp nhận sử dụng e-B/L mà bởi vì sự phức tạp khi thuyết phục các ngân hàng tham gia hệ thống và trở thành thành viên của các tổ chức vận hành e-B/L. Hiện nay, các tổ chức như Bolero hay essDocs đều có quy định riêng yêu cầu các thành viên cần tuân thủ khi tham gia vào hệ thống, trong khi ngân hàng là các chủ thể kinh doanh độc lập, có tính đặc thù về việc sở hữu cơ chế pháp lý riêng và chỉ tuân thủ theo luật pháp quốc gia và luật quốc tế của các tổ chức quốc tế mà ngân hàng là thành viên. Các bộ quy tắc tự đề ra của các tổ chức cung cấp e-B/L rất khó để thuyết phục các ngân hàng tham gia và chấp thuận tuân thủ bởi các bộ quy tắc đó chỉ được tuân theo cơ chế pháp lý của một quốc gia nhất định, ví dụ với Bolero được điều chỉnh bởi luật pháp của Vương quốc Anh mà không được xây dựng dựa trên pháp luật Việt Nam và chưa được công nhận rộng rãi trên phạm vi luật pháp quốc tế. Dù các chủ hàng quyết định sử dụng e-B/L nhưng phía ngân hàng không đồng ý tham gia vào hệ thống để vận hành e-B/L sẽ gây ra những thách thức không nhỏ trong quy trình xuất trình chứng từ tới ngân hàng và tiến hành thanh toán, tạo ra sự không thống nhất về số lượng, hình thức chứng từ và thời gian thực hiện các bước trong quy trình xuất nhập khẩu.
 
3. Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy việc sử dụng e-B/L tại Việt Nam 
 
3.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
 
Để e-B/L có thể được vận hành, đưa vào sử dụng cần có một quá trình với sự tham gia của các chủ thể trong nên kinh tế, trong đó vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước là đặc biệt quan trọng. (Hình 1)
 
Hình 1.  Định hướng quá trình triển khai áp dụng e-B/L tại Việt Nam


Nguồn: Nhóm tác giả

 
Các cơ quan soạn thảo luật có thể tìm hiểu các quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển, có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Hàng hải Việt Nam và đặc biệt là các hệ thống đó đã xây dựng những điều luật quy định toàn diện về giá trị pháp lý và quy trình sử dụng e-B/L. Singapore đã tiến hành sửa đổi luật Giao dịch điện tử vào năm 2021 để hoàn thiện việc trao đổi thông tin thông qua chứng từ điện tử, trong đó có e-B/L sau khi chứng kiến các tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 tới việc sử dụng chứng từ giấy trong thương mại quốc tế của quốc gia này. Bên cạnh luật quốc gia, chúng ta cũng nên tham chiếu các quy tắc pháp lý của các tổ chức quốc tế điều chỉnh thương mại quốc tế và chứng từ điện tử. Ở thời điểm hiện tại, nước ta với vai trò là thành viên của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) nhiệm kỳ 2019 - 2025, các nhà làm luật có thể nghiên cứu và tham khảo Luật mẫu về phương tiện giao dịch điện tử - Model Law on Electronic Transferable Records được ban hành bởi UNCITRAL. Bộ luật này quy định cụ thể về quy trình sử dụng tài liệu kỹ thuật số trong các hợp đồng thương mại quốc tế.  
 
Sau khi tham khảo luật pháp điều chỉnh chứng từ điện tử chúng ta cần tiến tới bước soạn thảo và ban hành các điều khoản pháp lý điều chỉnh e-B/L với phương châm tuân thủ hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Hàng hải, Luật Giao dịch điện tử cùng Luật Thương mại điện tử của Việt Nam. Pháp luật điều chỉnh e-B/L được ban hành bởi Việt Nam cần có sự hài hòa với luật quốc tế như các quy tắc thống nhất của Ủy ban Hàng hải Quốc tế (CMI) về vận đơn điện tử năm 1990, Công ước Rotterdam năm 2009. Cơ quan pháp luật có thể lựa chọn sửa đổi, bổ sung các điều luật điều chỉnh e-B/L vào Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 hoặc xây dựng một bộ luật mới quy định về việc sử dụng chứng từ điện tử trong phương thức vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.
 
Để cộng đồng doanh nghiệp hiểu sâu hơn về giá trị e-B/L đem lại thì không thể thiếu sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Cơ quan, ban, ngành quản lý nhà nước cần tăng cường có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong tiến trình chuyển đổi số để có thể đồng bộ chất lượng về công nghệ thông tin giữa các doanh nghiệp và đồng bộ dữ liệu giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ về vốn khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi số như: Ban hành các chính sách vay hay yêu cầu ngân hàng thực hiện cơ chế lãi vay ưu đãi cho doanh nghiệp phục vụ mục đích chuyển đổi số. Sẽ là cần thiết và hữu ích khi Chính phủ Việt Nam tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế về chuyển đổi số và chào đón các chương trình thuộc chủ để số hóa nhằm đem lại cơ hội học hỏi và ứng dụng công nghệ hiện đại trên thế giới cho các doanh nghiệp Việt Nam.
 
3.2. Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
 
Về vấn đề các doanh nghiệp chưa hiểu rõ về e-B/L và lợi ích e-B/L đem lại, các doanh nghiệp có thể tra cứu thông tin liên quan đến e-B/L như qua Internet; liên hệ với các chuyên gia pháp lý, các luật gia về Luật Thương mại quốc tế để được tư vấn; tham gia hội thảo, lớp tập huấn về vận tải, giao nhận do Bộ Công Thương, VCCI, VLA tổ chức...
 
Về rào cản thiếu hụt cơ chế pháp lý, khi sử dụng e-B/L, doanh nghiệp cần thảo luận với khách hàng để lựa chọn một bộ luật quốc gia hoặc luật quốc tế điều chỉnh chứng từ điện tử trong đó có e-B/L. Trong quá trình tham chiếu, các doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ tư vấn của các chuyên gia về luật thương mại quốc tế đến từ các trung tâm trọng tài quốc tế uy tín như Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC). 
 
Khi đã hiểu về tầm quan trọng của e-B/L, lời khuyên dành cho những doanh nghiệp còn thiếu sự chủ động cùng tâm lý phụ thuộc vào một chủ thể tiên phong ứng dụng e-B/L tại Việt Nam là mỗi tổ chức kinh doanh có đặc điểm riêng vì vậy không thể chỉ dựa trên việc thực hành của công ty khác để rút ra kinh nghiệm cho công ty mình. Khi ứng dụng e-B/L vào thực tế, vấn đề mà mỗi doanh nghiệp sẽ khác nhau, do đó cách thức giải quyết của mỗi doanh nghiệp cũng khác nhau, chỉ khi các doanh nghiệp tự mình ứng dụng mới có thể biết được thế mạnh và khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải, từ đó tìm ra hướng giải quyết phù hợp nhất.
 
3.3. Đối với doanh nghiệp Logistics
 
Các doanh nghiệp cần xây dựng một chương trình chuyển đổi số bài bản, kế hoạch rõ ràng từng bước. Khi tiến hành chuyển đổi số, các doanh nghiệp nên tập trung vào ba điều kiện về: Công nghệ, dữ liệu và các hệ thống quản lý mà doanh nghiệp sử dụng liệu có tương thích với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có khả năng đồng bộ với hệ thống công nghệ của các chủ thể khác trong ngành. Khi lựa chọn nhà cung cấp phần mềm dịch vụ, các doanh nghiệp nên lựa chọn các nhà cung cấp uy tín với sản phẩm đạt tiêu chuẩn công nghệ thông tin của Việt Nam và quốc tế như phần mềm SMT của Smartlog và Cargowise của WiseTech Global. Cuối cùng, để đạt được sự đồng bộ về chất lượng chuyển đổi số các doanh nghiệp trong ngành Logistics cần có sự chủ động liên kết với nhau thay vì hoạt động riêng lẻ để có thể kết nối và chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về công nghệ ứng dụng trong ngành. VLA là một lựa chọn hoàn hảo với các công ty Logistics bởi VLA thường xuyên tổ chức những dự án như: “Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao một số công nghệ hỗ trợ ngành dịch vụ Logistics” - được triển khai theo Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ Logistics Việt Nam đến năm 2025 nhằm chia sẻ, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc kết nối, ứng dụng công nghệ số để cùng nhau cải thiện chất lượng ngành Logistics Việt Nam. 
 
3.4. Đối với tổ chức tín dụng, ngân hàng
 
Tương tự như tập quán lựa chọn chứng từ văn bản trong giao dịch quốc tế, tuy việc thuyết phục ngân hàng tham gia các hệ thống vận hành e-B/L và tuân theo những quy tắc do tổ chức đó lập ra không thể thực hiện ngay lập tức, nhưng các chủ doanh nghiệp và ngân hàng vẫn có thể cùng nhau thỏa thuận và tìm ra các giải pháp để ứng dụng e-B/L tại Việt Nam. Các ngân hàng đã có thâm niên hoạt động lâu năm, là thành viên của tổ chức tài chính trong nước và quốc tế sẽ nắm được chi tiết thông tin về các nhà cung cấp phần mềm e-B/L bởi những hệ thống lâu đời như Bolero ban đầu được xây dựng bởi hệ thống SWIFT đã và đang tích cực liên kết với chủ thể ngành tài chính, ngân hàng và các ngành khác nhau để mở rộng mạng lưới. Các doanh nghiệp có thể chủ động đề xuất hệ thống vận hành e-B/L uy tín với ngân hàng để được hỗ trợ tư vấn. Ngoài ra, các bên: Sử dụng (công ty xuất nhập khẩu), cung cấp (tổ chức cung cấp e-B/L) và tài trợ e-B/L (phía ngân hàng) có thể thảo luận, thống nhất và ký kết các thỏa thuận pháp lý riêng xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm các bên chứ không nhất thiết chỉ có thể sử dụng nguồn luật quốc gia hay quốc tế nhất định kiểm soát các vấn đề liên quan tới e-B/L. Bằng cách này, ngân hàng có thể chủ động đưa ra yêu cầu với các bên nếu muốn ngân hàng tham gia cung cấp dịch vụ cho giao dịch sở hữu e-B/L, về lâu dài, các ngân hàng sẽ có thêm cơ hội mở rộng hệ thống khách hàng doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực ở các quốc gia khác nhau, giúp tăng mức độ nhận diện thương hiệu của ngân hàng. Một lần nữa, sự cần thiết của việc tìm hiểu và ứng dụng xu hướng phát triển thương mại quốc tế là không ngoại lệ với ngành Ngân hàng, và nếu tổ chức ngân hàng ở Việt Nam chấp thuận tham gia các hệ thống vận hành e-B/L sẽ giúp tăng tốc khả năng ứng dụng e-B/L và gia tăng sự chắc chắn về tính pháp lý cũng như củng cố thêm sự tin tưởng vào chứng từ điện tử của các doanh nghiệp nước nhà.
 
4. Kết luận
 
Hiện nay, e-B/L chưa được áp dụng chính thức tại Việt Nam vì thực tế còn nhiều bất cập khi ứng dụng e-B/L, tuy nhiên với sự phát triển của công nghệ thông tin cũng như những ưu điểm của B/L, trong tương lai sẽ không chỉ có e-B/L mà toàn bộ các thủ tục, quy trình vận tải, giao nhận đều sẽ được số hóa. Vì vậy, từ các cơ quan quản lý nhà nước đến các doanh nghiệp cần tìm hiểu và chuẩn bị các điều kiện đầy đủ để áp dụng e-B/L trong một ngày gần nhất nhằm nâng cao chất lượng cạnh tranh và vận hành của ngành vận tải biển Việt Nam.
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. Andrei Radchenko (2021), Product Marketing Manager, YourediElectronic Bill of Lading (EBOL, EB/L): A key to improving the efficiency of global trade. https://www.youredi.com/blog/electronic-bill-of-lading-ebol-a-key-to-improving-the-efficiency-of-global-trade 
2. Bộ Luật Hàng hải Việt Nam năm 2015.
3. Bolero Rulebook and Title Registry. https://www.bolero.net/rulebook-and-title-registry/ 
4. Eleanor Wragg (2021), How the electronic bill of lading became a battleground for trade digitisation. https://www.gtreview.com/magazine/volume-19-issue-3/electronic-bill-lading-became-battleground-trade-digitisation/ 
5. Hữu Tuấn (2021), Chuyển đổi số là phao cứu sinh cho doanh nghiệp Logistics. https://baodautu.vn/chuyen-doi-so-la-phao-cuu-sinh-cho-doanh-nghiep-logistics-d153220.html 
6. Luật An ninh mạng Việt Nam năm 2018.
7. Luật Giao dịch điện tử Việt Nam năm 2005.
8. Ngô Khắc Lễ  (2018), Vận đơn điện tử có thay thế được vận đơn giấy trong mọi trường hợp không?, Tạp chí Vietnam Logistics Review.
9. Nguyễn Thái Sơn (2015), ​​Vận đơn đường biển điện tử (e-B/L) và khả năng áp dụng ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, số 212(II) tháng 2/2015. 
10. Nguyễn Thái Sơn (2015), Tổ chức đăng ký vận đơn điện tử Bolero và một số gợi ý áp dụng tại Việt Nam, Tạp chí Tạp chí Khoa học Thương mại, Trường Đại học Thương mại, số 84/2015.
11. P.V (2021), Góc nhìn toàn cảnh ngành Logistics & Top 10 Công ty uy tín ngành Logistics năm 2021. https://tienphong.vn/goc-nhin-toan-canh-nganh-logistics-top-10-cong-ty-uy-tin-nganh-logistics-nam-2021-post1402052.tpo 
12. Trần Nguyễn Hợp Châu (2021), Logistics và vận tải quốc tế, Nhà xuất bản Hồng Đức. 
13. What is an Electronic Bill of Lading? https://www.bolero.net/what-is-an-electronic-bill-of-lading/#:~:text=An%20electronic%20bill%20of%20lading%20(eBL)%20is%20an%20electronic%20version,traditional%20paper%20bill%20of%20lading 

Nguyễn Thị Cẩm Thủy (Khoa Kinh doanh quốc tế, Học viện Ngân hàng)
Nguyễn Bảo Ngân (Sinh viên Khoa Kinh doanh quốc tế, Học viện Ngân hàng)

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Việt Nam trong hành trình hướng tới các mục tiêu  phát triển bền vững của Liên hợp quốc, Thỏa thuận Paris  và đáp ứng các nhu cầu phát triển bền vững cấp thiết
Việt Nam trong hành trình hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc, Thỏa thuận Paris và đáp ứng các nhu cầu phát triển bền vững cấp thiết
25/01/2023 662 lượt xem
Cùng với sự phát triển của xã hội, thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức và phát triển bền vững ngày càng trở thành một chủ đề lớn, thu hút sự quan tâm của tất cả các quốc gia. Chúng ta đang sống và phát triển trên một hành tinh hữu hạn, do đó, chúng ta cần có cái nhìn sâu hơn về cách quản lý tài nguyên của Trái đất để đáp ứng những nguyện vọng của xã hội và thực trạng dân số đang tăng lên từng ngày, đồng thời đảm bảo rằng các thế hệ hiện tại và tương lai có cơ hội có được chất lượng cuộc sống tốt, khỏe mạnh và phát triển thịnh vượng.
Kinh tế khu vực châu Âu trước nguy cơ rơi vào suy thoái
Kinh tế khu vực châu Âu trước nguy cơ rơi vào suy thoái
06/01/2023 714 lượt xem
Năm 2022, tình hình kinh tế - xã hội của khu vực châu Âu đối mặt với hàng loạt khó khăn, thách thức; nguy cơ khủng hoảng kinh tế ngày một rõ nét.
Kinh tế toàn cầu tiềm ẩn nhiều rủi ro hiện hữu
Kinh tế toàn cầu tiềm ẩn nhiều rủi ro hiện hữu
29/12/2022 1.175 lượt xem
Bức tranh kinh tế thế giới năm 2022 phân chia thành hai nửa rõ rệt: 6 tháng đầu năm và 6 tháng cuối năm 2022. Bước vào đầu năm 2022, kinh tế toàn cầu phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ sau một năm suy thoái vì đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, kể từ giữa năm 2022, khi xung đột Nga - Ukraine gia tăng, kết hợp chính sách “Zero Covid” của Trung Quốc làm chậm lại đà phục hồi kinh tế toàn cầu, gia tăng tình trạng gián đoạn nguồn cung và đẩy giá hàng hóa thế giới tăng mạnh.
Năm 2022: Một năm đầy khó khăn của thị trường tài chính toàn cầu
Năm 2022: Một năm đầy khó khăn của thị trường tài chính toàn cầu
28/12/2022 1.064 lượt xem
Sau một năm ảnh hưởng bởi sự tàn phá nặng nề của đại dịch Covid-19, kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi. Động lực cơ bản thúc đẩy quá trình phục hồi nhanh chóng này là chính sách hỗ trợ khổng lồ, cả về tài chính và tiền tệ. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ này cũng là yếu tố gây lạm phát cao. Ban đầu, lạm phát chỉ tăng đối với một số ít mặt hàng hóa, nhưng đầu năm 2022, đà tăng giá cả dịch vụ có dấu hiệu kéo dài và đã vượt mức giá trước đại dịch tại nhiều khu vực trên thế giới.
Phương thức thanh toán quốc tế BPO - Góc nhìn công nghệ số
Phương thức thanh toán quốc tế BPO - Góc nhìn công nghệ số
12/12/2022 1.767 lượt xem
Sự ra đời của phương thức BPO (Bank Payment Obligations - Nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng) là sáng kiến nhằm cung cấp một công cụ thanh toán mới hỗ trợ hoạt động thương mại toàn cầu để thích ứng với sự phát triển của thời đại số.
Mô hình ngân hàng số: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
Mô hình ngân hàng số: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
07/12/2022 1.750 lượt xem
Trong bối cảnh kỷ nguyên số với hành vi khách hàng thay đổi nhanh chóng, nhiều đột phá công nghệ và mô hình kinh doanh mới, các ngân hàng, tổ chức tài chính ở vị thế bắt buộc phải chuyển đổi số bằng công nghệ, dữ liệu và mô hình kinh doanh sáng tạo để thích ứng, vượt lên thách thức của kỷ nguyên số.
Mục tiêu lạm phát tối ưu: Ý kiến ​​của 600 nhà kinh tế
Mục tiêu lạm phát tối ưu: Ý kiến ​​của 600 nhà kinh tế
16/11/2022 2.258 lượt xem
Trong một cuộc khảo sát với hơn 600 nhà kinh tế, hầu hết những người được hỏi muốn Ngân hàng Trung ương (NHTW) của họ có một mục tiêu lạm phát rõ ràng. Gần một nửa đáp viên muốn NHTW giữ mục tiêu hiện tại. Hai phần ba số còn lại muốn tăng mục tiêu, với mức tăng bình quân một điểm phần trăm.
Xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và triển vọng của Việt Nam
Xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và triển vọng của Việt Nam
14/11/2022 2.973 lượt xem
Nông nghiệp hữu cơ với việc không sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất đã đảm bảo được sự an toàn của các sản phẩm nông nghiệp với sức khỏe con người, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái tự nhiên. Vì vậy, nông nghiệp hữu cơ được coi là giải pháp quan trọng để phát triển bền vững, được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng.
Truyền thông chính sách của các ngân hàng trung ương trong thời kỳ lạm phát cao
Truyền thông chính sách của các ngân hàng trung ương trong thời kỳ lạm phát cao
11/11/2022 2.100 lượt xem
Hoạt động truyền thông của ngân hàng trung ương (NHTW) với công chúng có thể là phương thức hiệu quả để giảm kỳ vọng lạm phát trong thời kỳ lạm phát tăng đột biến. Đồng thời, việc giải thích dự báo của các chuyên gia NHTW ảnh hưởng đến kỳ vọng nhiều hơn là chỉ cung cấp các số liệu dự báo.
Kinh nghiệm thu hút lao động chất lượng cao của Trung Quốc - Bài học tham khảo đối với Việt Nam
Kinh nghiệm thu hút lao động chất lượng cao của Trung Quốc - Bài học tham khảo đối với Việt Nam
04/11/2022 2.623 lượt xem
Trung Quốc và Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện (2008) và đã đạt được những kết quả ấn tượng trên nhiều lĩnh vực, nhất là kinh tế, thương mại và đầu tư, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam.
Phát triển kinh tế xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Phát triển kinh tế xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
03/11/2022 3.031 lượt xem
Với những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi việc phát triển kinh tế xanh là bước đi tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, trong đó có Việt Nam.
Các chính sách về tài chính các-bon ở Canada và khuyến nghị đối với Việt Nam
Các chính sách về tài chính các-bon ở Canada và khuyến nghị đối với Việt Nam
21/10/2022 2.574 lượt xem
Việc chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp đòi hỏi một quốc gia phải có nguồn vốn dồi dào, cơ sở hạ tầng bền vững, công nghệ chuyển đổi liên tục và nguồn năng lượng sạch lớn. Cơ sở vốn là một yêu cầu trọng yếu mà cả tổ chức công và tổ chức tư nhân phải cùng nhau hỗ trợ để có thể đạt được mục tiêu chung về môi trường.
Tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương: Kinh nghiệm thế giới và bài học đối với Việt Nam
Tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương: Kinh nghiệm thế giới và bài học đối với Việt Nam
18/10/2022 4.628 lượt xem
Trong thời đại bùng nổ công nghệ số, mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội có sự thay đổi sâu sắc và toàn diện. Lĩnh vực tiền tệ cũng không nằm ngoài xu hướng ấy.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
13/10/2022 2.576 lượt xem
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn lực tài chính quan trọng, đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, bên cạnh các lợi ích to lớn mà nguồn vốn này mang lại, quốc gia tiếp nhận đầu tư cũng đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức, một trong số đó là khả năng bị nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện do vi phạm các nghĩa vụ bảo hộ đầu tư trong các điều ước quốc tế.
Hiệp định RCEP: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Hiệp định RCEP: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
29/09/2022 5.717 lượt xem
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership - RCEP) chính thức được ký kết (tháng 11/2020) giữa 10 nước thành viên ASEAN và 5 đối tác của khối là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand (trừ Ấn Độ đã tuyên bố rút khỏi Hiệp định).
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.320

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.300

Vàng SJC 5c

66.500

67.320

Vàng nhẫn 9999

53.700

54.700

Vàng nữ trang 9999

53.500

54.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24,639 26.018 27.488 28.660 172.43 182.55
BIDV 23.300 23.600 24,835 26.039 27,641 28.719 173.60 182.70
VietinBank 23.262 23.622 24,899 26.034 27,850 28.860 173.92 180.87
Agribank 23.280 23.595 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.268 23.653 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.280 23.630 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.260 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?