Truyền thông chính sách của các ngân hàng trung ương trong thời kỳ lạm phát cao
11/11/2022 606 lượt xem
Tóm tắt: Hoạt động truyền thông của ngân hàng trung ương (NHTW) với công chúng có thể là phương thức hiệu quả để giảm kỳ vọng lạm phát trong thời kỳ lạm phát tăng đột biến. Đồng thời, việc giải thích dự báo của các chuyên gia NHTW ảnh hưởng đến kỳ vọng nhiều hơn là chỉ cung cấp các số liệu dự báo. Bài viết giới thiệu nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) về tác động của truyền thông chính sách NHTW trong việc giảm lạm phát kỳ vọng của hộ gia đình trong thời kỳ lạm phát cao.
 
Từ khóa: Truyền thông chính sách, lạm phát kỳ vọng, ngân hàng trung ương.
 
CENTRAL BANK POLICY COMMUNICATION DURING PERIODS OF HIGH INFLATION
 
Abstract: Central bank communication with the public can be an effective way to reduce inflation expectations during periods of high inflation. At the same time, the interpretation of forecasts by central bankers affects inflation expectations more than simply providing forecast figures. The article introduces the research of Prof. Mathias Hoffmann, Prof. Emanuel Moench et al (2022) on the impact of policy communication by central banks in reducing expected inflation of households during periods of high inflation.
 
Keywords: Policy communication, inflation expectations, central bank.
 
1. Đặt vấn đề và phương pháp nghiên cứu
 
Do giá tiêu dùng tăng và tình trạng thiếu cung ngày càng trầm trọng, NHTW châu Âu (ECB) đã nâng dự báo lạm phát ở khu vực đồng Euro hai lần trong năm nay. Đặc biệt, dự báo lạm phát cho năm 2022 hiện tại đã được nâng lên. Nếu như vào tháng 3/2022, dự báo lạm phát tăng lên 5,1% so với mức dự báo 3,2% đưa ra ​​vào tháng 12/2021, đến tháng 6/2022 mức dự báo lạm phát tăng lên 6,8%. Nhiều nhà nghiên cứu cũng thừa nhận rằng việc giảm lạm phát có thể kéo dài hơn.  Tháng 3/2022, ECB dự báo lạm phát năm 2023 ở khu vực đồng Euro nâng lên 2,1% từ mức dự báo 1,8% được tổ chức này đưa ra trong tháng 12/2021 và vào tháng 6/2022, con số dự báo tăng lên 3,5%. Tuy nhiên, đại diện của Eurosystem (ECB và NHTW của các nước thành viên khu vực đồng Euro) vẫn kỳ vọng mức lạm phát sẽ tiệm cận mục tiêu của ECB là 2% trong trung hạn. Dự báo năm 2024, mặc dù đã được điều chỉnh, gần với giá trị này - vào tháng 3/2022, mức dự báo được tăng lên 1,9% từ 1,8% được đưa ra trong tháng 12/2021 và đến tháng 6/2022 mức lạm phát được dự báo tăng lên 2,1%.
 
Kể từ năm 2021, kỳ vọng lạm phát của các hộ gia đình Đức cũng đã tăng lên đáng kể. Từ tháng 01/2021 đến tháng 02/2022, giá trị trung bình của lạm phát dự kiến ​​trong một năm tăng đều đặn từ 2% lên 5% và vào tháng 6/2022, con số này đã tăng lên 8% (Biểu đồ 1).
 
Biểu đồ 1: Lạm phát kỳ vọng của hộ gia đình trong 12 tháng tới


Kỳ vọng lạm phát trong 5 và 10 năm tới cũng đã tăng lên đáng kể, mặc dù chúng vẫn ở mức thấp hơn - lần lượt là 5% và 4% (Biểu đồ 2 và 3).
 
Biểu đồ 2: Lạm phát kỳ vọng của hộ gia đình trong 5 năm tới



Biểu đồ 3: Lạm phát kỳ vọng của hộ gia đình trong 10 năm tới


Nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) đã phân tích hai khía cạnh hình thành các kỳ vọng lạm phát của hộ gia đình. Thứ nhất, liệu các hộ gia đình coi tỉ lệ lạm phát cao hiện nay là tạm thời hay vĩnh viễn. Thứ hai, các dự báo lạm phát của ECB có thực sự làm giảm kỳ vọng lạm phát của hộ gia đình hay không.
 
Phân tích khía cạnh đầu tiên dựa trên câu trả lời của các đáp viên người Đức đối với các câu hỏi tiêu chuẩn và các câu hỏi bổ sung trong cuộc khảo sát trực tuyến hộ gia đình ở Bundesbank vào tháng 3/2022 (Bundesbank Online Panel Households, BOP-HH, xem hộp). Nghiên cứu đã nhận được khoảng 5.000 câu trả lời về tỷ lệ lạm phát trong tương lai - trong 12 tháng (ngắn hạn), trong 2 - 3 năm (trung hạn) và trong 5 - 10 năm (dài hạn).
 
Để phân tích khía cạnh thứ hai, nghiên cứu đã tiến hành một cuộc khảo sát trong khuôn khổ BOP-HH dưới dạng một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên1. Nhờ vậy, kết quả của cuộc khảo sát cho phép xem xét đường đi của lạm phát mà các hộ gia đình mong đợi và nó bị ảnh hưởng như thế nào bởi hoạt động truyền thông chính sách của NHTW.

 
Khảo sát hộ gia đình Đức của Bundesbank
 
Kể từ năm 2019, Bundesbank đã theo dõi kỳ vọng lạm phát của các hộ gia đình bằng cách thực hiện các cuộc khảo sát trực tuyến. Kể từ tháng 4/2020, định kỳ thực hiện là một lần/tháng, với 2.500 đến 5.000 người tham gia vào mỗi đợt. Những đáp viên được yêu cầu ước tính các động lực trong tương lai của lạm phát, đưa ra dự báo về chi phí bất động sản nhà ở và lãi suất ở Đức, trong mỗi đợt khảo sát, cũng có các câu hỏi về các khoản chi đã được lập và đã lên kế hoạch. Ngoài các mục tiêu chuẩn trong bảng hỏi, đáp viên có thể trả lời các câu hỏi bổ sung của các nhà nghiên cứu từ Bundesbank và các nhà nghiên cứu bên ngoài. Việc tham gia khảo sát là tự nguyện, đáp viên từ 16 tuổi trở lên được phép tham gia.
 

 
Nghiên cứu thiết kế các câu hỏi khảo sát theo phương pháp thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên. Ở bước thứ nhất, tất cả đáp viên được thông báo về mục tiêu lạm phát của ECB. Sau đó, họ được yêu cầu ước tính xác suất đạt được mục tiêu trung hạn: Để thực hiện việc này, những đáp viên phân bố xác suất lạm phát nằm trong một khoảng nhất định (từ dưới 1% đến hơn 5%) về trung hạn. Nghiên cứu giới hạn các ước tính xác suất để tổng của chúng bằng 100. Trong bước thứ hai, các đáp viên được chia ngẫu nhiên thành một số nhóm. Mỗi nhóm nhận các thông điệp khác nhau (định lượng hoặc định tính) từ ECB, liên quan đến dự báo lạm phát trung hạn. Còn nhóm đối chứng sẽ không nhận bất cứ thông điệp nào từ ECB. Sau đó, toàn bộ các đáp viên lại được yêu cầu ước tính lạm phát trong một năm, 2 - 3 năm và 5 - 10 năm.
 
Cụ thể, hai nhóm đã nhận thông tin định lượng về dự báo lạm phát của ECB công bố vào tháng 3/2022. Ngoài ra, một trong hai nhóm này đã nhận được thông tin về việc điều chỉnh dự báo trong tháng 3/2022 so với dự báo trước đó, được công bố vào tháng 12/2021 (nhóm này được gọi là “định lượng nâng cao”). Hai nhóm còn lại được tiếp cận với các giải thích về các dự báo của nhà kinh tế trưởng ECB, Philip Lane, người được nhiều phương tiện truyền thông trích dẫn. Một nhóm (được gọi là “định tính nâng cao”) được cung cấp thông tin rằng, Lane kỳ vọng lạm phát sẽ giảm trong suốt năm 2022 và lạm phát trong năm 2023 và 2024 sẽ giảm xuống dưới mức mục tiêu. Một nhóm khác cũng được biết thêm rằng, Lane không (chưa) thấy bất kỳ bằng chứng nào về hiệu ứng vòng hai của lạm phát (second-round effects on inflation)2.
 
2. Kết quả và thảo luận

Biểu đồ 4: Phân bố xác suất lạm phát kỳ vọng của các hộ gia đình 
trước khi được ECB báo cáo về triển vọng lạm phát


Nguồn: Mathias Hoffmann, Emanuel Moench và các cộng sự (2022)
 
Biểu đồ 4 minh họa phân bố xác suất theo đánh giá của các hộ gia đình về lạm phát ngắn hạn (xanh đậm), trung hạn (xanh lam) và dài hạn (xanh nhạt) trước khi được ECB thông báo về triển vọng lạm phát. Lạm phát kỳ vọng trong ngắn hạn nghiêng hẳn về phía tăng, bình quân những người được hỏi cho rằng với xác suất 33%, lạm phát trong một năm sẽ vượt quá 5% và với xác suất khoảng 80%, lạm phát sẽ cao hơn 3%. Tuy nhiên, lạm phát kỳ vọng trong trung hạn thấp hơn đáng kể: Xác suất lạm phát trên 5% ước tính khoảng 20%, lạm phát trên 3% - khoảng 70%. Trong thời hạn 10 năm, lạm phát kỳ vọng thậm chí còn thấp hơn (xác suất lạm phát trên 5% được ước tính vào khoảng 15% và trên 3% - khoảng 55%). Tuy nhiên, hầu hết những người được hỏi đều kỳ vọng lạm phát sẽ cao hơn mục tiêu 2% của ECB. Từ những số liệu này, nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) kết luận rằng, vào tháng 3/2022, các hộ gia đình Đức phần lớn coi lạm phát cao là tạm thời, nhưng đồng thời, cũng nhận thấy rủi ro đáng kể rằng nó sẽ duy trì trên mục tiêu của ECB trong một thời gian dài.
 
Sau khi nhận được các kết luận trên, nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) đặt ra mục tiêu tìm hiểu liệu hoạt động truyền thông chính sách của ECB có khả năng dịch chuyển mức kỳ vọng lạm phát gần hơn với mục tiêu lạm phát hay không. Để thực hiện điều này, nghiên cứu đã so sánh phản hồi của nhiều nhóm đáp viên khác nhau được chọn ngẫu nhiên về động lực lạm phát kỳ vọng ​​của họ trước và sau khi tiếp cận với thông tin chính sách của ECB định tính (bằng lời nói) và định lượng (bằng số) có chứa các dự báo lạm phát (xem Biểu đồ 5, 6, 7).

Biểu đồ 5: Lạm phát kỳ vọng 1 năm của các đáp viên trước 
và sau khi được tiếp cận thông tin chính sách


Nguồn: Mathias Hoffmann, Emanuel Moench và các cộng sự (2022)


Biểu đồ 6: Lạm phát kỳ vọng 2 - 3 năm của các đáp viên 
trước và sau khi được tiếp cận thông tin chính sách


Nguồn: Mathias Hoffmann, Emanuel Moench và các cộng sự (2022)
 
Theo Biểu đồ 5, 6, 7, những người trả lời nhận được một trong hai loại thông tin đã điều chỉnh giảm đáng kể kỳ vọng lạm phát cao của họ trong năm tới. Ví dụ: Xác suất lạm phát trên 5% giảm từ 1/3 xuống còn 1/4 (Biểu đồ 5). Điều tương tự cũng xảy ra với kỳ vọng trung hạn, mặc dù ở mức độ thấp hơn (ước tính xác suất lạm phát trên 5% trong 2 - 3 năm đã giảm từ 20% xuống còn khoảng 15%, Biểu đồ 6). Tương tự, truyền thông chính sách của ECB làm giảm kỳ vọng lạm phát cao trong dài hạn (5 - 10 năm, Biểu đồ 7).

Biểu đồ 7: Lạm phát kỳ vọng 5 - 10 năm của các đáp viên 
trước và sau khi được tiếp cận thông tin chính sách


Nguồn: Mathias Hoffmann, Emanuel Moench và các cộng sự (2022)

Tiếp theo, nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) đánh giá tác động của các loại hình truyền thông chính sách khác nhau đối với lạm phát kỳ vọng của các đáp viên. Nghiên cứu xác định mức lạm phát kỳ vọng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bình quân cho tất cả các nhóm, mỗi nhóm nhận được các thông báo khác nhau từ ECB và tách chúng khỏi các chỉ số của nhóm kiểm soát (nhóm không tiếp cận với bất kỳ thông báo nào từ ECB), trên cơ sở đó, nghiên cứu rút ra ba kết luận.
 
Một là, lạm phát kỳ vọng giảm trên các kỳ hạn. Tỷ lệ lạm phát kỳ vọng trung bình giảm từ mức 4,28% cho kỳ hạn một năm xuống mức 3,78% và 3,38% cho kỳ hạn 2 - 3 năm và 5 - 10 năm tương ứng. Tuy nhiên, trong khi mức giảm 90 điểm cơ bản này là đáng kể, thì kỳ vọng lạm phát trung bình vẫn được nâng cao ngay cả trong dài hạn.
 
Hai là, tất cả các loại hình truyền thông (cả định lượng và định tính) đã góp phần giảm kỳ vọng lạm phát cao và giảm đáng kể về mặt thống kê.
 
Thứ ba, bằng cách so sánh tác động của việc tiếp cận với các loại hình thông điệp khác nhau, nghiên cứu nhận thấy rằng, thông tin chứa các đánh giá định tính có tác động mạnh hơn nhiều so với thông tin định lượng. Nếu thông tin định tính làm giảm lạm phát kỳ vọng khoảng 47 điểm cơ bản cho năm hiện tại, 28 điểm cơ bản cho trung hạn và 23 điểm cơ bản về dài hạn thì thông tin định lượng chỉ làm giảm lạm phát kỳ vọng ở các mức tương ứng là 17; 18 và 11 điểm cơ bản.
 
Trong một bài báo được xuất bản vào năm 2022, GS. Lena Drager và các cộng sự đã chỉ ra rằng việc cung cấp cho các đáp viên những thông tin về lạm phát kỳ vọng từ các nhà dự báo chuyên nghiệp, những người tập trung vào lạm phát cao thay vì mục tiêu của ECB chỉ làm giảm lạm phát kỳ vọng ngắn hạn. Ngoài ra, Drager và các cộng sự (cũng sử dụng thử nghiệm RCT (Randomised Control Trial) để thu thập dữ liệu từ cuộc khảo sát BOP-HH của Bundesbank vào tháng 9/2021) nhận thấy rằng, ảnh hưởng của truyền thông bằng văn bản đối với mức lạm phát kỳ vọng là khá hạn chế.
 
Mặt khác, nghiên cứu phát hiện rằng việc mở rộng truyền thông chính sách với các thông điệp bổ sung, như dữ liệu cập nhật các dự báo trước đó của ECB trong trường hợp của nhóm “định lượng nâng cao” hoặc các nhận định cho rằng các hiệu ứng của lạm phát vòng hai chưa quan sát thấy, trong trường hợp của nhóm “định tính nâng cao”, không làm tăng hiệu quả truyền thông. Điều này cho thấy rằng, những người tham gia khảo sát sẵn sàng hoặc chỉ có thể xử lý một lượng thông tin văn bản hạn chế. Nhận định này phù hợp với kết luận của GS. Olivier Coibion và các cộng sự (2019), khi phát hiện rằng việc các đáp viên đọc các tuyên bố của Ủy ban Thị trường Mở (FOMC), Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sau cuộc họp có mức ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát hộ gia đình không lớn hơn so với việc chỉ tiếp cận với các dự báo lạm phát của FOMC.
 
Trong nghiên cứu gần đây của Enzo Rossi và các cộng sự (2022), bằng dữ liệu khảo sát 488.000 công dân khu vực Euro từ năm 1999 đến 2019, đã tìm thấy bằng chứng thuyết phục rằng, tần suất giao tiếp nhiều hơn, được đo bằng số lượng bài phát biểu của các đại diện hệ thống NHTW các nước châu Âu có ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của công dân đối với ECB. Tuy nhiên, nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) lại cho thấy rằng niềm tin cao hơn có liên quan đến việc tăng cường tác động của truyền thông ECB đối với kỳ vọng lạm phát. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây cũng của nhóm tác giả GS. Mathias Hoffmann, Lora Pavlova, Guido Schultefrankenfeld (2021) rằng, việc thông báo cho các hộ gia đình về chiến lược chính sách tiền tệ của ECB có thể ảnh hưởng tích cực đến quá trình định hình lạm phát kỳ vọng của họ và các hộ gia đình có mức độ tin tưởng cao hơn vào NHTW sẽ điều chỉnh kỳ vọng lạm phát của họ nhiều hơn. 
 
3. Kết luận
 
Nhìn chung, các kết quả phân tích trong nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) cho thấy rằng truyền thông có mục tiêu của NHTW có thể là một phương pháp hiệu quả để giảm lạm phát kỳ vọng của hộ gia đình trong thời kỳ lạm phát cao. Hơn nữa, những từ ngữ giải thích các dự báo lạm phát dường như hoạt động tốt hơn nhiều so với việc chỉ định lượng lạm phát trong tương lai.
 
Bản thân các cựu quan chức cấp cao của ECB cũng thừa nhận rằng, việc giao tiếp với công chúng có thể được cải thiện, chẳng hạn như thông qua việc sử dụng mạng xã hội (bằng chứng là cuộc khảo sát 27 cựu thành viên Hội đồng Quản trị của ECB, do người đứng đầu bộ phận nghiên cứu chính sách tiền tệ của ECB, Michael Ehrman và các cộng sự thực hiện vào năm 2020). Ngoài ra, những giải thích bằng lời nói dường như là một phương tiện hiệu quả hơn để giải quyết “sự khác biệt trong kiến ​​thức về chính sách tiền tệ  của các hộ gia đình” (mà các NHTW cần phải tính đến khi giao tiếp với công chúng, vì không phải tất cả các đại diện của công chúng đều nhận thức rõ về các mục tiêu của chính sách tiền tệ, như nghiên cứu của Jacob De Haan và cộng sự (2015) ở Hà Lan đã phát hiện). Mặc dù chủ đề nêu trên cần tiếp tục nghiên cứu thêm, nhưng những phát hiện trong nghiên cứu của GS. Mathias Hoffmann, GS. Emanuel Moench và các cộng sự (2022) có thể cung cấp một số định hướng hữu ích và có giá trị trong lĩnh vực này.
 

1 Thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (Randomised control trial, RCT): So sánh kết quả của hai nhóm người được chọn ngẫu nhiên - thực nghiệm và đối chứng; lựa chọn ngẫu nhiên cho phép tránh sự chủ quan, định kiến và xác định chính xác hơn mối quan hệ nhân quả giữa một hành động nhất định và kết quả của nó.
2 Sự gia tăng giá mà các hộ gia đình phải trả cho năng lượng - như xăng, dầu sưởi và khí đốt tự nhiên - thể hiện sự gia tăng chi phí sinh hoạt và lạm phát giá cả. Tác động trực tiếp này của giá năng lượng cao hơn đối với chi phí sinh hoạt đôi khi được gọi là hiệu ứng đầu tiên đối với lạm phát. Ngoài ra, chi phí năng lượng cao hơn có thể có tác động gián tiếp đến lạm phát - ví dụ, nếu các công ty chuyển chi phí sản xuất tăng lên dưới hình thức giá tiêu dùng cao hơn đối với hàng hóa hoặc dịch vụ phi năng lượng hoặc nếu người lao động phản ứng với việc tăng chi phí sinh hoạt bằng cách đòi hỏi mức lương danh nghĩa cao hơn. Chi phí năng lượng tăng cũng có thể làm tăng kỳ vọng lạm phát dài hạn của công chúng, một yếu tố sẽ gây thêm áp lực lên lạm phát. Những tác động gián tiếp của giá năng lượng cao hơn đối với lạm phát chung được gọi là hiệu ứng vòng hai đối với lạm phát.
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. Матиас Хоффманн, Эмануэль Менх, Лора Павлова, Гвидо Шультефранкенфельд, “Слова важнее цифр: коммуникация центробанков в период высокой инфляции”, 2022, https://econs.online/articles/opinions/slova-vazhnee-tsifr-kommunikatsiya-tsentrobankov/ [Truy cập 14.8.2022].
2. ECB, Past macroeconomic projections, 2022, https://www.ecb.europa.eu/mopo/strategy/ecana/html/table.en.html, Truy cập 14.8.2022.
3. Bundesbank, Inflation expectations, 2022, https://www.bundesbank.de/en/bundesbank/research/survey-on-consumer-expectations/inflation-expectations-848334#tar-1, Truy cập 14.8.2022.
4. Lena Drager, Michael Lamla, Damjan Pfajfar, “How to limit the spillover from the 2021 inflation surge to inflation expectations? 2022, https://diskussionspapiere.wiwi.uni-hannover.de/pdf_bib/dp-694.pdf, Truy cập 15.8.2022.
5. Olivier Coibion, Michael Weber, Yuriy Gorodnichenko, “Monetary communications and their effects on household inflation expectations”, 2019, https://cepr.org/voxeu/columns/monetary-policy-communications-and-their-effects-household-inflation-expectations, Truy cập 15.8.2022.
6. In Do Hwang, Thomas Lustenberger, Enzo Rossi, “Central Bank Communication and Pubic Trust: The cases of ECB speeches”, 2022, https://www.researchgate.net/publication/361639838_Central_Bank_Communication_and_Public_Trust_The_Case_of_ECB_Speeches, Truy cập 22.8.2022.
7. Mathias Hoffmann, Lora Pavlova, Guido Schultefrankenfeld, “The effects of ECB’s new inflation target on private households’ inflation expectations”, 2021, https://www.bundesbank.de/en/publications/research/research-brief/2021-43-inflation-target-881212, Truy cập 22.8.2022.
8. Jacob De Haan, etc., “What the general public knows about monetary policy, 2015, https://cepr.org/voxeu/columns/what-general-public-knows-about-monetary-policy, Truy cập 22.8.2022.

TS. Nguyễn Đình Trung 
Đại học Hòa Bình
 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Mục tiêu lạm phát tối ưu: Ý kiến ​​của 600 nhà kinh tế
Mục tiêu lạm phát tối ưu: Ý kiến ​​của 600 nhà kinh tế
16/11/2022 567 lượt xem
Trong một cuộc khảo sát với hơn 600 nhà kinh tế, hầu hết những người được hỏi muốn Ngân hàng Trung ương (NHTW) của họ có một mục tiêu lạm phát rõ ràng. Gần một nửa đáp viên muốn NHTW giữ mục tiêu hiện tại. Hai phần ba số còn lại muốn tăng mục tiêu, với mức tăng bình quân một điểm phần trăm.
Xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và triển vọng của Việt Nam
Xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và triển vọng của Việt Nam
14/11/2022 648 lượt xem
Nông nghiệp hữu cơ với việc không sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất đã đảm bảo được sự an toàn của các sản phẩm nông nghiệp với sức khỏe con người, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái tự nhiên. Vì vậy, nông nghiệp hữu cơ được coi là giải pháp quan trọng để phát triển bền vững, được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng.
Kinh nghiệm thu hút lao động chất lượng cao của Trung Quốc - Bài học tham khảo đối với Việt Nam
Kinh nghiệm thu hút lao động chất lượng cao của Trung Quốc - Bài học tham khảo đối với Việt Nam
04/11/2022 856 lượt xem
Trung Quốc và Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện (2008) và đã đạt được những kết quả ấn tượng trên nhiều lĩnh vực, nhất là kinh tế, thương mại và đầu tư, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam.
Phát triển kinh tế xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Phát triển kinh tế xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
03/11/2022 924 lượt xem
Với những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi việc phát triển kinh tế xanh là bước đi tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, trong đó có Việt Nam.
Các chính sách về tài chính các-bon ở Canada và khuyến nghị đối với Việt Nam
Các chính sách về tài chính các-bon ở Canada và khuyến nghị đối với Việt Nam
21/10/2022 1.020 lượt xem
Việc chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp đòi hỏi một quốc gia phải có nguồn vốn dồi dào, cơ sở hạ tầng bền vững, công nghệ chuyển đổi liên tục và nguồn năng lượng sạch lớn. Cơ sở vốn là một yêu cầu trọng yếu mà cả tổ chức công và tổ chức tư nhân phải cùng nhau hỗ trợ để có thể đạt được mục tiêu chung về môi trường.
Tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương: Kinh nghiệm thế giới và bài học đối với Việt Nam
Tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương: Kinh nghiệm thế giới và bài học đối với Việt Nam
18/10/2022 1.836 lượt xem
Trong thời đại bùng nổ công nghệ số, mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội có sự thay đổi sâu sắc và toàn diện. Lĩnh vực tiền tệ cũng không nằm ngoài xu hướng ấy.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
13/10/2022 1.056 lượt xem
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn lực tài chính quan trọng, đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, bên cạnh các lợi ích to lớn mà nguồn vốn này mang lại, quốc gia tiếp nhận đầu tư cũng đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức, một trong số đó là khả năng bị nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện do vi phạm các nghĩa vụ bảo hộ đầu tư trong các điều ước quốc tế.
Hiệp định RCEP: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Hiệp định RCEP: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
29/09/2022 3.573 lượt xem
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership - RCEP) chính thức được ký kết (tháng 11/2020) giữa 10 nước thành viên ASEAN và 5 đối tác của khối là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand (trừ Ấn Độ đã tuyên bố rút khỏi Hiệp định).
Phân tích về điều kiện ra đời tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương
Phân tích về điều kiện ra đời tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương
19/09/2022 2.969 lượt xem
Dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiền kỹ thuật số và các giao dịch gắn với chúng ngày càng thâm nhập sâu vào đời sống kinh tế - xã hội. Sự chuyển dịch nhanh chóng của hệ thống tiền tệ số toàn cầu đã khiến chính phủ các nước có phần lúng túng nhằm thích nghi với những thay đổi trong hành vi chi tiêu và đầu tư của người dân.
Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và bài học cho Việt Nam
Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và bài học cho Việt Nam
08/09/2022 2.506 lượt xem
Nhận thức được vai trò của khoa học và công nghệ, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những chiến lược cụ thể và lộ trình chi tiết cho quá trình đổi mới và phát triển công nghệ tại các doanh nghiệp và tổ chức của đất nước mình.
Hỗ trợ vay vốn từ Quỹ bảo toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Một số bài học kinh nghiệm từ Quỹ ổn định trên thế giới
Hỗ trợ vay vốn từ Quỹ bảo toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân: Một số bài học kinh nghiệm từ Quỹ ổn định trên thế giới
05/09/2022 2.458 lượt xem
Sau 10 năm thí điểm, Quỹ bảo toàn hỗ trợ Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã chính thức đi vào hoạt động năm 2014. Sau hơn 7 năm, Quỹ bảo toàn hỗ trợ QTDND vừa hoạt động, vừa điều chỉnh bổ sung các quy định nhằm ngày càng hoàn thiện hoạt động.
Kinh nghiệm phá vỡ rào cản phát triển ngân hàng số của các ngân hàng quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Kinh nghiệm phá vỡ rào cản phát triển ngân hàng số của các ngân hàng quốc tế và bài học đối với Việt Nam
30/08/2022 1.812 lượt xem
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự xuất hiện của các công ty công nghệ tài chính (Fintech) dẫn tới các ngân hàng thương mại (NHTM) phải đưa ra các mô hình kinh doanh mới đảm bảo tính cạnh tranh, tăng cường kết nối, cập nhật công nghệ, phục vụ các nhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng. T
Kinh tế khu vực châu Âu tăng trưởng ngoài kỳ vọng nhưng có xu hướng yếu đi và đối mặt với nguy cơ suy thoái
Kinh tế khu vực châu Âu tăng trưởng ngoài kỳ vọng nhưng có xu hướng yếu đi và đối mặt với nguy cơ suy thoái
29/08/2022 2.888 lượt xem
Dữ liệu về tăng trưởng GDP quý II/2022 của khu vực đồng tiền chung châu Âu (Euro) đã khiến nhiều nhà kinh tế khá bất ngờ, với mức tăng theo quý là 0,7%, cao hơn mức 0,5% của quý I/2022 và cao hơn so với mức dự báo chỉ tăng 0,2%. Đây là mức tăng trưởng theo quý cao nhất trong 3 quý vừa qua, được hỗ trợ bởi sự mở cửa trở lại của ngành dịch vụ và du lịch, sự nới lỏng về các hạn chế liên quan đến dịch Covid-19 (Đồ thị 1). Tây Ban Nha, Ý và Pháp có mức tăng trưởng khá cao lần lượt ở mức 1,1%, 1% và 0,5%.
Ngân hàng kỹ thuật số tại Singapore và liên hệ Việt Nam
Ngân hàng kỹ thuật số tại Singapore và liên hệ Việt Nam
23/08/2022 4.044 lượt xem
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã trở thành cơ hội cho tất cả các ngành, nghề trong xã hội có điều kiện tận dụng và phát triển. Là thời đại của công nghệ số, nhiều lĩnh vực đã bắt đầu quá trình chuyển đổi, tức thực hiện quá trình thay đổi từ cách thức hoạt động truyền thống sang việc áp dụng các ứng dụng của khoa học, công nghệ để vận hành và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp một cách tự động nhưng vẫn đạt hiệu quả.
Kinh nghiệm quản lý chuyển đổi số ngành Ngân hàng tại một số quốc gia châu Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Kinh nghiệm quản lý chuyển đổi số ngành Ngân hàng tại một số quốc gia châu Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam
15/08/2022 4.722 lượt xem
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm quản lý chuyển đổi số ngành tài chính, ngân hàng của bốn nền kinh tế ở châu Á, bao gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc. Trên cơ sở những kinh nghiệm cùng với một số vấn đề tồn tại trong giai đoạn đầu số hóa ngành Ngân hàng tại Việt Nam, bài viết đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam trong việc thúc đẩy và phát triển chuyển đổi số ngành Ngân hàng.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.520

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.500

Vàng SJC 5c

66.500

67.520

Vàng nhẫn 9999

53.000

54.000

Vàng nữ trang 9999

52.800

53.600


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.627 24.857 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.655 24.855 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.645 24.856 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.855 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.855 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.620 24.857 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.700 24.853 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.855 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.857 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?