Nâng cao vai trò của Ủy ban kiểm toán và kiểm toán nội bộ trong công ty cổ phần
18/06/2024 1.182 lượt xem

Tóm tắt: Hoạt động kiểm toán nội bộ (KTNB) trên thị trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giám sát chất lượng thông tin và nâng cao tính minh bạch của doanh nghiệp, đặc biệt là công ty cổ phần. Những vi phạm nội bộ, sai sót trong công tác kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước có thể xảy ra bởi những rủi ro trong xác suất chọn mẫu kiểm toán và thời gian cho cuộc kiểm tra thường không quá dài. Là một trong ba loại hình kiểm toán tại Việt Nam, mô hình Ủy ban kiểm toán với chức năng KTNB được phát triển với kỳ vọng sẽ nâng cao sự khách quan và khắc phục được những hạn chế còn tồn tại của hai loại hình kiểm toán.

Từ khóa: Công ty cổ phần, KTNB, Ủy ban kiểm toán.

ENHANCING THE ROLE OF THE AUDIT COMMITTEE AND INTERNAL AUDIT
IN JOINT STOCK COMPANIES

Abstract: Internal audit activities in the market play an extremely important role in monitoring information quality and improving the transparency of businesses, especially joint stock companies. Internal violations and errors in independent auditing and state auditing can occur due to risks in the probability of selecting audit samples and time for the inspection is usually not long enough. As one of three types of auditing in Vietnam, the Audit Committee model with an internal audit function was developed with the expectation that it will enhance objectivity and overcome the remaining limitations of the two types of audits mentioned above.

Keywords: Audit committee, internal audit, joint stock company.


1. Sự cần thiết của hoạt động tổ chức kiểm toán trong công ty cổ phần

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán giữ vai trò quan trọng đối với sự lành mạnh về thông tin công bố trên thị trường tài chính nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Mục tiêu của kiểm toán là cải thiện thông tin mà những người tham gia thị trường tài chính sử dụng, từ đó nâng cao chất lượng kiểm toán và thúc đẩy hoạt động kiểm toán với chất lượng báo cáo ngày một tốt hơn. Đối với nội bộ doanh nghiệp, Ủy ban kiểm toán đóng một vai trò quan trọng trong việc giám sát chất lượng báo cáo tài chính và rà soát hệ thống vận hành doanh nghiệp, bên cạnh sự đảm bảo tính trung thực, độc lập và khách quan của các bên liên quan khi tham gia hoạt động doanh nghiệp.

Chất lượng của hoạt động kiểm toán không chỉ ảnh hưởng bởi những kiến thức, kinh nghiệm của người làm kiểm toán, mà còn ảnh hưởng đến uy tín và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên nội bộ. Đối với nghề KTNB, sự không chắc chắn và các rủi ro đã làm gia tăng sự phức tạp trong công tác kiểm toán nói chung và chất lượng báo cáo kiểm toán nói riêng. Trong thời gian gần đây, không ít những “đại án” phải đưa ra xét xử tại tòa án đa phần đều có liên quan đến sai phạm của bộ phận kiểm toán. Tiêu biểu như các vụ xét xử về tham ô tài sản; hành vi gian lận, thao túng thị trường chứng khoán; vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng…

 

Ủy ban kiểm toán đóng một vai trò quan trọng trong việc giám sát chất lượng báo cáo tài chính và rà soát hệ thống vận hành doanh nghiệp (Nguồn ảnh: Internet)

2. Pháp luật về Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần

Xét về hệ thống văn bản pháp luật quy định đối với Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần tại Việt Nam, với Luật Doanh nghiệp năm 2014, thuật ngữ “Ban KTNB” được nhắc đến tại điểm b khoản 1 Điều 134 quy định về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần: “Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban KTNB trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty”. So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, điểm mới dễ thấy nhất của Luật Doanh nghiệp năm 2020 là đưa thuật ngữ “Ủy ban kiểm toán”, thay thế thuật ngữ “Ban KTNB” như một sự xác nhận về vai trò của một ủy ban riêng rẽ, góp phần khẳng định sự quan trọng trong việc thiết lập cơ quan chuyên môn này vào hoạt động kiểm tra, giám sát doanh nghiệp.

Ngoài ra, Ủy ban kiểm toán là một bộ phận trực thuộc hội đồng quản trị, được ví như là “cánh tay nối dài” của Hội đồng quản trị với chức năng chủ yếu là đảm bảo tính độc lập của kiểm toán trong phạm vi doanh nghiệp. Dựa trên Luật Doanh nghiệp năm 2020 hiện hành, quy định tại khoản 1 Điều 137 về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần thì:

“1. Trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác, công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;

b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của Ủy ban kiểm toán do Hội đồng quản trị ban hành”.


Chiếu theo quy định này thì công ty cổ phần tại Việt Nam có quyền được chọn lựa hình thức tổ chức quản lý theo một trong hai mô hình mà pháp luật chỉ định. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 2020 còn quy định rất cụ thể về khái niệm, phương thức thiết lập, thể thức hoạt động, cũng như quyền và nghĩa vụ của Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần lần lượt tại khoản 1, 2, 3 Điều 161 với nội dung quy định cụ thể như sau:

“1. Ủy ban kiểm toán là cơ quan chuyên môn thuộc Hội đồng quản trị. Ủy ban kiểm toán có từ 02 thành viên trở lên. Chủ tịch Ủy ban kiểm toán phải là thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Các thành viên khác của Ủy ban kiểm toán phải là thành viên Hội đồng quản trị không điều hành.

2. Ủy ban kiểm toán thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động Ủy ban kiểm toán quy định. Mỗi thành viên Ủy ban kiểm toán có một phiếu biểu quyết. Trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động Ủy ban kiểm toán có quy định tỷ lệ khác cao hơn, quyết định của Ủy ban kiểm toán được thông qua nếu được đa số thành viên dự họp tán thành; trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc về phía có ý kiến của Chủ tịch Ủy ban kiểm toán.

3. Ủy ban kiểm toán có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Giám sát tính trung thực của báo cáo tài chính của công ty và công bố chính thức liên quan đến kết quả tài chính của công ty;

b) Rà soát hệ thống kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro;

c) Rà soát giao dịch với người có liên quan thuộc thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông và đưa ra khuyến nghị về những giao dịch cần có phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông;

d) Giám sát bộ phận KTNB của công ty;


đ) Kiến nghị công ty kiểm toán độc lập, mức thù lao và điều khoản liên quan trong hợp đồng với công ty kiểm toán để Hội đồng quản trị thông qua trước khi trình lên Đại hội đồng cổ đông thường niên phê duyệt;

e) Theo dõi và đánh giá sự độc lập, khách quan của công ty kiểm toán và hiệu quả của quá trình kiểm toán, đặc biệt trong trường hợp công ty có sử dụng các dịch vụ phi kiểm toán của bên kiểm toán;

g) Giám sát nhằm bảo đảm công ty tuân thủ quy định của pháp luật, yêu cầu của cơ quan quản lý và quy định nội bộ khác của công ty”.


Mặt khác, khi xem xét Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán 2019, cụ thể, khoản 56 Điều 3 quy định những đối tượng là thành viên Hội đồng quản trị không điều hành: “Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành (sau đây gọi là thành viên không điều hành) là thành viên Hội đồng quản trị không phải là Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng và những người điều hành khác theo quy định của Điều lệ công ty”. Chính vì vậy, nếu so sánh giữa khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và quy định của Nghị định số 155/2020/NĐ-CP thì thành viên của Ủy ban kiểm toán không thể là Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng và những người điều hành khác theo quy định của Điều lệ công ty.

Nhìn chung, ngoài việc giám sát tính trung thực trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp, Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần không những là công cụ đắc lực trợ giúp hội đồng quản trị xử lý hiệu quả các vấn đề khác nhau thuộc chuyên môn của các thành viên, khi Ủy ban kiểm toán được bố trí tập trung công việc vào những lĩnh vực cụ thể, đúng với năng lực chuyên môn và kinh nghiệm mà còn đưa ra các khuyến nghị có giá trị cho Hội đồng quản trị, hỗ trợ việc ra quyết định. Dưới những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và một số luật chuyên ngành, nghị định liên quan cho thấy hệ thống pháp luật của Việt Nam cơ bản đã quy định những nội dung trong việc thiết lập và cụ thể hóa chức năng, vai trò Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần.

3. Vai trò Ủy ban kiểm toán và KTNB trong công ty cổ phần

Khái niệm Ủy ban kiểm toán được nhắc đến lần đầu tiên trong quản trị công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng vào năm 1939, phát sinh từ Sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE). Đến năm 1972, Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) đã yêu cầu các công ty niêm yết thành lập Ủy ban kiểm toán.

Tại Việt Nam, Ủy ban kiểm toán và bộ phận KTNB bắt đầu hình thành và phát triển từ năm 1997 khi Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 832-TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997 về việc ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ (áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước). Xem xét dựa trên loại hình kiểm toán, Việt Nam phân làm ba loại hình kiểm toán chính là: Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập và KTNB. Cả ba loại kiểm toán đều phải tuân thủ quy trình kiểm toán và áp dụng các phương pháp riêng của kiểm toán như phương pháp luận và các phương pháp kỹ thuật của kiểm toán. Nếu Kiểm toán Nhà nước là hoạt động kiểm toán các hoạt động tài chính Nhà nước, kiểm toán độc lập tiến hành kiểm toán các hoạt động kinh tế thì KTNB thực hiện kiểm toán trong từng đơn vị, cơ quan của doanh nghiệp, dưới những phương thức, thực hiện khác nhau, tùy vào đặc tính và lĩnh vực kinh doanh của từng doanh nghiệp.

Xem xét sự khác biệt giữa kiểm soát nội bộ và KTNB trong mô hình ba tuyến phòng thủ (The Three Lines of Defense Model) thì tuyến phòng thủ số 1 sẽ là hoạt động kiểm soát nội bộ nhằm duy trì hiệu quả hoạt động hằng ngày; tuyến phòng thủ số 2 là hoạt động quản lý rủi ro nhằm phổ biến thông tin liên quan đến rủi ro trong toàn bộ tổ chức; còn tuyến phòng thủ số 3 sẽ ứng với hoạt động KTNB, góp phần tích cực và liên tục vào việc quản trị tổ chức, quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ hiệu quả. Ngoài ra, KTNB cung cấp sự đảm bảo độc lập và đánh giá hiệu quả của các quá trình được tạo ra trong tuyến phòng thủ thứ nhất và thứ hai.

Hình 1. Mô hình ba tuyến phòng thủ
(Nguồn: ECIIA, PERMA Guidance on the 8th EU Company Law Directive, article 41)

Khi phân tích thực trạng về vai trò Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần tại Việt Nam, có thể đánh giá dựa trên bốn luận điểm sau: (1) Vai trò của Ủy ban kiểm toán gắn liền với hội đồng quản trị; (2) Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần hoạt động với “cánh tay nối dài” là bộ phận KTNB; (3) Vai trò của Ủy ban kiểm toán đối với doanh nghiệp chưa được chú trọng; (4) Chất lượng Ủy ban kiểm toán đóng vai trò chính yếu qua sự độc lập.

Đầu tiên, vai trò của Ủy ban kiểm toán gắn liền với Hội đồng quản trị. Mô hình thứ hai theo quy định trong Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020, bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và Ủy ban kiểm toán được xem là mô hình quản trị công ty tiệm cận với thông lệ tiên tiến hiện nay trên thế giới. Theo mô hình này, Ủy ban kiểm toán sẽ là một ủy ban chuyên trách của Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm định hướng và giám sát một số lĩnh vực quản trị cụ thể trong hoạt động thiết lập, triển khai và đảm bảo tính hiệu quả của chức năng KTNB trong công ty cổ phần.

Thứ hai, Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần hoạt động với “cánh tay nối dài” là bộ phận KTNB. Trên thực tế, tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán nói riêng và công ty cổ phần nói chung, Ủy ban kiểm toán thu thập và đánh giá thông tin chủ yếu thông qua bộ phận KTNB tại doanh nghiệp. Với cánh tay nối dài là bộ phận KTNB, Ủy ban kiểm toán đóng vai trò là cầu nối thông tin về doanh nghiệp đến hội đồng quản trị. Thông qua đó, Ủy ban kiểm toán có được những thông tin về hoạt động hằng ngày của đơn vị dưới góc độ KTNB nhằm giám sát đánh giá được các rủi ro có thể gặp phải.

Thứ ba, vai trò của Ủy ban kiểm toán đối với doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng chưa được chú trọng. Hiện nay, mới chỉ có một số công ty cổ phần niêm yết và công ty đại chúng ở Việt Nam áp dụng mô hình quản trị có Ủy ban kiểm toán và KTNB. Do vậy, chắc chắn trong thời gian tới sẽ có nhiều thắc mắc và phát sinh liên quan đến việc hình thành và thực thi vai trò của Ủy ban kiểm toán đối với KTNB. Ngoài ra, xét đến những khó khăn còn tồn tại, một vấn đề cần giải quyết trong mối quan hệ giữa Ủy ban kiểm toán (trực thuộc hội đồng quản trị) và ban kiểm soát (trực thuộc đại hội đồng cổ đông). Có thể thấy rằng, vai trò lớn nhất mà Ủy ban kiểm toán và/hoặc ban kiểm soát cần được đề cao chính là việc đảm bảo tính độc lập, khách quan và hiệu quả của công tác KTNB trong một đơn vị.

Thứ tư, chất lượng Ủy ban kiểm toán đóng vai trò chính yếu qua sự độc lập. Ủy ban kiểm toán là đầu mối liên hệ giữa kiểm toán viên nội bộ và doanh nghiệp, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo tính độc lập của kiểm toán, giảm thiểu tối đa các nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập. Tính độc lập được quy định tại Chương 291 Thông tư số 70/2015/TT-BTC ngày 08/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Theo đó, tính độc lập bao gồm: Độc lập về tư tưởng và độc lập về hình thức. Đây là minh chứng cho thấy muốn nâng cao chất lượng kiểm toán thông qua việc đảm bảo tính độc lập cho kiểm toán thì không thể bỏ qua Ủy ban kiểm toán và tính độc lập của các thành viên trong Ủy ban kiểm toán.

4. Một số kiến nghị

Với nhiều sự thay đổi trong chính sách cùng xu hướng hội nhập kinh tế thế giới có thể thấy, vai trò của Ủy ban kiểm toán trong nền kinh tế thị trường là vô cùng cần thiết. Thông qua những quy định hiện hành, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị để nâng cao vai trò của Ủy ban kiểm toán và KTNB trong công ty cổ phần.

Một là, các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và công ty cổ phần nói riêng, cần có những thay đổi tích cực hơn về vai trò của Ủy ban kiểm toán. Việc thành lập Ủy ban kiểm toán là theo quy định trong Luật Doanh nghiệp hiện hành và lợi ích mà nó mang lại trong việc hạn chế các rủi ro tại doanh nghiệp là rất lớn. Tuy vậy, trên thực tế cho thấy, Ủy ban kiểm toán tại công ty cổ phần mới chỉ đóng vai trò quan sát, chưa mang tính hiệu quả trong quản trị rủi ro nội bộ doanh nghiệp. Nhiều ban lãnh đạo doanh nghiệp vẫn còn giữ định kiến đối với Ủy ban kiểm toán là không cần thiết phải thiết lập. Do đó, bên cạnh sự chủ động nhìn nhận vai trò của Ủy ban kiểm toán và KTNB từ phía doanh nghiệp, Chính phủ và các bộ, ngành nên đưa ra các quy định có tính ràng buộc nhằm đảm bảo và nâng cao tính độc lập của Ủy ban kiểm toán. Dưới cơ sở là cơ quan chuyên môn thuộc Hội đồng quản trị, Ủy ban kiểm toán gần như có quyền giám sát các mặt về tài chính, hệ thống kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro và giao dịch với người có liên quan thuộc thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc đại Hội đồng cổ đông.

Hai là, những thành kiến khác của con người cũng có khả năng cản trở sự hoài nghi nghề nghiệp. Những khái niệm hành vi được các nhà tâm lý học biết đến nhưng chưa được thừa nhận đầy đủ trong kiểm toán, chẳng hạn như tuân theo quyền hạn, suy nghĩ theo nhóm, lạc quan quá mức, quá tự tin trong xử lý và điều hành công việc. Vì thế, cần xây dựng Ủy ban kiểm toán chuyên nghiệp trong nghề, gắn bó và không ngừng nỗ lực học tập, nâng cao kiến thức hành nghề. Để thực hiện được điều này, các tổ chức, đặc biệt là những công ty kiểm toán thông qua việc tham gia các khóa học như của Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW), Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA), hay kỳ kiểm tra Kiểm toán viên hành nghề (CPA)… để giúp đội ngũ Ủy ban kiểm toán tại công ty cổ phần tích lũy kiến thức và áp dụng vào thực tế công việc.

Ba là, thiết lập tốt hơn những chính sách về ứng dụng khoa học kỹ thuật trong việc KTNB dưới sự giám sát của Ủy ban kiểm toán tại công ty cổ phần. Trong đó, tầm quan trọng của việc áp dụng các công cụ hỗ trợ công nghệ trong công tác kiểm toán giữ vai trò thiết yếu. Với sự phát triển không ngừng của thị trường công nghệ tài chính (Fintech), Ủy ban kiểm toán tại các công ty cổ phần phải không ngừng cập nhật thông tin, kiến thức và tiếp cận công nghệ trên nhiều phương diện. Áp dụng kiểm toán tiên tiến kết hợp với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, đặc biệt là những tiến bộ trong khả năng cung cấp và truy cập dữ liệu hiệu quả hơn sẽ đảm bảo báo cáo kiểm toán đạt chất lượng. Qua đó, mang lại hiệu quả cao về thời gian và chi phí thực hiện, cũng như chất lượng báo cáo kiểm toán. Đồng thời, khi thông tin đáng tin cậy về lâu dài sẽ tạo cơ sở cho việc hình thành kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài bền vững vào Việt Nam.
 
Tài liệu tham khảo:

1. Luật Doanh nghiệp năm 2014.
2. Luật Doanh nghiệp năm 2020.
3. Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
4. Manita, R. (2020). “The digital transformation of external audit and its impact on corporate governance”. Technological Forecasting and Social Change, 150. https://doi.org/10.1016/j.techfore.2019.119751
5. Rosli, K., Yeow, P. H. P. and Gene, S. E. (2013). “Adoption of Audit Technology in Audit Firms”. Australasian Conference on Information Systems (ACIS 2013), trang 1 - 12.
6. Shbeilat, M. and Qader, W. A. (2018). “Independence Dilemma and the Reliability of the Audit Report: Qualitative Evidence from Jordan”. Australian Academy of Accounting and Finance Review, 4(1), trang 22 - 36.
7. The Institute of Internal Auditors (2017). “Internal Audit and External Audit: Distinctive Roles in Organizational Governance”. The Institute of Internal Auditors Global Perspectives series, 8.
8. Lê Thị Thu (2020). “Vai trò của Ủy ban kiểm toán trong việc giám sát tính độc lập của kiểm toán viên khi đồng cung cấp dịch vụ”. Tạp chí Công Thương số 27.
9. Nguyễn Thị Tuân (2019). “Kinh nghiệm quốc tế về thực hiện chức năng KTNB”. Tạp chí Tài chính số 2.

Nguyễn Hoàng Nam
Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước,  Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Sự cần thiết sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng và một số góp ý hoàn thiện
Sự cần thiết sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng và một số góp ý hoàn thiện
09/07/2024 274 lượt xem
Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã trình Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi).
Hoạt động gỡ cảnh báo thẻ vàng IUU: Vấn đề đặt ra và giải pháp
Hoạt động gỡ cảnh báo thẻ vàng IUU: Vấn đề đặt ra và giải pháp
01/07/2024 826 lượt xem
Năm 2024, chống hoạt động IUU được xem là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa lâu dài đối với phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam. Các quy định IUU được thiết lập thống nhất trên toàn EU để ngăn chặn và loại bỏ việc nhập khẩu các sản phẩm thủy sản bị đánh giá là có hoạt động IUU vào thị trường EU nhằm hướng tới ngành ngư nghiệp, ngành kinh tế thủy sản minh bạch, trách nhiệm, bền vững.
Chính sách tiền tệ xanh - Kinh nghiệm một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam
Chính sách tiền tệ xanh - Kinh nghiệm một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam
20/06/2024 793 lượt xem
Chính sách tiền tệ (CSTT) xanh của ngân hàng trung ương (NHTW) trong việc cho vay đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) là một công cụ quan trọng để thúc đẩy sự phát triển bền vững và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
Thành công bước đầu trong mục tiêu thu hẹp chênh lệch giá vàng thế giới và trong nước
Thành công bước đầu trong mục tiêu thu hẹp chênh lệch giá vàng thế giới và trong nước
06/06/2024 1.067 lượt xem
Đến sáng 05/6/2024, khoảng cách giữa giá vàng miếng SJC trong nước quy đổi so với giá vàng thế giới được thu hẹp đáng kể - đây là thành công bước đầu trong giải pháp mà NHNN mới đưa ra.
Quyết liệt triển khai các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Quyết liệt triển khai các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
31/05/2024 1.441 lượt xem
Kết thúc năm 2023, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực: Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng tiền Việt Nam cơ bản ổn định; nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách trong tầm kiểm soát...
Chính sách tiền tệ góp phần hạn chế sự hình thành các doanh nghiệp zombie tại Việt Nam
Chính sách tiền tệ góp phần hạn chế sự hình thành các doanh nghiệp zombie tại Việt Nam
31/05/2024 1.211 lượt xem
“Doanh nghiệp zombie” lần đầu tiên được đề xuất như một thuật ngữ kinh tế bởi Kane (1987) và được nhắc đến nhiều nhất vào những năm 1990 trong thời kì khủng hoảng kinh tế kéo dài khoảng 10 năm (1991 - 2001) sau sự sụp đổ của bong bóng giá tài sản tại Nhật Bản.
Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm ổn định lạm phát tại Việt Nam
Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm ổn định lạm phát tại Việt Nam
13/05/2024 3.054 lượt xem
Ổn định lạm phát luôn được coi là một biến số kinh tế vĩ mô trọng tâm tại Việt Nam. Trong giai đoạn lạm phát phi mã từ năm 1986 đến năm 1990, chính sách tiền tệ đóng vai trò chủ đạo với giải pháp nâng lãi suất để hút tiền khỏi quá trình lưu thông. Đến giai đoạn lạm phát cao từ năm 2007 đến năm 2012, chính sách tiền tệ và tài khóa cùng thắt chặt để giảm lượng vốn đầu tư, thể hiện trực tiếp cho lượng tiền tệ trong nền kinh tế.
Thực tiễn thi hành về sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và một số đề xuất
Thực tiễn thi hành về sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và một số đề xuất
01/05/2024 1.645 lượt xem
Bài viết nghiên cứu, đánh giá quy định của pháp luật và quy chế nội bộ của Ngân hàng Hợp tác xã (NHHTX) về hoạt động cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (Quỹ bảo toàn) và thực tiễn thi hành từ thời điểm thành lập năm 2014 đến nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn.
Bàn về một số điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024
Bàn về một số điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024
25/04/2024 8.892 lượt xem
Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024 được Quốc hội thông qua ngày 18/01/2024. Nội dung Luật có nhiều điểm mới tích cực, được đánh giá sẽ góp phần đảm bảo hoạt động tài chính của các TCTD phát triển lành mạnh, ổn định.
Nhận diện một số thách thức pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động ngân hàng tại Việt Nam
Nhận diện một số thách thức pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động ngân hàng tại Việt Nam
22/04/2024 1.828 lượt xem
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn ra trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động ngân hàng cũng không nằm ngoài sự chuyển đổi đó. Tại Việt Nam, những năm gần đây, ngành Ngân hàng luôn là một trong những ngành có tỉ lệ chuyển đổi số nhanh nhất.
Hoàn thiện các quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Hoàn thiện các quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
17/04/2024 2.466 lượt xem
Trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật để thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế, hình ảnh của nước ta trên trường quốc tế.
Tác động của tài chính toàn diện đến ổn định tài chính -  Một số khuyến nghị cho Việt Nam
Tác động của tài chính toàn diện đến ổn định tài chính - Một số khuyến nghị cho Việt Nam
12/04/2024 2.487 lượt xem
Tài chính toàn diện có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của một quốc gia, góp phần thúc đẩy và mở rộng khả năng tiếp cận tài chính của dân số, qua đó khuyến khích tiết kiệm và đầu tư đối với hộ gia đình và doanh nghiệp, tạo cơ hội phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ, mở rộng khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm và thu nhập, góp phần hạn chế rủi ro và gia tăng lợi nhuận đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính.
Tăng cường các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tăng cường các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
16/03/2024 4.905 lượt xem
Năm 2024, kinh tế thế giới dự báo tiếp tục khó khăn dưới tác động của điều kiện tài chính thắt chặt, mặt bằng lãi suất còn cao, xung đột địa chính trị, rủi ro tài chính gia tăng, lạm phát có dấu hiệu chậm lại nhưng vẫn cao…; ở trong nước, nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do bối cảnh cầu thế giới, thương mại quốc tế chậm phục hồi, bảo hộ thương mại gia tăng; sản xuất, kinh doanh tiếp tục khó khăn, mức độ hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn tương đối thấp; những khó khăn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản vẫn chưa được xử lý căn cơ, đòi hỏi các cấp, bộ, ngành Trung ương và địa phương tiếp tục triển khai nhiều giải pháp tổng thể hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
Triển khai Nghị định số 78/2023/NĐ-CP: Những chuyển động bước đầu và hướng đi trong thời gian tới
Triển khai Nghị định số 78/2023/NĐ-CP: Những chuyển động bước đầu và hướng đi trong thời gian tới
15/03/2024 3.669 lượt xem
Ngày 07/11/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 22/12/2023.
Điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh lạm phát thế giới tăng cao từ năm 2022 đến nay - Một số khuyến nghị chính sách
Điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh lạm phát thế giới tăng cao từ năm 2022 đến nay - Một số khuyến nghị chính sách
14/03/2024 14.914 lượt xem
Giai đoạn từ năm 2022 đến nay, trước bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tục tăng lãi suất, NHNN đã điều hành tỷ giá tương đối ổn định, đặc biệt là tỷ giá với các ngoại tệ như Đô la Mỹ, Euro và các ngoại tệ khác tại các quốc gia có quan hệ giao thương đáng kể với Việt Nam nhằm duy trì ổn định vĩ mô trong nước, hỗ trợ đầu tư, sản xuất phát triển.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

75.980

76.980

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

75.980

76.980

Vàng SJC 5c

75.980

77.000

Vàng nhẫn 9999

75.980

76.8980

Vàng nữ trang 9999

75.980

76.580


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,207 25,457 26,914 28,390 32,040 33,402 155.32 164.39
BIDV 25,237 25,457 27,158 28,441 32,354 33,470 156.2 164.31
VietinBank 24,245 25,457 27,197 28,397 32,497 33,507 156.34 164.09
Agribank 25,230 25,457 27,129 28,375 32,251 33,420 156.40 164.33
Eximbank 25,160 25,457 27,172 28,081 32,399 33,383 157.25 162.51
ACB 25,170 25,457 27,167 28,099 32,443 33,423 156.78 162.98
Sacombank 25,195 25,457 27,376 28,129 32,651 33,332 158.1 163.11
Techcombank 25,164 25,457 27,032 28,396 32,109 33,450 153.51 165.91
LPBank 25,017 25,457 27,083 28,645 32,607 33,484 156.64 167.16
DongA Bank 25,200 25,457 27,200 28,080 32,370 33,480 155.10 163.00
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,30
3,60
4,30
4,40
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,60
2,60
2,90
3,80
3,80
4,50
4,50
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
2,00
2,00
2,30
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
2,90
3,10
3,20
4,00
4,00
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?