Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 2.274 lượt xem
Tóm tắt: Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM. Tuy nhiên, trong thời gian qua, thị trường mua, bán nợ vẫn chưa thực sự phát triển và thiếu sự cạnh tranh giữa các bên mua nợ, kinh nghiệm xử lí nợ chưa cao, chưa đáp ứng được kì vọng của thị trường với lượng nợ xấu cần xử lí rất lớn, điều này phần nào khiến cho nhu cầu mua, bán nợ của các NHTM có nợ xấu bị giảm, kìm hãm sự phát triển của thị trường mua, bán nợ của NHTM. Xuất phát từ đó, bài viết tập trung làm rõ thực trạng, phân tích đánh giá một số quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động mua, bán nợ của NHTM, từ đó đưa ra một số định hướng, kiến nghị hoàn thiện cho việc phát triển hoạt động này tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Mua, bán nợ; NHTM; thực trạng; hoàn thiện.
 
THE DEBT TRADING ACTIVITIES AT COMMERCIAL BANKS:
CURRENT SITUATION AND SOME RECOMMENDATIONS
 
Abstract: Commercial bank debt trading activities in Vietnam is gradually shaping as an objective necessity of economic development. Although debt trading is a new field in Vietnam today, it is a basic economic activity in commercial banks. However, in recent years, the market for debt trading has not really developed and there has been a lack of competition among debt buyers, the experience in debt handling has not been good enough to meet the market expectations with a large amount of non-performing loans to be handled, which has partly caused a decline in the demand for debt trading in commercial banks, therefor restraining the development of commercial banks' debt trading market. On that basis, the article focuses on clarifying the current situation of commercial banks’ debt trading activities, analyzing and evaluating a number of legal provisions governing commercial banks’ debt trading activities, thereby making some recommendations for the development of commercial banks’ debt trading activities in Vietnam in current period.
 
Keywords: Debt trading, commercial bank, current situation, improvement.
 
1. Đặt vấn đề
 
Trong hoạt động của các NHTM, hoạt động mua, bán nợ có xu hướng gia tăng trong những năm trở lại đây, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nợ xấu phát sinh do hợp đồng tín dụng đối với khách hàng ngày càng nhiều. Xu hướng này buộc NHTM phải đẩy mạnh các giải pháp xử lí nợ xấu, trong đó bán nợ xấu cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu được coi là giải pháp có tính khả thi nhất, từ đó hình thành quan hệ mua, bán nợ giữa NHTM (giữ vai trò là bên bán nợ) với các tổ chức, cá nhân (giữ vai trò là bên mua nợ). Hiện nay, có rất nhiều quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ mua, bán nợ của NHTM khá bất cập, thậm chí có nhiều quy định khó áp dụng trong thực tiễn. Vì vậy, để hoàn thiện hoạt động mua, bán nợ của NHTM tại Việt Nam trong thực tiễn, cần phải thấy rõ được những bất cập mà hoạt động này đang vướng mắc để từ đó tiếp tục hoàn thiện, xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ mua, bán nợ đồng bộ và nâng cao hiệu quả thực thi của các quy định liên quan đến hoạt động này.
 
2. Thực trạng hoạt động mua, bán nợ của NHTM ở Việt Nam hiện nay
 
Trong những năm qua, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung, các NHTM Việt Nam nói riêng đã đẩy mạnh hoạt động xử lí nợ thông qua nhiều phương thức đa dạng và thu được những kết quả đáng ghi nhận. Lũy kế từ khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội có hiệu lực (ngày 15/8/2017) đến cuối tháng 7/2023, toàn hệ thống ngân hàng đã xử lí được khoảng 425,9 nghìn tỉ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết1. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến tháng 7/2023, tỉ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 3,56%, cao hơn mức 2% so với cuối năm 2022 và mức 1,68% cuối năm 20202. Nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam bắt đầu có xu hướng tăng dần từ năm 2007 trong bối cảnh dư nợ tín dụng tăng trưởng cao trong khi chất lượng các khoản tín dụng và công tác quản trị rủi ro còn hạn chế. Tốc độ tăng trưởng nợ xấu lên tới 51% trong giai đoạn 2008 - 2011, gấp hai lần tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân của cùng giai đoạn. Nợ xấu gia tăng giá trị lên đến 85.000 tỉ đồng, chiếm 3,3% tổng dư nợ và tiếp tục tăng lên 4,86% tổng dư nợ vào cuối năm 2012, trước khi giảm về mức 2,46% vào cuối năm 2016 và 2,56% vào cuối tháng 02/2017.
 
Trước nhu cầu cấp thiết về xử lí nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã đưa ra những giải pháp cần thiết để giảm tỉ lệ nợ xấu (Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu). Trong đó, có yêu cầu các TCTD đẩy mạnh triển khai giải pháp tự xử lí nợ xấu như đánh giá lại nợ, cơ cấu lại nợ, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lí nợ xấu, hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai, nâng cao chất lượng đánh giá giá trị thị trường của các khoản nợ xấu, hỗ trợ liên quan tới hoàn thành các hồ sơ pháp lí liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay để sớm xử lí được nợ xấu. Bên cạnh đó, Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh trong giai đoạn 2013 - 2020 đã cụ thể hóa mục tiêu xử lí nợ xấu của Chính phủ nhằm giảm nợ xấu của các NHTM xuống dưới 3% tổng dư nợ tín dụng. Ngày 18/5/2013, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) đã được ban hành. Theo đó, VAMC là một tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được hưởng các ưu đãi thuế để hỗ trợ hoạt động mua, bán nợ của công ty. VAMC sử dụng hai nguồn tài chính chủ yếu để xử lí nợ xấu là nguồn tiền được cấp tại vốn điều lệ; phát hành trái phiếu đặc biệt để mua các khoản nợ xấu của NHTM. VAMC tập trung xử lí nợ xấu của các TCTD có tỉ lệ nợ xấu trên 3% tổng dư nợ và nợ xấu có tài sản bảo đảm, đặc biệt là tài sản bảo đảm bằng bất động sản.
 
Cho đến nay, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả nhất định, nhưng quá trình xử lí nợ xấu vẫn còn tồn tại, hạn chế. Trong số nợ phải xử lí tại VAMC, phần lớn nợ thuộc phần bán lại trước đây từ các ngân hàng lớn chứ không chỉ tập trung ở các ngân hàng yếu kém, bị kiểm soát đặc biệt. 
 
Chính vì vậy, nhiều NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro lớn khiến hiệu quả kinh doanh không cao. 
 
3. Quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động mua, bán nợ của NHTM tại Việt Nam
 
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ3. Bên bán nợ là TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khoản nợ được bán theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Chủ thể của hoạt động này gồm, bên mua nợ là tổ chức, cá nhân (TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được NHNN chấp thuận hoạt động mua nợ, tổ chức, cá nhân là người cư trú và người không cư trú); bên nợ là tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được mua, bán theo quy định tại hợp đồng cấp tín dụng.
 
Hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ một số nguyên tắc như: (i) Hoạt động mua, bán nợ không trái với nội dung quy định tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã kí kết giữa bên bán nợ, khách hàng và bên bảo đảm; (ii) Hoạt động mua, bán nợ do các bên tự thỏa thuận, tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan; (iii) TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có tỉ lệ nợ xấu dưới 3% theo kì phân loại gần nhất theo quy định của NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước thời điểm đề nghị chấp thuận hoạt động mua nợ, trừ TCTD đang được kiểm soát đặc biệt, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bán nợ thì không phải xin phép NHNN; (iv) TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được mua nợ khi được NHNN chấp thuận hoạt động mua nợ tại Giấy phép thành lập và hoạt động và có tỉ lệ nợ xấu dưới 3% theo kì phân loại gần nhất theo quy định của NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt động của NHTM trước thời điểm kí hợp đồng mua nợ, trừ các trường hợp quy định tại khoản 12 Điều 5 Thông tư số 18/2022/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (v) Trước khi thực hiện mua, bán nợ, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về hoạt động mua, bán nợ (trong đó có quy định rõ về phân cấp thẩm quyền theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định mua, bán nợ). 
 
Bên bán nợ không mua lại khoản nợ đã bán, trừ các trường hợp sau: (i) TCTD mua lại khoản nợ đã bán cho TCTD được kiểm soát đặc biệt theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều này; (ii) TCTD hỗ trợ mua lại khoản nợ đã bán cho TCTD được kiểm soát đặc biệt theo phương án phục hồi TCTD được kiểm soát đặc biệt đã được phê duyệt theo quy định tại khoản 6 Điều 148 Luật Các TCTD.
 
TCTD không được bán nợ cho công ty con của chính TCTD đó, trừ các trường hợp: Bán nợ cho công ty quản lí nợ và khai thác tài sản theo phương án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt; TCTD là bên nhận chuyển giao bắt buộc bán nợ đủ tiêu chuẩn cho NHTM được chuyển giao bắt buộc theo phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt. Công ty quản lí nợ và khai thác tài sản là công ty con của TCTD chỉ được mua nợ của TCTD khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi TCTD mẹ có tỉ lệ nợ xấu dưới 3%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt. Trường hợp bán một phần khoản nợ hoặc bán một khoản nợ cho nhiều bên mua nợ, thì bên bán nợ và các bên mua nợ thỏa thuận với nhau về tỉ lệ tham gia, phương thức thực hiện, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, phân chia giá trị tài sản đảm bảo (nếu có) cho phần nợ được mua, bán và các nội dung cụ thể khác tại hợp đồng mua, bán nợ đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật. Các khoản nợ được mua, bán phải được theo dõi, hạch toán kế toán và báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật. TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng cho khách hàng để mua nợ thuộc sở hữu của chính TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó. 
 
Phương thức mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện theo hai phương thức, thứ nhất là phương thức thỏa thuận, tức là thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới; thứ hai là phương thức đấu giá, được hiểu là bên bán nợ kí hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản. 
 
Hợp đồng mua, bán nợ phải được kí bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của các bên mua, bán nợ. Hợp đồng mua, bán nợ phải có những nội dung chủ yếu như: Thời gian kí kết hợp đồng mua, bán nợ; tên, địa chỉ của các bên tham gia kí kết hợp đồng mua, bán nợ; tên, chức danh người đại diện các bên tham gia kí kết hợp đồng mua, bán nợ; tên, địa chỉ của bên nợ và các bên có liên quan (nếu có) tới khoản nợ được mua, bán; chi tiết khoản nợ mua, bán: Số tiền vay, thời gian vay, mục đích vay, giá trị ghi sổ của khoản nợ đến thời điểm thực hiện mua, bán nợ; các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán của bên nợ đối với khoản nợ được mua, bán (nếu có); giá bán nợ, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán; thời điểm, phương thức và thủ tục chuyển giao hồ sơ, chứng từ khoản nợ, bao gồm cả hồ sơ, tài liệu về tài sản bảo đảm của khoản nợ (nếu có); thời điểm bên mua nợ trở thành người thế quyền, nghĩa vụ đối với khoản nợ của bên bán nợ; quyền và nghĩa vụ của bên bán nợ, bên mua nợ; trách nhiệm của các bên do vi phạm hợp đồng; giải quyết tranh chấp phát sinh. Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận các nội dung khác trong hợp đồng mua, bán nợ không trái với quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nội dung hợp đồng mua, bán nợ do các bên liên quan thỏa thuận, quyết định trên cơ sở đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.
 
Bên mua nợ sẽ có các quyền là yêu cầu bên bán nợ cung cấp thông tin về khoản nợ được mua, bán (bao gồm cả thông tin liên quan đến hình thành, quản lí khoản nợ); kế thừa đầy đủ các quyền của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật; yêu cầu bên bán nợ chuyển giao hồ sơ và hoàn tất các thủ tục để chuyển giao đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của bên bán nợ, phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng mua, bán nợ và quy định pháp luật; yêu cầu bên bán nợ thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ cam kết theo thỏa thuận; các quyền khác theo thỏa thuận và quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, bên mua nợ sẽ có các nghĩa vụ như là thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho bên bán nợ theo hợp đồng mua, bán nợ; thanh toán các chi phí (kể cả phí môi giới nếu có) phát sinh trong quá trình mua, bán nợ theo thỏa thuận; kế thừa đầy đủ các nghĩa vụ của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận và quy định của pháp luật.
 
Bên bán nợ có các quyền là yêu cầu bên mua nợ thanh toán theo thỏa thuận; yêu cầu bên mua nợ phải thực hiện theo đúng các nghĩa vụ cam kết; các quyền khác theo thỏa thuận và quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, bên bán nợ có các nghĩa vụ như thông báo bằng văn bản cho bên nợ và các bên liên quan những nội dung của việc bán nợ chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày các bên kí kết đồng mua, bán nợ hoặc sửa đổi, bổ sung hợp đồng mua, bán nợ. Trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc theo thỏa thuận giữa bên bán nợ và bên nợ hoặc trong trường hợp cần thiết, bên bán nợ thông báo bằng văn bản việc bán nợ cho bên nợ trước khi kí kết hợp đồng mua, bán nợ; cung cấp các thông tin liên quan đến khoản nợ được bán theo yêu cầu của bên mua nợ, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và không trái với các thỏa thuận tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã kí kết; chuyển giao đầy đủ, đúng hạn nguyên trạng hồ sơ khoản nợ theo thỏa thuận cho bên mua nợ; chuyển giao nguyên trạng quyền, nghĩa vụ đối với khoản nợ được bán bao gồm cả quyền, nghĩa vụ đối với biện pháp bảo đảm của khoản nợ, bảo hiểm của khoản nợ (nếu có) cho bên mua nợ theo hợp đồng mua, bán nợ và quy định của pháp luật; thanh toán các chi phí (kể cả phí môi giới nếu có) phát sinh trong quá trình mua, bán nợ theo thỏa thuận; thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận và quy định pháp luật.
 
4. Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện 
 
Hiện nay, hoạt động mua, bán nợ của NHTM tại Việt Nam đang có một số điểm bất cập như sau:
 
Thứ nhất, hoạt động mua, bán nợ đang được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật, áp dụng riêng cho từng đối tượng, trong khi đó các quy định này không thống nhất nên gây ra không ít vướng mắc, lúng túng trong quá trình giao dịch, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua, bán nợ, dẫn đến không khuyến khích được các chủ thể trong xã hội tham gia hoạt động mua, bán nợ, từ đó không phát triển được thị trường mua, bán nợ. Quá trình xử lí nợ xấu của VAMC vẫn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc về cơ chế pháp lí (bao gồm các vướng mắc liên quan đến thẩm quyền xử lí ngoài phạm vi của NHNN), dẫn đến quá trình xử lí nợ xấu của VAMC chưa đạt được kết quả như kế hoạch đề ra. Kết quả hoạt động của các công ty quản lí tài sản (AMC) cho thấy hoạt động của các AMC vẫn còn hạn chế và chủ yếu vẫn là phục vụ cho nhu cầu lành mạnh hóa tài chính của ngân hàng mẹ. Từ đó dẫn đến các khoản nợ xấu vẫn tồn tại trong nội bộ ngân hàng mà chưa được loại bỏ hoàn toàn ra khỏi báo cáo tài chính hợp nhất và như vậy nợ xấu thực chất vẫn chưa được xử lí. Bên cạnh đó, Thông tư số 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được ban hành và thực hiện hơn 05 năm, nhưng trong quá trình thực hiện mua, bán nợ, các NHTM phát sinh một số vướng mắc do Thông tư đã có quy định nhưng cần được hướng dẫn cụ thể để xử lí một số trường hợp phát sinh trong thực tế như định giá khoản nợ; xử lí chênh lệch tỉ giá; xử lí tài chính đối với trường hợp bên mua nợ là TCTD.
 
Thứ hai, hạn chế trong quy định về thẩm định giá trị khoản nợ của NHTM. Để tiến hành bán nợ, việc quan trọng mà các NHTM cần làm là phải xác định được giá trị khoản nợ. Đây là một trong những nhân tố quyết định đến thành công của các giao dịch mua, bán nợ. Bởi chỉ có xác định được giá trị khoản nợ một cách chính xác và hợp lí mới thu hút được sự quan tâm của người mua nợ, đồng thời, đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia trong quan hệ mua, bán nợ. Tuy nhiên hiện nay, một khó khăn không nhỏ trong quá trình định giá khoản nợ của NHTM đó là chưa có các tiêu chuẩn riêng dành cho việc thẩm định giá khoản nợ. Các NHTM, TCTD khác, VAMC và kể cả doanh nghiệp thẩm định giá phải vận dụng các tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản nói chung trong quá trình định giá khoản nợ. Khoản nợ về cơ bản là một loại tài sản nên có thể sử dụng các tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản để tiến hành thẩm định. Tuy nhiên, khác với tài sản thông thường, giá trị của khoản nợ sẽ bị chi phối bởi các yếu tố đặc thù như tình hình tài chính của khách hàng vay; cung, cầu thị trường và các yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá trị khoản nợ, tình trạng và giá trị tài sản bảo đảm của khoản nợ tại thời điểm định giá... Do đó, cần có những quy định đặc thù trong quá trình thẩm định giá khoản nợ tín dụng. 
 
Thứ ba, thiếu các quy định hỗ trợ người mua nợ trong việc hoàn tất các thủ tục sau khi mua nợ từ NHTM. Một trong những lí do cơ bản dẫn đến việc các cá nhân, tổ chức không mặn mà với hoạt động mua nợ của NHTM là thực tế hiện nay còn thiếu cơ chế hỗ trợ người mua nợ hoàn tất các thủ tục sau khi mua nợ từ NHTM. Sau khi giao kết hợp đồng mua, bán nợ, việc chuyển dịch các quyền và lợi ích liên quan đến khoản nợ từ NHTM sang bên mua nợ được quy định tại Thông tư số 09/2015/TT-NHNN, cụ thể: “Bên bán nợ chuyển giao quyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ cho bên mua nợ bao gồm cả quyền, nghĩa vụ đối với các biện pháp bảo đảm khoản nợ đó (nếu có). Việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ đối với các biện pháp bảo đảm của khoản nợ phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm và các quy định khác có liên quan của pháp luật. Việc thực hiện đăng kí thay đổi bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề đăng kí thay đổi bên nhận bảo đảm hiện đang gặp vướng mắc do chưa có hướng dẫn cụ thể cho thủ tục nhận thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của các cá nhân, tổ chức kinh tế không phải là NHTM. 
 
Thứ tư, hạn chế trong các quy định về quyền thu giữ tài sản của người mua nợ. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ được coi là một trong những quyền năng cơ bản và quan trọng giúp cho bên nhận bảo đảm có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, quyền năng này không được quy định cho tất cả các chủ thể mà theo quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD thì quyền thu giữ tài sản thuộc về các chủ thể như sau: “Trường hợp bên bảo đảm, bên giữ tài sản không giao tài sản bảo đảm cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu để xử lý thì TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều này”4. Như vậy, ngoài các TCTD nói chung và NHTM nói riêng thì tổ chức mua, bán, xử lí nợ xấu cũng có quyền thu giữ tài sản, tuy nhiên, với cách thức quy định như trong Nghị quyết số 42/2017/QH14 thì cá nhân mua nợ xấu có quyền thu giữ tài sản không? Đây là một vấn đề cần phải được xác định rõ, bởi lẽ khi NHTM bán nợ cho các cá nhân, tổ chức khác đồng nghĩa với việc NHTM sẽ phải chuyển giao toàn bộ các quyền năng mà mình có được đối với khoản nợ cho người mua nợ. Điều này đã được ghi nhận trong Thông tư số 09/2015/TT-NHNN khi mà bên mua nợ có quyền: “Kế thừa đầy đủ các quyền của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật”5. Như vậy, không thể căn cứ vào chủ thể mua nợ là VAMC hay các tổ chức để loại bỏ các cá nhân quyền thu giữ tài sản của họ như Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định. Điều này sẽ khiến cho các quyền và lợi ích hợp pháp của người mua nợ không được đảm bảo và khiến họ không mặn mà với việc tham gia các giao dịch mua, bán nợ với NHTM.
 
Thêm nữa, hiệu lực thi hành của các quy định pháp luật liên quan đến quyền thu giữ là chưa cao. Một trong những hạn chế cơ bản trong việc thực thi quyền thu giữ tài sản đó là sự hợp tác của các cơ quan chức năng còn chưa thực sự kịp thời, hiệu quả. Việc thu giữ tài sản bảo đảm để xử lí nợ xấu thường chỉ thành công khi khách hàng hợp tác, hoặc trong một số trường hợp nhất định như khách hàng đã bỏ trốn khỏi địa phương mà tài sản bảo đảm  không có tranh chấp, tài sản bảo đảm là đất trống…; còn khi khách hàng không hợp tác bàn giao tài sản hoặc chống đối khi tiến hành thu giữ mà sự phối hợp của các cơ quan hữu quan tại địa phương trong một số trường hợp chưa kịp thời (như xác minh thông tin khách hàng, hỗ trợ thu giữ tài sản bảo đảm)… cũng làm ảnh hưởng đến công tác xử lí thu hồi nợ xấu, dẫn đến việc thu giữ thường không đạt được kết quả6
 
Ngoài ra, một trong những điều kiện để các chủ thể có thể thực hiện quyền thu giữ tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 là: “Tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, hiện nay lại không có cơ chế hỗ trợ các NHTM tiếp cận các thông tin này. Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự hiện nay chưa có hệ thống dữ liệu cho phép các NHTM trích xuất, tra cứu thông tin tài sản có liên quan đến vụ việc đang được thụ lí giải quyết để xác định tài sản bảo đảm có đủ điều kiện để thu giữ hay không. Bên cạnh đó, chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể về xác định tài sản nào đang tranh chấp, tài sản nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, dẫn đến cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn khi áp dụng quy định về thu giữ tài sản theo Nghị quyết số 42/2017/QH147.
 
Từ những điểm bất cập về hoạt động mua bán nợ mà NHTM tại Việt Nam đang gặp phải, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện đối với hoạt động này như sau:
 
Một là, để phát triển thị trường mua, bán nợ của NHTM tại Việt Nam, cần hoàn thiện khung pháp lí đồng bộ, điều này sẽ hỗ trợ rất lớn cho hoạt động xử lí nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng, đặc biệt là xây dựng thông tư riêng về hoạt động mua, bán nợ tại NHTM. Do đó, NHNN cần tiếp tục dành sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để các NHTM hoạt động hiệu quả, thực hiện được đầy đủ chức năng nhiệm vụ, sứ mệnh được giao, từng bước tiến tới xây dựng thị trường mua, bán nợ tập trung trong tương lai.
 
Hai là, nhanh chóng hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn thẩm định giá với khoản nợ tín dụng tại NHTM. Việc sớm ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá khoản nợ tín dụng sẽ giúp cho các chủ thể trong giao dịch mua, bán nợ và đơn vị thẩm định giá thuận lợi hơn trong quá trình xác định giá trị khoản nợ. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá khoản nợ tín dụng, cần lưu ý đến các đặc tính riêng biệt của loại tài sản này so với các tài sản thông thường. Đặc biệt, khi xem xét đến tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng thanh toán nợ và các nguồn trả nợ khác (ngoài tài sản bảo đảm) của khách nợ - một trong những yếu tố để xác định giá trị của khoản nợ cần lưu ý đến một số vấn đề như: Để đánh giá về tình hình hoạt động kinh doanh của khách nợ cần quy định rõ các tài liệu mà thẩm định viên cần thu thập để làm căn cứ xác định thực trạng hoạt động kinh doanh của khách nợ như báo cáo tài chính hằng năm, hằng quý (báo cáo kết quả kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ; báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu; bảng cân đối kế toán); báo cáo thuế; báo cáo xếp hạng tín nhiệm (các doanh nghiệp lớn)... Các tài liệu này cần phải được thu thập trong khoảng thời gian gần với thời điểm thẩm định giá, có thể xem xét lấy mốc thời gian là không quá 02 năm tính đến thời điểm thẩm định giá (tương tự như thời gian thu thập thông tin về các giao dịch của tài sản so sánh trong phương pháp tiếp cận từ thị trường) để đảm bảo phản ánh được chính xác về tình hình hoạt động kinh doanh của khách nợ tại thời điểm thẩm định giá trị khoản nợ. Đối với cách xác định khả năng thanh toán nợ và các nguồn thu hồi nợ khác (ngoài tài sản bảo đảm) của khách nợ, cần đảm bảo tính độc lập và khách quan. Theo quy định tại Dự thảo Thông tư ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá đối với khoản nợ tín dụng, việc xác định này sẽ dựa trên xác nhận của tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định giá. Cách thức quy định này có thể dẫn đến thực trạng các chủ thể bán nợ vì muốn khoản nợ được định giá cao hơn mà cung cấp xác nhận không chính xác, không phù hợp với tình trạng thực tế của khách nợ. Do đó, cần điều chỉnh quy định này theo hướng xác định khả năng thanh toán nợ và các nguồn thu hồi nợ khác (ngoài tài sản bảo đảm) của khách nợ phải căn cứ vào các tài liệu về tình hình hoạt động kinh doanh thực tế của khách nợ tại thời điểm thẩm định giá. Cũng có thể tham khảo thực tiễn hiện nay, một số tổ chức thẩm định giá căn cứ vào cam kết thanh toán của khách nợ để đánh giá về khả năng thanh toán nợ và các nguồn thu hồi nợ khác (ngoài tài sản bảo đảm) của khách nợ.
 
Ba là, cần hoàn thiện cơ chế đăng kí biện pháp bảo đảm khi bên nhận thế chấp là các cá nhân, tổ chức kinh tế thông thường không phải NHTM. Việc đăng kí lại biện pháp bảo đảm cho người mua nợ sau khi hoàn tất giao dịch mua, bán nợ với NHTM là đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người mua nợ. Do đó, cần nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để có thể thu hút được nhiều hơn các cá nhân, tổ chức thông thường tham gia mua, bán nợ của NHTM.
 
Bốn là, hoàn thiện quy định và tăng cường khả năng thực thi pháp luật về quyền thu giữ tài sản của người mua nợ. Khi hoàn tất giao dịch mua, bán nợ với NHTM, các quyền năng của NHTM cần phải được chuyển giao toàn bộ cho bên mua nợ, như vậy, nếu NHTM có quyền thu giữ tài sản thì bên mua nợ cũng cần có được quyền năng này. Trong thời gian tới cần bổ sung các quy định ghi nhận quyền thu giữ tài sản cho các chủ thể mua nợ nói chung, không phân biệt là cá nhân hay tổ chức. Ngoài ra, để bảo đảm quyền thu giữ tài sản không chỉ là quyền trên “giấy”, cần có cơ chế bảo đảm sự phối hợp và hỗ trợ kịp thời của các cơ quan chức năng (Ủy ban nhân dân, công an địa phương...) đối với NHTM và các chủ thể mua nợ trong việc thực hiện quyền thu giữ tài sản. Các cơ quan tiến hành tố tụng như tòa án, cơ quan thi hành án dân sự cũng cần thiết lập hệ thống truy xuất thông tin để NHTM và người mua nợ dễ dàng xác định tài sản bảo đảm có liên quan đến vụ việc đang được thụ lí giải quyết hay có đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không; đồng thời, ban hành các hướng dẫn cụ thể để xác định tài sản nào đang tranh chấp, tài sản nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn hệ thống. Trong tương lai không xa, mua, bán nợ sẽ là một phương thức hữu hiệu giúp cho các NHTM có thể xử lí được các khoản nợ, đặc biệt là nợ xấu. Tuy nhiên, muốn đẩy mạnh được hoạt động mua, bán nợ thì việc hoàn thiện quy định pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của người mua nợ là vấn đề cấp thiết cần phải nhanh chóng thực hiện. Bởi chỉ khi quyền và lợi ích của người mua nợ được đảm bảo mới thu hút được sự tham gia của nhiều nhà đầu tư, qua đó hình thành một thị trường mua, bán nợ hoạt động hiệu quả, chuyên nghiệp.
 
Năm là, hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng của NHTM phù hợp với định hướng phát triển thị trường mua bán nợ. Trong những năm gần đây, các chủ thể tham gia thị trường tài chính quốc tế đang sử dụng rộng rãi nghiệp vụ mua, bán nợ. Nghiệp vụ này có công dụng chính là làm tăng tính thanh khoản và tính hiệu quả trong việc đầu tư vốn trên thị trường của các nhà đầu tư. Ngoài ra, nghiệp vụ mua, bán nợ còn được xem là công cụ để Nhà nước tiến hành điều tiết, kiểm soát các hoạt động tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế nhằm hướng tới một nền kinh tế phát triển ổn định. Hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng của NHTM đảm bảo sự đa dạng hóa nguồn vốn và chủ thể tham gia vào mua, bán nợ. Trước tiên cần phải thấy rằng, nợ xấu của hệ thống ngân hàng gây tác động tiêu cực đối với các NHTM nói riêng và tình hình kinh tế - xã hội nói chung. Vì vậy, giải quyết nợ xấu thông qua hoạt động mua, bán nợ không chỉ là nhiệm vụ của NHTM hay NHNN. Cần thiết phải coi đây là nhiệm vụ của toàn xã hội, từ đó có kế hoạch và phương án huy động các chủ thể và các nguồn vốn khác nhau tham gia mua, bán nợ của các NHTM. Việc này một mặt giảm áp lực lên ngân sách nhà nước, mặt khác thúc đẩy hoạt động huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội. Hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng của NHTM, bảo đảm sự độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN, đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế và cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu và là đòi hỏi khách quan của quá trình hợp tác quốc tế. Xu thế này đang dần bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Cũng như các hiện tượng khác, xu thế toàn cầu hóa cũng có tính hai mặt. Một mặt, nó có tác dụng thúc đẩy quá trình hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực của các nền kinh tế. Mặt khác, nó cũng làm gia tăng cạnh tranh và đặt ra những thách thức đối với năng lực và trình độ của mỗi quốc gia. Chính điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những chủ trương, chính sách phù hợp để tham gia vào quá trình này.
 
5. Kết luận
 
Nhìn chung, khung pháp luật về mua, bán nợ của NHTM ngày càng hoàn thiện, không chỉ hình thành được khung pháp lí tương đối hoàn chỉnh mà các nội dung quy định cũng dần trở nên đầy đủ, cụ thể hơn, từ đó góp phần không nhỏ vào việc phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM, tạo điều kiện cho các NHTM quản trị nguồn vốn tín dụng an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế triển khai các quy định pháp luật về mua, bán nợ của NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Hệ thống các quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, đầy đủ và rõ ràng. Điều đó thể hiện tình trạng tản mát, không tập trung và thiếu tính hệ thống trong quy định của pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của NHTM, thậm chí còn có những nội dung chồng chéo, không thống nhất, gây ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và quản lí giám sát. Ngoài ra, công tác xây dựng pháp luật còn chưa thực sự gắn kết với tổ chức thực hiện pháp luật, làm giảm hiệu quả thi hành pháp luật. Do đó, hoàn thiện các quy định pháp luật về mua, bán nợ của NHTM không những giúp hoạt động này diễn ra dễ dàng, thuận lợi hơn, hạn chế rủi ro pháp lí cho các bên tham gia vào giao dịch, mà còn mang lại lợi ích lâu dài, đó là giải quyết tình trạng nợ xấu, nợ khó có khả năng thu hồi, thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua, bán nợ, giúp lành mạnh hệ thống ngân hàng.
 

1 Báo Đấu thầu, nợ xấu nội bảng lên mức 3,56%.
2 Xuân Yên (2023), Gánh nợ xấu thêm nặng, Báo Đấu thầu, nợ xấu ngân hàng dần bộc lộ, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/ganh-no-xau-them-nang-post326818.html
3 Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
4 Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lí nợ xấu của các TCTD.
5 Điểm b khoản 1 Điều 16 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
6 Chính phủ (2022), Báo cáo Tổng kết thực hiện Nghị quyết 42 và đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lí nợ xấu, tài sản bảo đảm, trang 23.
7 Chính phủ (2022), Báo cáo Tổng kết thực hiện Nghị quyết 42 và đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lí nợ xấu, tài sản bảo đảm, trang 23.
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD.
3. Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
4. Báo cáo Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 và đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lí nợ xấu, tài sản bảo đảm.
 
ThS. Trần Linh Huân, Nguyễn Thị Kim Anh (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)
ThS. Phạm Thị Hồng Tân (Trường Đại học Phan Thiết)
ThS. Đỗ Thị Lan Anh (Trường Đại học Hùng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh)
 
 
 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 1.638 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.796 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 1.615 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 2.768 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.909 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.587 lượt xem
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.677 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 3.212 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 2.212 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 2.576 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 8.177 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.862 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.654 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 2.147 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương sau khủng hoảng
Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương sau khủng hoảng
27/12/2023 3.455 lượt xem
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007 - 2009, đặc biệt là sự sụp đổ của tập đoàn ngân hàng Lehman Brothers đã gây chao đảo hệ thống tài chính Mỹ và châu Âu, sau đó gây tác động lan truyền đến nhiều nước khác và đẩy thế giới vào thời kì suy thoái trầm trọng kéo dài.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?