Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 3.579 lượt xem
1. Triển vọng kinh tế toàn cầu  
 
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều. Mặc dù, nền kinh tế đang phục hồi trở lại từ đầu năm 2023 và lạm phát giảm so với mức đỉnh năm 2022, vẫn còn quá sớm để chúng ta cảm thấy yên tâm. Các hoạt động kinh tế vẫn chưa đạt được trạng thái như trước đại dịch Covid-19, đặc biệt tại các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển, đồng thời, có sự khác biệt ngày càng lớn giữa các khu vực. Có rất nhiều lí do kìm hãm kinh tế phục hồi, ví dụ như từ hậu quả lâu dài của đại dịch Covid-19, những biến động địa chính trị và sự phân chia khu vực kinh tế ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, một số lí do khác có tính chất chu kì hơn, bao gồm tác động của việc chính sách tiền tệ thắt chặt cần thiết để giảm lạm phát, giảm hỗ trợ tài chính trong bối cảnh nợ công cao và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ chậm lại, từ 3,5% vào năm 2022, 3,0% vào năm 2023 xuống còn 2,9% vào năm 2024. Nền kinh tế thế giới có thể sẽ bình ổn sau chu kì thắt chặt tiền tệ mạnh mẽ nhất trong nhiều năm, mặc dù có rất nhiều rủi ro. Tác động trễ của việc một số ngân hàng trung ương thắt chặt cung tiền có thể nhận thấy rõ ở các nền kinh tế phát triển, với tốc độ tăng trưởng trung bình chậm lại, được dự báo khoảng 1% vào năm 2024.
 
Ngược lại, tốc độ tăng trưởng của châu Á trong năm 2024 dự kiến sẽ đạt tới 4,9%, trở thành khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Mặc dù tăng trưởng của Trung Quốc có thể không nổi bật, nhưng lĩnh vực xuất khẩu và du lịch được cải thiện sẽ thúc đẩy nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ hơn ở các quốc gia châu Á khác. Đặc biệt ở Ấn Độ, tốc độ tăng trưởng được kì vọng sẽ tăng lên sau bầu cử. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Đông và châu Phi đang được cải thiện. Các quốc gia Ả Rập như: Arab Saudi và UAE sẽ tiếp tục đa dạng hóa nền kinh tế, mặc dù nhu cầu tiêu thụ dầu thô trên toàn cầu được dự báo sẽ đạt mức cao nhất mọi thời đại trong năm 2024. 
 
Lạm phát toàn cầu được dự báo sẽ giảm dần, từ 8,7% năm 2022, 6,9% năm 2023 xuống còn 5,8% năm 2024. Tuy nhiên, dự báo cho năm 2024 được điều chỉnh tăng 0,6 điểm phần trăm và thế giới có thể sẽ không đạt mức lạm phát mục tiêu cho tới năm 2025. Lạm phát kéo dài và những vấn đề địa chính trị là những rủi ro đối với triển vọng phục hồi toàn cầu. Những biến động địa chính trị, căng thẳng Mỹ - Trung Quốc và cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào tháng 11/2024 là những tác nhân chính gây ra rủi ro địa chính trị và chính trị, trong khi tình hình phân chia khu vực kinh tế ngày càng gia tăng. Về mặt lạm phát, trong khi các chính phủ đang liên tục nỗ lực giảm bớt áp lực giá cả, tuy nhiên, chưa rõ liệu lạm phát có thể chậm lại một cách bền vững hay không. Lạm phát cơ bản vẫn duy trì ở mức cao tại một số thị trường. Các yếu tố khác như thâm hụt tài chính và chi phí chuyển đổi sang các nguồn năng lượng tái tạo có thể khiến lạm phát cao hơn so với giai đoạn trước đại dịch Covid-19. Giá dầu và xung đột địa chính trị cũng là lí do gây ra rủi ro lạm phát tăng cao.
 
Theo quan điểm của tác giả, chỉ số giá tiêu dùng nhìn chung sẽ giảm tốc vào năm 2024 ở hầu hết các nền kinh tế chủ chốt. Các hiệu ứng cơ sở, lạm phát giá năng lượng giảm gần đây và tác động trễ của việc thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ giúp làm giảm áp lực giá cả. Tuy nhiên, ở nhiều thị trường, ảnh hưởng của điều kiện thời tiết El Niño có nguy cơ làm tăng giá lương thực.
 
Giá dầu là nguyên nhân chính khiến rủi ro lạm phát tăng cao. Giá dầu Brent được nhận định sẽ đạt trung bình 98 USD/thùng vào năm 2024, tăng lên 109 USD/thùng vào năm 2025. Bất chấp kì vọng tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm nhẹ vào năm 2024, mức tăng của giá dầu vẫn rất đáng kể. Theo dự báo, nhu cầu sử dụng dầu toàn cầu vẫn ở mức cao, cùng với tăng trưởng vững chắc ở châu Á và đạt mức cao nhất mọi thời đại là 104 triệu thùng/ngày vào tháng 8/2024. Tóm lại, những biến đổi về khí hậu và địa chính trị có thể khiến giá lương thực và năng lượng tăng cao.
 
2. Triển vọng kinh tế vĩ mô và ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2024: Những khó khăn, thách thức đi qua, dấu hiệu phục hồi tích cực 
 
Về cơ bản, năm 2023 là một năm đầy thách thức mà Việt Nam và toàn bộ nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt. Những biến động kinh tế toàn cầu đã tác động đáng kể đến Việt Nam như tăng trưởng kinh tế chậm lại, áp lực lên tỉ giá USD/VND, lạm phát cao hơn gây ra thách thức và áp lực cho ngành Ngân hàng Việt Nam.
 
Ngân hàng Standard Chartered dự báo Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP 6,7% trong năm 2024 (6,2% trong nửa đầu năm 2024 và 6,9% trong nửa cuối năm 2024); lạm phát sẽ tăng lên 5,5% vào năm 2024 từ mức 3,25% vào năm 2023, tăng trưởng kinh tế trung bình là 6,5 - 7,0% trong giai đoạn 2021 - 2025. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng khoảng 15% vào năm 2024 là khả thi sau mức tăng trưởng tín dụng 13,71% vào năm 2023.
 
Theo số liệu thống kê, doanh số bán lẻ và khối lượng sản xuất công nghiệp của năm 2023 duy trì tăng trưởng mạnh mẽ dù có dấu hiệu chững lại vào thời điểm cuối năm; các khoản đầu tư vào sản xuất và xây dựng bắt đầu đóng góp vào tăng trưởng chung. Tăng trưởng GDP năm 2023 ở mức 5,05% nhờ quý IV/2023 tăng trưởng vững chắc đạt 6,72% so với cùng kì năm 2022. Dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đang phục hồi mạnh mẽ. Năm 2023, vốn FDI được giải ngân tăng 3,5% so với cùng kì năm 2022, đạt khoảng 23,2 tỉ USD, trong khi vốn FDI cam kết tăng 32% so với cùng kì đạt khoảng 37 tỉ USD. Dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam có thể tăng cao hơn, qua đó, đóng góp chung vào tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2024.
 
Việt Nam có triển vọng phục hồi và tăng trưởng kinh tế đầy hứa hẹn vào năm 2024. Ngành sản xuất của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội phát triển từ việc chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, Việt Nam có lợi thế rất lớn để nắm bắt hoạt động sản xuất đang được chuyển dịch ra khỏi Trung Quốc do giá lao động tăng và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, đặc biệt khi nước này mở rộng sang các lĩnh vực sản xuất phức tạp hơn như điện tử. Theo Bộ Công thương, tính đến tháng 8/2023, Việt Nam đã kí kết và thực thi 19 hiệp định thương mại tự do (FTA). Phần lớn các FTA đã phát huy tác dụng, nâng cao vị thế thương hiệu hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế, qua đó, cho phép Việt Nam tận dụng các luồng thương mại gia tăng. Ngoài ra, Việt Nam cũng có lợi thế với dân số khoảng 100 triệu người và lực lượng lao động lên tới 56 triệu người, cao thứ hai trong ASEAN sau Indonesia; chi phí lao động tương đối thấp và có vị trí địa lí thuận lợi.
 
Ngành sản xuất đang ngày càng mở rộng, là trọng tâm của nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đang vươn lên là một quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực điện tử, dệt may và các ngành công nghiệp khác, đồng thời, sẵn sàng củng cố vị thế là trung tâm sản xuất được lựa chọn trên thế giới vào năm 2024, thu hút thêm nguồn vốn FDI khi các công ty lớn tìm kiếm quốc gia để đặt cơ sở sản xuất. Xu hướng này dự kiến sẽ đóng góp đáng kể vào sản lượng công nghiệp và sản lượng xuất khẩu.
 
Cách tiếp cận chủ động của Việt Nam trong các hiệp định thương mại quốc tế tiếp tục mang lại những lợi ích. Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã mở ra những cánh cửa mới cho các doanh nghiệp Việt Nam. Các hiệp định này góp phần giảm bớt các rào cản thương mại và mở rộng tiếp cận thị trường, là công cụ thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế.
 
Để tận dụng được các cơ hội này, Việt Nam nên tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, nơi tỉ lệ lấp đầy cao và giá thuê tăng. Việt Nam cần tích cực cải thiện cơ sở hạ tầng (đặc biệt là logistics) để hưởng lợi từ việc dịch chuyển chuỗi cung ứng. Do sự tăng trưởng nhanh chóng trong lĩnh vực sản xuất nên chất lượng không khí ở Việt Nam không cao. Vì thế, cần có lộ trình rõ ràng để giảm lượng khí thải carbon giúp tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu và thu hút FDI của Việt Nam.
 
Phát triển bền vững và công nghệ hóa là những ưu tiên chiến lược của Chính phủ Việt Nam với trọng tâm cam kết đạt được mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 và số hóa với Chương trình Chuyển đổi số quốc gia vào năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Tại Hội nghị COP26 vào tháng 11/2020, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đưa ra cam kết về việc Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Đây là một thách thức rất lớn, nhưng đồng thời, cũng là cơ hội để Việt Nam thực hiện cải cách mạnh mẽ, tái cơ cấu nền kinh tế hướng tới tăng trưởng xanh và bền vững, tăng dần tỉ trọng năng lượng sạch và năng lượng tái tạo trong việc phát triển nền kinh tế, đồng thời, đảm bảo thực thi tiêu chuẩn ESG. Trong quá trình này, sự đồng hành và chia sẻ của các tổ chức quốc tế, tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài có ý nghĩa quan trọng, không chỉ ở góc độ tư vấn chính sách, chia sẻ kinh nghiệm cho các cơ quan quản lí nhà nước mà còn trong việc hỗ trợ nguồn tài chính và nguồn vốn trực tiếp cho các nhà đầu tư dự án xanh hướng tới phát triển bền vững. Thỏa thuận Hợp tác chuyển dịch năng lượng công bằng (Just Energy Transition Partnership - JETP) và Kế hoạch huy động nguồn lực được Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính công bố tại Hội nghị COP28 sẽ đảm bảo việc hiện thực hóa kế hoạch huy động nguồn lực thành các cơ hội đầu tư và tuân thủ ESG, từ đó, thực sự mang lại tác động cho nền kinh tế Việt Nam.
 
Ngành Ngân hàng Việt Nam sẽ có những bước phát triển tích cực trong năm 2024. Chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thực hiện góp phần tạo môi trường kinh tế ổn định và kiểm soát lạm phát. Theo nhận định của chúng tôi, lãi suất tái cấp vốn có thể được giữ ở mức 4,5% cho đến cuối quý III/2024 trước khi tăng 50 điểm cơ bản trong quý IV/2024, tuy nhiên, tỉ lệ này có thể giảm. Những nỗ lực kiểm soát lạm phát và đảm bảo ổn định tiền tệ đóng vai trò rất quan trọng nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế.  Sự ổn định của ngành Ngân hàng cho thấy cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và phát triển. 
 
Bối cảnh phương tiện thanh toán phát triển nhanh chóng, cùng với sự phát triển của nền tảng thanh toán qua bên thứ ba và Fintech cũng như môi trường pháp lí thay đổi sẽ tiếp tục tạo ra nhiều thách thức cho hoạt động ngân hàng, đồng thời sẽ mang đến nhiều cơ hội hợp tác và phát triển. Thực tế cho thấy, thông qua việc đổi mới liên tục và tăng cường mở rộng hợp tác sẽ tạo ra sự kết nối và hội nhập rộng rãi hơn, giúp Việt Nam đạt được sự tăng trưởng bền vững và mạnh mẽ trong tương lai.
 
3. Một số khuyến nghị
Đối với Chính phủ
 
Một là, ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng: Đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm (đặc biệt là logistics) để tận dụng cơ hội từ việc dịch chuyển chuỗi cung ứng, góp phần tạo ra nhiều việc làm mới và tăng cường kết nối trong nước. 
 
Hai là, thúc đẩy đổi mới và công nghệ hóa: Hỗ trợ các sáng kiến thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ, khuyến khích đổi mới và tăng cường áp dụng công nghệ số để tăng năng suất và khả năng cạnh tranh.

Ba là, phát triển bền vững: Thiết lập khuôn khổ pháp lí và cơ chế chính sách thúc đẩy thực thi ESG nhằm tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững, đồng thời, đạt được mức phát thải carbon ròng bằng "0" vào năm 2050.

Bốn là, tăng cường giáo dục và đào tạo kĩ năng: Tập trung cải thiện hệ thống giáo dục và các chương trình đào tạo nghề để trang bị cho lực lượng lao động những kĩ năng cần thiết cho các ngành nghề, lĩnh vực mới nhằm bắt kịp xu hướng trên thế giới, giúp cho lực lượng lao động có khả năng cạnh tranh và thích ứng cao hơn.
 
Năm là, tiếp tục nỗ lực thúc đẩy tài chính toàn diện nhằm đảm bảo một bộ phận lớn dân số có thể tiếp cận các dịch vụ và tín dụng ngân hàng, thúc đẩy sự tham gia kinh tế và giảm bất bình đẳng về thu nhập; tăng cường mạng lưới an sinh xã hội để hỗ trợ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, đảm bảo phát triển kinh tế mang lại lợi ích cho tất cả các thành phần xã hội.

Sáu là, hợp tác khu vực: Tăng cường hợp tác với các quốc gia trong khu vực và các đối tác quốc tế để thúc đẩy phát triển kinh tế, thương mại và ổn định khu vực.
 
Đối với NHNN
 
Một là, tăng cường khuôn khổ pháp lí và cơ chế chính sách, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và từng bước tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Các ngân hàng Việt Nam cần cam kết đồng hành, phối hợp cùng NHNN khi được đề nghị hỗ trợ, hoặc khi có các vấn đề mới phát sinh.

Hai là, về chuyển đổi xanh, NHNN cần tiếp tục đẩy mạnh huy động nguồn lực thúc đẩy tài chính xanh - bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. 

Ba là, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số. Các ngân hàng thương mại cần tích cực tham gia vào việc phát triển chiến lược số hóa toàn diện, phát triển các hệ thống thanh toán hiệu quả, thúc đẩy khả năng tiếp cận tài chính mạnh mẽ và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. 

Bốn là, giám sát và điều hành chính sách chủ động, linh hoạt; thường xuyên đánh giá tác động của các chính sách được thực hiện, thu thập phản hồi từ các ngân hàng thương mại và các bên liên quan, đồng thời, linh hoạt điều chỉnh các chính sách dựa trên các tác động kinh tế và xã hội.
 
Triển vọng trung hạn của nền kinh tế Việt Nam rất hứa hẹn nhờ những chính sách cởi mở và ổn định. Việt Nam đang lấy lại động lực phục hồi và phát triển với các triển vọng bên ngoài được cải thiện và những dấu hiệu phục hồi kinh tế vĩ mô tích cực. Ngân hàng Standard Chartered cam kết hợp tác với Chính phủ Việt Nam và NHNN để đạt được một nền kinh tế phát triển bền vững.

Michele Wee
Tổng Giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Phát huy vai trò của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay
Phát huy vai trò của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay
19/06/2024 106 lượt xem
Phát huy vai trò báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thời gian qua đã được Đảng, Nhà nước, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan báo chí trong cả nước và đội ngũ những người làm báo quan tâm, chăm lo, thực hiện; từng bước đề ra nhiều nội dung, giải pháp, phương thức, phát huy hiệu quả vai trò của báo chí cách mạng.
Vai trò điều tiết của đa dạng hóa thu nhập đến mối quan hệ giữa các yếu tố đặc thù với khả năng sinh lời của ngân hàng
Vai trò điều tiết của đa dạng hóa thu nhập đến mối quan hệ giữa các yếu tố đặc thù với khả năng sinh lời của ngân hàng
17/06/2024 159 lượt xem
Là bộ phận quan trọng nhất của hệ thống tài chính, các ngân hàng đóng vai trò trung gian trong việc chuyển vốn từ bên thừa sang bên thiếu vốn.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
13/06/2024 316 lượt xem
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường.
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z
11/06/2024 369 lượt xem
Dịch vụ mua trước trả sau - MTTS (Buy Now Pay Later - BNPL) dự kiến sẽ tăng trưởng mạnh trong tương lai nhờ những tiện ích nó mang lại cho người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng Gen Z.
Ảnh hưởng của bất ổn kinh tế đến chi phí vay ngân hàng
Ảnh hưởng của bất ổn kinh tế đến chi phí vay ngân hàng
10/06/2024 356 lượt xem
Sử dụng dữ liệu từ 3.321 ngân hàng tại 113 quốc gia trong giai đoạn 2001 - 2022, nghiên cứu này phân tích tác động của bất ổn kinh tế đến chi phí vay ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bất ổn kinh tế làm tăng chi phí vay ngân hàng, xác nhận rằng việc ngân hàng tăng chi phí cho vay để bù đắp rủi ro có thể gặp phải trong giai đoạn bất ổn kinh tế tăng cao.
Tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tới lòng trung thành của khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ  ngân hàng số
Tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tới lòng trung thành của khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ ngân hàng số
05/06/2024 411 lượt xem
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ ngân hàng số.
Tài chính toàn diện và hiệu quả của chính sách tiền tệ: Phân tích thực nghiệm ở Việt Nam
Tài chính toàn diện và hiệu quả của chính sách tiền tệ: Phân tích thực nghiệm ở Việt Nam
03/06/2024 692 lượt xem
Bài viết sử dụng một mô hình đơn giản để phân tích mối quan hệ giữa tài chính toàn diện (Financial Inclusion - FI) và chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2023.
Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam
Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam
30/05/2024 767 lượt xem
Để đảm bảo phát triển bền vững kinh tế biển, cần có chiến lược khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường biển.
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho tài chính xanh, tín dụng xanh trong các ngân hàng tại Việt Nam
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho tài chính xanh, tín dụng xanh trong các ngân hàng tại Việt Nam
23/05/2024 938 lượt xem
Bài viết đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng tài chính tín dụng xanh tại Việt Nam. Đối với hệ thống pháp luật, các quy định, định nghĩa cụ thể về các danh mục, ngành, lĩnh vực xanh vẫn chưa được thống nhất để có thể áp dụng chung trên cả nước.
Bức tranh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024: Động lực bứt phá khỏi những giới hạn
Bức tranh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024: Động lực bứt phá khỏi những giới hạn
21/05/2024 1.055 lượt xem
Bối cảnh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024 là một bức tranh phức tạp, đan xen giữa những bất ổn còn dai dẳng và những triển vọng mới tích cực...
Các bước chuẩn bị để đàm phán hợp đồng trong kinh doanh
Các bước chuẩn bị để đàm phán hợp đồng trong kinh doanh
17/05/2024 1.732 lượt xem
Đàm phán hợp đồng trong hoạt động kinh doanh là một quy trình gồm nhiều bước trong đó có bước chuẩn bị đàm phán. Đây là một bước có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả của đàm phán trong nhiều trường hợp. Phạm vi các bước chuẩn bị khá rộng và có thể thay đổi theo từng hợp đồng cần đàm phán. Tuy nhiên, một số yếu tố liên quan đến giai đoạn này có thể áp dụng chung cho phần lớn các hợp đồng, trong đó có cả các hợp đồng được xác lập trong lĩnh vực ngân hàng.
Thúc đẩy tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
Thúc đẩy tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
15/05/2024 1.029 lượt xem
Tài chính toàn diện ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển, ổn định kinh tế của mỗi quốc gia. Nghiên cứu thực hiện phân tích thực trạng thúc đẩy tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) trên các góc độ: Nhà cung cấp dịch vụ (NHCSXH); người sử dụng dịch vụ (khách hàng của NHCSXH) và một số nhân tố khác.
Lạm phát Việt Nam năm 2023 - 2024 và một số khuyến nghị
Lạm phát Việt Nam năm 2023 - 2024 và một số khuyến nghị
11/05/2024 7.584 lượt xem
Kinh tế Việt Nam năm 2023 và các tháng đầu năm 2024 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức, đã tác động tiêu cực tới quá trình phục hồi, phát triển kinh tế và ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
Thực tiễn báo cáo ESG của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Thực tiễn báo cáo ESG của hệ thống ngân hàng Việt Nam
06/05/2024 1.948 lượt xem
Bài viết này đánh giá thực trạng ngân hàng trong việc thực thi phát triển bền vững và công bố báo cáo ESG (môi trường, xã hội, quản trị), từ đó, đưa ra một số khuyến nghị điều chỉnh để hệ thống ngân hàng Việt Nam thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao trong hành trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 của Việt Nam.
Dự đoán rủi ro tín dụng sử dụng học sâu
Dự đoán rủi ro tín dụng sử dụng học sâu
03/05/2024 1.014 lượt xem
Việc đánh giá và dự đoán khả năng trả nợ của khách hàng là rất quan trọng để ngân hàng giảm thiểu rủi ro. Vì lí do này, các ngân hàng thường xây dựng hệ thống xử lí yêu cầu cho vay dựa trên tình trạng của khách hàng, chẳng hạn như tình trạng việc làm, lịch sử tín dụng...
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

74.980

76.980

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

74.980

76.980

Vàng SJC 5c

74.980

77.000

Vàng nhẫn 9999

73.450

75.050

Vàng nữ trang 9999

73.350

74.350


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,221 25,471 26,605 28,064 31,481 32,819 156.24 165.36
BIDV 25,251 25,471 26,786 28,052 31,719 32,813 156.92 165.09
VietinBank 25,251 25,471 26,773 28,068 31,886 32,896 158.15 165.95
Agribank 25,270 25,471 26,744 28,047 31,626 32,796 157.51 165.28
Eximbank 25,210 25,471 26,827 27,748 31,813 32,808 158.51 163.96
ACB 25,230 25,471 26,819 27,739 31,881 32,842 157.91 164.14
Sacombank 25,263 25,471 27,040 27,801 32,059 32,769 159.46 164.47
Techcombank 25,277 25,471 26,665 28,022 31,468 32,803 154.21 166.62
LPBank 25,011 25,471 26,667 28,248 31,936 32,833 157.42 168.06
DongA Bank 25,270 25,471 26,840 27,700 31,780 32,830 156.40 164.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,30
3,60
4,30
4,40
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,60
2,60
2,90
3,80
3,80
4,50
4,50
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
2,00
2,00
2,30
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
2,90
3,10
3,20
4,00
4,00
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?