Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó
18/04/2023 4.093 lượt xem
Thuận lợi và khó khăn đối với doanh nghiệp

Năm 2023, Việt Nam có được những thuận lợi cơ bản từ đà phục hồi kinh tế ấn tượng của năm 2022. Đến nay, Việt Nam  nền kinh tế lớn thứ tư ASEAN và thứ 40 của thế giới, quy mô thương mại quốc tế nằm trong Top 20 của thế giới (đạt gần 740 t USD), là một trong những nền kinh tế được đánh giá là năng động và có độ mở cao nhất thế giới.

Theo báo cáo Chỉ số sẵn sàng trí tuệ nhân tạo (AI) của chính phủ (Government AI Readiness Index) năm 2022” do Oxford Insights (Vương quốc Anh) thực hiện, Việt Nam xếp hạng 55 toàn cầu và xếp thứ 6/10 trong ASEAN (tăng 7 bậc so với với năm 2021 theo xếp hạng trên thế giới là 62/160) về chỉ số sẵn sàng trí tuệ nhân tạo; xếp hạng này dựa theo 39 chỉ số trên ba trụ cột (chính phủ, trình độ công nghệ, hạ tầng và dữ liệu) với 10 khía cạnh thuộc nhóm cơ sở hạ tầng, tính sẵn sàng của dữ liệu, tính đại diện của dữ liệu, nguồn nhân lực, năng lực đổi mới, quy mô, khả năng thích ứng, năng lực kĩ thuật số, quản trị và đạo đức, tầm nhìn.
 


Thấu hiểu và chia sẻ cùng doanh nghiệp, ngân hàng luôn sẵn sàng cùng khách hàng vượt khó, phục hồi sản xuất, kinh doanh

Việt Nam còn được xếp thứ 30 trong bảng xếp hạng các quốc gia hùng mạnh nhất thế giới năm 2022 của tạp chí Mỹ, US News & World Report (US News), với GDP được ước tính là 363 t USD, GDP bình quân đầu người là 11.553 USD; Bảng xếp hạng “dựa trên điểm trung bình được tính từ năm yếu tố liên quan đến quyền lực của một quốc gia: Sự lãnh đạo, có ảnh hưởng kinh tế, chính trị, liên minh quốc tế mạnh và quân đội mạnh.

Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 7/2021, cả nước có khoảng 840nghìn doanh nghiệp đang hoạt động với đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, khẳng định giá trị thương hiệu vươn tầm ra khu vực và thế giới. Năm 2023, Chính phủ tiếp tục Chương trình phục hồi và các chương trình mục tiêu quốc gia, kiểm soát được sự ổn định vĩ mô, sự tăng trưởng cao của thị trường trong nước thông qua chỉ số tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,9% (loại trừ yếu tố giá tăng 10,3%) so cùng kì năm 2022. Việt Nam đang tiếp tục khai thác các cơ hội kinh tế gắn với việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới; Chỉ số hạnh phúc toàn cầu của Việt Nam tăng 12 bậc trong xếp hạng của Liên hợp quốc năm 2023.  

Tuy nhiên, Việt Nam cũng như nhiều nền kinh tế trên thế giới có nhiều khó khăn hơn từ  năm 2022. Những khó khăn nổi bật gắn với suy giảm tổng cầu tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế trên thế giới chậm lại (năm 2023, tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt 2,9% GDP theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đạt 2,6% theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đạt 2% theo Fitch Ratings và chỉ đạt 1,7% theo Ngân hàng Thế giới (WB), với mức tăng trưởng kinh tế của Thái Lan đạt 3,6%, Malaysia đạt 4,0%, Indonesia đạt 4,8%, Philippines đạt 5,4% và Việt Nam đạt 6,3%); áp lực lạm phát và nợ công, nợ xấu ở mức cao; tổng cầu thị trường thu hẹp, nhất là các thị trường lớn của Việt Nam. Giá một số mặt hàng chiến lược, nguyên vật liệu đầu vào không ổn định (90% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là để nhập nguyên liệu sản xuất); thị trường năng lượng và nhiều xung đột địa chính trị khu vực diễn biến bất thường và gây hệ lụy tiêu cực khó lường cho kinh tế mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp đối diện với tình trạng giảm sút đơn hàng, thu hẹp thị phần xuất khẩu và gia tăng các hàng rào kĩ thuật, kiểm soát chất lượng, xuất xứ sản phẩm xuất khẩu ngày càng nghiêm ngặt hơn; nhiều doanh nghiệp ghi nhận việc sụt giảm đơn hàng từ quý IV/2022, chỉ đảm bảo khoảng 35 - 50% năng lực sản xuất, những đơn hàng còn tồn cũng bị đối tác hoãn, giãn giao hàng và khó khăn dự kiến kéo dài hết quý II/2023.

Trong khi đó, cộng đồng doanh nghiệp đa phần là nhỏ và vừa, sức cạnh tranh và khả năng đổi mới sáng tạo không cao, lợi nhuận thấp, dễ bị tổn thương, phụ thuộc nhiều vào nguồn cung ngoại nhập; vốn vay tín dụng chịu lãi suất cao, sự trì trệ của thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và các chi phí không chính thức chậm cải thiện; nợ của nhiều doanh nghiệp đang tăng mạnh (cuối năm 2022, tổng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của các tổ chức tín dụng đạt khoảng 2,58 triệu tỉ đồng, tăng 24% so với năm 2021, chiếm tỉ trọng 21,2% tổng dư nợ đối với nền kinh tế và cao nhất trong 5 năm qua; 41 tổ chức tín dụng nắm giữ 274.000 tỉ đồng trái phiếu doanh nghiệp, trong đó, 117.016 tỉ đồng trong lĩnh vực bất động sản và dễ trở thành nợ xấu)... Thực tế khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải cắt giảm lao động, giờ làm, dẫn đến giảm động lực tăng trưởng kinh tế, tăng áp lực thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội.

Theo Tổng cục Thống kê, quý I/2023, GDP ước tính tăng 3,32% so với cùng kì năm trước (thấp hơn mức tăng cùng kì năm 2021 và năm 2022), ghi nhận mức tăng ở 58 địa phương và giảm ở 5 địa phương trên cả nước. Đặc biệt, đang có xu hướng suy giảm nhiều chỉ số kinh tế quan trọng như: Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý I/2023 giảm 0,82% so với cùng kì năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,37%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,9% so với cùng kì năm 2022 (cùng kì năm 2022 tăng 6,6%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2023 tăng 19,8% so với cùng thời điểm năm trước. Cả nước có gần 34 nghìn doanh nghiệp đăng kí thành lập mới, giảm 2% về số doanh nghiệp, giảm 34,1% về vốn đăng kí, giảm 32,8% vốn đăng kí bình quân và giảm 12,8% về số lao động, giảm 35,8% tổng số vốn đăng kí bổ sung vào nền kinh tế so với cùng kì năm 2022. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động cũng giảm 10% và tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt gần 57 nghìn doanh nghiệp, giảm 5,4% so với cùng kì năm 2022. Bình quân một tháng có gần 19 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tức ít hơn số gần 20,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường do tăng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (tăng 20,1%), ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể (tăng 13,1%) và hoàn tất thủ tục giải thể (tăng 6,5%). Đồng thời, có tới 38,5% số doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được hỏi đánh giá gặp khó khăn trong quý I/2023 so với quý IV/2022 và 20,6% số doanh nghiệp dự báo quý II/2023 sẽ khó khăn hơn quý I/2023. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng kí vào Việt Nam tính đến ngày 20/3/2023 (bao gồm vốn đăng kí cấp mới, vốn đăng kí điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài) đạt 5,45 tỉ USD, giảm tới 38,8% và FDI thực hiện cũng giảm so với cùng kì năm trước....

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 154,27 tỉ USD, giảm 13,3% so với cùng kì năm trước, trong đó xuất khẩu giảm 11,9%; nhập khẩu giảm 14,7% và xuất siêu 4,07 tỉ USD. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 5,44 tỉ USD, tăng 238,3%; nhập khẩu dịch vụ 5,66 tỉ USD, giảm 4,3%; nhập siêu dịch vụ là 216 triệu USD.

Ngoài ra, năm 2023, Việt Nam tiếp tục chịu sức ép lạm phát tiền tệ, lạm phát chi phí đẩy và lạm phát ngoại nhập cao. Quý I/2023, CPI bình quân tăng 4,18% so với cùng kì năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân tăng 5,01%. Trong khi tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế chỉ đạt 1,61% so cùng thời điểm năm 2022 tăng 4,03% (theo NHNN, tính đến ngày 28/3/2023, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 2,06% so với cuối năm 2022, tăng 11,7% so với cùng kì năm 2022. Đây là mức tăng thấp và chỉ cao hơn tốc độ tăng 3,21% của quý I/2021, thời kì cao điểm đại dịch Covid-19). Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội (giá hiện hành) ước đạt 583,1 nghìn tỉ đồng, tăng 3,7% so với cùng kì năm trước (vốn khu vực Nhà nước chiếm 26,2%, tăng 11,5%; khu vực ngoài Nhà nước chiếm 56,4%, tăng 1,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,4%, giảm 1,1%).
 
Những giải pháp cần có cho doanh nghiệp

Trong bối cảnh chung khó khăn đó, Quốc hội và Chính phủ đã chủ động kịp thời ban hành nhiều nghị quyết và biện pháp hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp. Bất cứ lúc nào, đặc biệt những lúc khó khăn, Chính phủ luôn thể hiện và khẳng định tinh thần đổi mới, liêm chính, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp, tất cả vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Tinh thần nói ít làm nhiều, nói đi đôi với làm, chú trọng hiệu quả, không phô trương hình thức, xem người dân và doanh nghiệp là chủ thể, là trung tâm phục vụ...

Một số chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp đã có kết quả tốt như chính sách cho vay doanh nghiệp (hoãn, giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí). Để bứt phá tăng tốc phát triển kinh tế đất nước và mỗi địa phương trong thời gian tới, cần tiếp tục miễn giảm thuế, phí, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, miễn giảm hoặc gia hạn, giãn đóng một số loại phí về bảo hiểm xã hội để giúp doanh nghiệp, người lao động vượt qua giai đoạn khó khăn hiện tại, bảo đảm ổn định hoạt động sản xuất - kinh doanh.

Từ ngày 03/4/2023, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chính thức giảm các loại lãi suất điều hành từ 0,3 - 0,5%/năm sau khi đã giảm 1%/năm các loại lãi suất điều hành (không bao gồm lãi suất tái cấp vốn) từ ngày 15/3/2023. Theo tinh thần Văn bản số 178/TTg-CN ngày 27/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc thúc đẩy và tháo gỡ thị trường bất động sản theo tinh thần của Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/ 2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững, NHNN đang khẩn trương triển khai thực hiện Chương trình tín dụng 120.000 tỉ đồng, chỉ đạo các ngân hàng thương mại cho chủ đầu tư và người mua nhà các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ vay với lãi suất ưu đãi; rà soát, phân loại dự án bất động sản để có các biện pháp xử lí phù hợp (như giãn nợ gốc, lãi vay, cơ cấu lại nợ…), đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng… và các dự án bất động sản, góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn tín dụng cho doanh nghiệp.

Thực tế đòi hỏi NHNN cần tiếp tục hướng đến mục tiêu giảm lãi suất để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, duy trì ổn định giá trị đồng tiền, cố gắng phấn đấu kiểm soát lạm phát, ổn định tỉ giá; chủ động sử dụng các nghiệp vụ thị trường mở, hạ lãi suất điều hành và một số mức lãi suất cho vay, hỗ trợ thanh khoản, khuyến khích các tổ chức tín dụng cải thiện mặt bằng lãi suất vay, nhanh chóng giải ngân cho các doanh nghiệp hội đủ các điều kiện hoặc vay và khả năng trả nợ. Theo nhiều chủ doanh nghiệp, để đầu tư mở rộng sản xuất, đón đầu nhu cầu thị trường dự kiến sẽ cải thiện từ quý III/2023 thì doanh nghiệp cần dòng vốn dài hạn 7 - 10 năm, với lãi suất không quá 10%/năm.

Bên cạnh đó, Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền các cấp cần tiếp tục nỗ lực, đồng bộ đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tăng cường đối thoại, tham vấn ý kiến, đồng hành, lắng nghe, chia sẻ và quyết liệt giải quyết, xử lí những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp, đẩy lùi tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà, khơi dậy nội lực, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo khuyến khích mạnh mẽ sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân trong nước, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp công nghệ thông tin, hình thành các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế, bảo đảm chất lượng, quy định về truy xuất nguồn gốc; tăng cường kết nối cung - cầu lao động, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; tăng cường thu hút các tập đoàn đa quốc gia và liên kết giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước trong phát triển chuỗi cung ứng quốc gia và quốc tế.

Các doanh nghiệp chủ động đổi mới mô hình sản xuất - kinh doanh, tái cấu trúc theo hướng quản trị hiện đại, phát huy tinh thần tự tôn dân tộc, tuân thủ đúng pháp luật, đạo đức và văn hóa kinh doanh; nâng cao bản lĩnh và năng lực phản ứng thị trường, chủ động nắm bắt cơ hội và các phương án thích ứng với những biến động nhanh, khó lường trên thị trường hiện nay, tránh để doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất kiểm soát; xây dựng uy tín và bảo vệ giá trị thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam.

Đồng thời, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các Hiệp hội, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam, không chỉ trong tham gia xây dựng pháp luật, chính sách, phối hợp với các cơ quan liên quan để thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, mà còn trong chủ động nghiên cứu, đánh giá và dự báo thời cơ, thách thức, xu hướng thị trường, công nghệ và yêu cầu phát triển bền vững, để kịp thời chia sẻ, hướng dẫn, hỗ trợ tư vấn cho các hội viên; mở rộng đội ngũ và tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp hội viên; đại diện quyền lợi cho các hội viên trong các quan hệ trong nước và quốc tế; làm cầu nối, vận động chính sách, duy trì đối thoại với Chính phủ và quan hệ với các cơ quan, tổ chức trong nước, nước ngoài. Doanh nghiệp khỏe, doanh nhân khỏe, thì cả hệ thống sẽ phát triển bền vững.
 
TS. Nguyễn Minh Phong (Hà Nội)
 
 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Dữ liệu thống kê trong phục vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Dữ liệu thống kê trong phục vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
28/02/2024 1.456 lượt xem
Trải qua hơn 10 năm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, công tác thống kê tiền tệ phục vụ điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có nhiều bước tiến đáng kể.
Nhận định tác động của chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2023 đối với nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị
Nhận định tác động của chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2023 đối với nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị
24/02/2024 1.560 lượt xem
Năm 2023 vừa qua đã chứng kiến những biến động mạnh mẽ trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) trên thế giới, nổi bật là việc các ngân hàng trung ương (NHTW) liên tục tăng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát.
Chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
13/02/2024 1.960 lượt xem
Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các nước đã thừa nhận sự cần thiết của chính sách an toàn vĩ mô (ATVM) trong ổn định tài chính và đặt chính sách ATVM vào vị trí trung tâm của sự tương tác giữa các chính sách kinh tế vĩ mô với chính sách an toàn vi mô.
Chính sách tài khóa năm 2023 góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Chính sách tài khóa năm 2023 góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
11/02/2024 1.888 lượt xem
Nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2023 được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp, khó dự báo. Căng thẳng địa chính trị, tranh chấp giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột giữa Nga - Ukraine và Israel - Hamas diễn biến bất ngờ, lạm phát và giá nhiên liệu tăng cao khiến đà phục hồi của kinh tế thế giới chậm lại.
Phát triển lành mạnh tín dụng tiêu dùng, hạn chế tín dụng đen
Phát triển lành mạnh tín dụng tiêu dùng, hạn chế tín dụng đen
07/02/2024 1.987 lượt xem
Thời gian qua, tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20%/năm, từng bước góp phần giúp người dân, đặc biệt là những người yếu thế tiếp cận được các dòng vốn chính thức; hạn chế tình trạng tín dụng đen.
Bài toán tín dụng năm 2023 và lời giải cho năm 2024
Bài toán tín dụng năm 2023 và lời giải cho năm 2024
31/01/2024 2.253 lượt xem
Năm 2023 đã đi qua với nhiều câu chuyện kinh tế nổi bật và một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm rất lớn trong hoạt động của ngành Ngân hàng là vấn đề tăng trưởng tín dụng.
Triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Kết quả và giải pháp, định hướng thời gian tới
Triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Kết quả và giải pháp, định hướng thời gian tới
29/01/2024 2.138 lượt xem
Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 (ban hành theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ - Quyết định 1813) được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đầu mối phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai thực hiện được hơn hai năm, đã góp phần tạo sự chuyển biến sâu, rộng về TTKDTM trong nền kinh tế, thúc đẩy sử dụng các phương tiện, dịch vụ TTKDTM.
Chính sách tài khóa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô năm 2023 và một số khuyến nghị năm 2024
Chính sách tài khóa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô năm 2023 và một số khuyến nghị năm 2024
11/01/2024 2.648 lượt xem
Năm 2023, kinh tế toàn cầu phải đối mặt với nhiều rủi ro, bất ổn do tình trạng suy thoái và lạm phát tăng cao lan rộng ở nhiều nước và khu vực; xu hướng thắt chặt tiền tệ thông qua lãi suất cao, các căng thẳng địa chính trị và dư địa tài khóa ngày càng thu hẹp… đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phục hồi kinh tế toàn cầu.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với cổ phần là tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với cổ phần là tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng
19/12/2023 3.928 lượt xem
Để đảm bảo quyền thu hồi nợ, các tổ chức tín dụng (TCTD) quy định khoản vay phải có tài sản bảo đảm (TSBĐ). Đối với doanh nghiệp, TSBĐ cho khoản vay khá đa dạng, trong đó cổ phần cũng được xác định là một loại TSBĐ. Tuy nhiên, hiện nay, việc thi hành án cổ phần còn nhiều hạn chế, vướng mắc do pháp luật hiện hành thiếu vắng các quy định cụ thể. Bài viết tập trung phân tích vấn đề thi hành án cổ phần là đối tượng trong giao dịch bảo đảm thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Giải pháp hoàn thiện các chính sách, kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam
Giải pháp hoàn thiện các chính sách, kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam
16/12/2023 3.161 lượt xem
Việt Nam đặt mục tiêu giảm phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, trên cơ sở chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, xây dựng kinh tế carbon thấp, kinh tế tuần hoàn.
Giải pháp tăng cường phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
Giải pháp tăng cường phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
24/11/2023 4.567 lượt xem
Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, các hành vi rửa tiền và tài trợ khủng bố cũng gia tăng, gây nhiều hệ lụy tiêu cực. Đây là cuộc chiến thực sự và đòi hỏi Việt Nam cần liên tục cập nhật, nhận diện và hoàn thiện các giải pháp đồng bộ nhằm ngăn chặn kịp thời và hiệu quả các hành vi này, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp
Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp
17/11/2023 3.524 lượt xem
Doanh nghiệp nhà nước luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam. Sau hơn 35 năm đổi mới, mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam
Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam
07/11/2023 3.531 lượt xem
Bảo lãnh là một trong 09 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Dân sự và được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực xã hội, nhất là trong các hoạt động của tổ chức tín dụng. Ngày 30/9/2022, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 11/2022/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư số 11/2022/TT-NHNN), trong đó, tại Điều 9 có điểm mới nổi bật là hoạt động bảo lãnh điện tử.
Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”
Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”
28/10/2023 3.172 lượt xem
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 7/2023, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Janet Yellen cho biết: “Bộ Tài chính Hoa Kỳ ghi nhận các thành tựu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong quá trình hiện đại hóa công tác điều hành chính sách tiền tệ, cụ thể là cơ chế điều hành tỉ giá. Tỉ giá đã trở nên linh hoạt và minh bạch hơn. Có thể nói, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ tỉ giá đang được phát huy tốt, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Hai năm qua, kinh tế thế giới đã trải qua các cú sốc lớn và theo quan điểm của tôi, việc điều hành tỉ giá linh hoạt hơn đã giúp Việt Nam vượt qua những cú sốc này”.
Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế
Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế
18/10/2023 3.688 lượt xem
Trong 9 tháng đầu năm 2023, bám sát chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?