Hưởng ứng Ngày Khoa học & Công nghệ Việt Nam năm 2024 ngành Ngân hàng Thúc đẩy tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
15/05/2024 837 lượt xem
Tóm tắt: Tài chính toàn diện ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển, ổn định kinh tế của mỗi quốc gia. Nghiên cứu thực hiện phân tích thực trạng thúc đẩy tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) trên các góc độ: Nhà cung cấp dịch vụ (NHCSXH); người sử dụng dịch vụ (khách hàng của NHCSXH) và một số nhân tố khác. Từ đó, nhóm tác giả đánh giá những kết quả đã đạt được trong thúc đẩy tài chính toàn diện của NHCSXH cũng như những điểm còn tồn tại, hạn chế. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện tại NHCSXH.

Từ khóa: Tài chính toàn diện, thúc đẩy tài chính toàn diện, NHCSXH.

PROMOTING THE FINANCIAL INCLUSION AT THE VIETNAM BANK FOR SOCIAL POLICIES

Abtrast: Financial inclusion plays a crucial role in the development and economic stability of every country. The study conducts an analysis of the current situation regarding the promotion of financial inclusion at the Vietnam Bank for Social Policies (VBSP) from various perspectives: Service providers (VBSP), service users (customers), and other environmental factors. Consequently, it evaluates the achieved results in promoting the financial inclusion at VBSP, as well as identifying existing strengths and limitations. Based on these findings, the authors propose solutions to promote the financial inclusion at VBSP.

Keywords: Financial inclusion, promoting financial inclusion,  VBSP.

1. Đặt vấn đề

Sự ảnh hưởng của tài chính toàn diện đến phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xóa đói, giảm nghèo và giảm bất bình đẳng đã được các nhà nghiên cứu, các tổ chức tài chính quốc tế cũng như chính phủ các quốc gia ghi nhận. Vì vậy, nhiều chương trình đã được các tổ chức quốc tế triển khai trong mục tiêu thúc đẩy phát triển tài chính toàn diện, cụ thể: Tổ chức Liên hợp quốc đã triển khai các chương trình thông qua Quỹ Đầu tư phát triển Liên hợp quốc; các nước G20 đã thống nhất bộ nguyên tắc cho tài chính toàn diện và đây cũng là những trọng tâm của kế hoạch hành động Nhóm G20. ASEAN coi tài chính toàn diện là một trong ba trụ cột của Tầm nhìn Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) 2025 về hội nhập tài chính và đã thành lập Nhóm công tác về tài chính toàn diện để thúc đẩy lĩnh vực này trong khu vực; Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã xây dựng các chương trình, dự án để thúc đẩy tài chính toàn diện tại nhiều quốc gia. Có rất nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển đã và đang xây dựng khuôn khổ, chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện như Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia và bước đầu đạt được những kết quả tích cực.

Việt Nam, quốc gia có nền kinh tế đang phát triển với quy mô dân số hơn 90 triệu dân, cũng không đứng ngoài xu thế trên. Tại NHCSXH, khách hàng chủ yếu là người nghèo và các đối tượng chính sách, sinh sống chủ yếu tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa... Vì vậy, NHCSXH có vai trò quan trọng trong phát triển hệ thống tài chính toàn diện tại Việt Nam, cần tiếp tục nghiên cứu mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi cá nhân và tổ chức là đối tượng chính sách đặc biệt, là nhóm dân cư thiệt thòi và nhóm thu nhập thấp, góp phần mở rộng tiếp cận và sử dụng được các sản phẩm và dịch vụ tài chính chính thống trên nền tảng kỹ thuật mới với chi phí hợp lý. Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu thực trạng tài chính toàn diện tại NHCSXH và đưa ra giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện tại NHCSXH là rất cần thiết.

2. Thực trạng tài chính toàn diện tại NHCSXH

Để đánh giá tài chính toàn diện tại NHCSXH, nhóm nghiên cứu đã thực hiện xây dựng ba mẫu phiếu khảo sát với số lượng 550 phiếu để thu thập thêm thông tin đánh giá về thực trạng thúc đẩy tài chính toàn diện tại NHCSXH, cụ thể như sau:

Thứ nhất, mẫu phiếu khảo sát số 01/KS với nội dung trên 30 đến dưới 40 chỉ tiêu, thực hiện khảo sát khách hàng vay vốn và khách hàng chỉ mở tài khoản tại NHCSXH. Số lượng phiếu khảo sát đối với mẫu này là 251 phiếu.

Thứ hai, mẫu phiếu khảo sát số 02/KS với nội dung trên 30 đến dưới 40 chỉ tiêu, thực hiện khảo sát cán bộ lãnh đạo quản lý NHCSXH cấp tỉnh và cấp huyện. Số lượng phiếu khảo sát đối với mẫu này là 152 phiếu.

Thứ ba, mẫu phiếu khảo sát số 03/KS với nội dung đến 30 chỉ tiêu thực hiện khảo sát các đối tượng cán bộ kiêm nhiệm, phối hợp thực hiện tín dụng chính sách xã hội như Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, Ban giảm nghèo cấp xã, tổ chức chính trị - xã hội và Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn (TTKVV). Số lượng phiếu khảo sát đối với mẫu này là 160 phiếu.

Nhóm nghiên cứu đã triển khai thực hiện khảo sát tại 15 tỉnh đại diện cho ba miền trong cả nước: Miền Bắc, miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam. Tại miền Bắc, nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát tại 5 tỉnh: Sơn La, Thái Nguyên, Hưng Yên, Ninh Bình, Quảng Ninh. Tại miền Trung - Tây Nguyên, nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát tại 5 tỉnh: Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Lâm Đồng. Còn tại miền Nam, nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát tại 5 tỉnh: Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Cần Thơ và Kiên Giang.

2.1. Nhà cung cấp dịch vụ (NHCSXH)

a) Mạng lưới giao dịch tại NHCSXH

Theo báo cáo kết quả hoạt động của NHCSXH, đến ngày 31/12/2023, NHCSXH có tổng số 63 chi nhánh cấp tỉnh, 628 phòng giao dịch cấp huyện. Ngoài ra, NHCSXH còn là ngân hàng duy nhất tổ chức giao dịch định kỳ tại trụ sở các UBND cấp xã trên toàn quốc. Hệ thống NHCSXH có 10.452 điểm giao dịch xã, phường, thị trấn. Trong đó, có 10.395 điểm giao dịch xã độc lập, 57 điểm giao dịch liên phường của 130 phường và 78 xã, phường, thị trấn, thực hiện giao dịch vào một ngày cố định trong tháng tại trụ sở UBND cấp xã hoặc trụ sở NHCSXH nơi cho vay. Thông tin về địa điểm, thời gian giao dịch tại các điểm giao dịch xã được niêm yết công khai trên website của NHCSXH và được cập nhật thường xuyên khi có sự thay đổi, điều chỉnh. Hoạt động giao dịch xã đã thực hiện trung bình 97% tổng giá trị giao dịch của NHCSXH với khách hàng. Trong đó, tỉ lệ giao dịch giải ngân tại điểm giao dịch xã trung bình là 97%; tỉ lệ giao dịch thu lãi tại điểm giao dịch xã đạt 99%; tỉ lệ giao dịch thu nợ gốc tại điểm giao dịch xã đạt 94%.

Đến ngày 31/12/2023, NHCSXH có 168.385 TTKVV. TTKVV đóng vai trò nền tảng trong hoạt động của NHCSXH kể từ khi thành lập, mạng lưới TTKVV là cầu nối giữa NHCSXH với người vay, giúp chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến các đối tượng được thụ hưởng nhanh chóng, hiệu quả, tiết giảm tối đa chi phí. Ban quản lý TTKVV được NHCSXH ủy nhiệm thực hiện một số nội dung công việc trong quy trình cho vay, như: Tuyên truyền về tín dụng chính sách, hỗ trợ tổ viên gia nhập tổ, tiếp nhận Giấy đề nghị vay vốn, bình xét cho vay, hỗ trợ quá trình sử dụng vốn, đôn đốc người vay trả nợ, trả lãi, thu lãi, thu tiền gửi của tổ viên và giao dịch với NHCSXH định kỳ vào ngày giao dịch xã. Vì vậy, hoạt động ủy nhiệm của Ban quản lý  TTKVV đóng góp một phần mắt xích trong mạng lưới giao dịch của NHCSXH để cung cấp tín dụng chính sách đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Khảo sát về địa điểm giao dịch của NHCSXH, có 244/251 khách hàng trả lời địa điểm giao dịch của NHCSXH thuận lợi, tốt (chiếm 97,2%) và 07/251 ý kiến trả lời bình thường (chiếm 2,8%). Đồng thời, có 66/251 khách hàng có khoảng cách từ nhà đến điểm giao dịch xã của NHCSXH dưới 1km; 106/251 khách hàng có khoảng cách từ nhà đến điểm giao dịch xã của NHCSXH trên 1km đến 3km và 79/251 khách hàng có khoảng cách từ nhà đến điểm giao dịch xã của NHCSXH trên 3km.

b) Sự phù hợp của sản phẩm, dịch vụ tài chính tại NHCSXH

Với đối tượng khách hàng chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, vùng khó khăn, những người yếu thế, khó vay vốn từ các ngân hàng thương mại, NHCSXH đã phát triển nhiều sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu của người dân. Hiện tại, NHCSXH đang cung cấp hơn 20 chương trình cho vay phục vụ các đối tượng với nhu cầu khác nhau như cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cho vay sản xuất, kinh doanh vùng khó khăn, cho vay xuất khẩu lao động... Trong đó:

Nhóm các chương trình tín dụng chính sách đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo sinh kế, tạo việc làm: Đối tượng thụ hưởng là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ sản xuất kinh doanh/thương nhân hoạt động thương mại ở vùng khó khăn, người lao động, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, đồng bào dân tộc thiểu số…

Đến ngày 31/12/2023, tổng dư nợ tín dụng chính sách đạt trên 331.924 tỉ đồng với hơn 6,8 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ. Riêng dư nợ phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tạo sinh kế và việc làm, bao gồm: Cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, cho vay hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn, cho vay giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động… đạt 241 nghìn tỉ đồng, chiếm 72,6% tổng dư nợ. Số liệu này cho thấy, tầm quan trọng của tín dụng chính sách đối với công tác giảm nghèo bền vững, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động.

Nhóm các chương trình tín dụng chính sách nhằm giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu trong đời sống được thiết kế nhằm hỗ trợ hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác... được vay vốn ưu đãi để xây dựng, sửa chữa nhà ở, mua/thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng nhà phòng, chống bão lụt, xây dựng công trình cung cấp nước sạch, nhà vệ sinh quy mô hộ gia đình, trang trải chi phí học tập cho học sinh, sinh viên… Đến ngày 31/12/2023, dư nợ cho vay là 90.000 tỉ đồng (chiếm 27,1% tổng dư nợ) trong đó: Cho vay nhà ở 19.969 tỉ đồng, cho vay xây dựng công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 53.787 tỉ đồng, cho vay phục vụ nhu cầu học tập là 16.305 tỉ đồng.

Nhóm các chương trình tín dụng chính sách nhằm hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Kết thúc đợt giải ngân ngày 31/3/2022, NHCSXH đã thực hiện 36 đợt vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước để cho vay các đối tượng theo quy định tại 63 chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố với tổng số tiền 4.787 tỉ đồng cho 3.561 lượt khách hàng
1 (người sử dụng lao động) để trả lương cho 1.218.948 lượt người lao động, với 1.548 doanh nghiệp được thụ hưởng chính sách. Đến ngày 31/12/2023, dư nợ chương trình còn là 12,2 tỉ đồng, với 16 khách hàng còn dư nợ; số vốn thu hồi nợ là 4.774,8 tỉ đồng, với 3.545 khách hàng đã tất toán.

Nhóm các chương trình tín dụng chính sách hỗ trợ cho người quay lại gia nhập cộng đồng như cho vay người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người chấp hành xong án phạt tù và triển khai một số dự án vay vốn nước ngoài cho mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Đến ngày 31/12/2023, có dư nợ là 886 tỉ đồng, chiếm 0,3% tổng dư nợ.

Các chương trình cho vay của NHCSXH đều được áp dụng mức lãi suất ưu đãi, thấp hơn so với lãi suất thị trường để giảm bớt khó khăn về tài chính cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Bên cạnh đó, hoạt động cho vay, thu nợ, thu lãi, nhận tiền gửi tiết kiệm… của NHCSXH được cung cấp theo cách thuận tiện và hoàn toàn không thu phí, phục vụ ngay tại điểm giao dịch xã thay vì tại trụ sở NHCSXH huyện để tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Lịch giao dịch xã được ấn định vào ngày cố định để hộ vay dễ nhớ và được niêm yết công khai ngày, giờ để nhân dân thực hiện và giám sát.

Ngoài các sản phẩm tín dụng, NHCSXH còn có các sản phẩm dịch vụ khác như dịch vụ chuyển tiền kiều hối Western Union, dịch vụ mở tài khoản, đặc biệt là sản phẩm tiết kiệm được thiết kế riêng cho người nghèo và đối tượng chính sách. Đó là sản phẩm tiết kiệm cho người nghèo tham gia vào TTKVV. Các tổ trưởng nhận tiền gửi từ các thành viên trong tổ, thường là những món tiền rất nhỏ, sau đó hằng tháng nộp cho cán bộ NHCSXH tại điểm giao dịch xã vào ngày giao dịch xã theo quy định. Các thành viên có thể dùng tiền tiết kiệm để trả nợ, trả lãi bằng chuyển khoản cho NHCSXH hoặc rút ra khi cần thiết.

Từ cuối năm 2016, NHCSXH triển khai nhận tiền tiết kiệm dân cư tại điểm giao dịch xã, bất kỳ người dân nào đủ năng lực dân sự đều có thể chọn gửi tiền tại điểm giao dịch xã của NHCSXH thay vì phải đi đến các trụ sở ngân hàng xa nơi họ sinh sống. Sản phẩm đem lại sự tiện lợi cho khách hàng sinh sống ở xa trung tâm đô thị.

Đối với những khách hàng gặp rủi ro khách quan, chưa có khả năng trả nợ, NHCSXH áp dụng các chính sách gia hạn nợ, cho vay lưu vụ, khoanh nợ để tạo điều kiện cho khách hàng duy trì sản xuất, kinh doanh, có nguồn thu để trả nợ. Đối với những trường hợp mất khả năng trả nợ vì lý do khách quan như người vay qua đời, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn người thừa kế hoặc người thừa kế hoàn toàn không có khả năng trả nợ, sẽ được Ban quản lý TTKVV, hội đoàn thể cấp xã cùng địa phương phối hợp với NHCSXH xem xét, đề nghị Chính phủ xóa nợ.

c) Chính sách hoạt động của NHCSXH

Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác quy định, NHCSXH là ngân hàng chính sách do Thủ tướng Chính phủ thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội.

Về nguyên tắc, mục tiêu hoạt động, Nhà nước tập trung nguồn lực cho NHCSXH để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội của Nhà nước phù hợp với các chương trình mục tiêu quốc gia và các nội dung của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

NHCSXH thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách xã hội, phát triển đa dạng các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ đem lại tiện ích cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhằm thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Chính vì vậy, NHCSXH là đòn bẩy kinh tế của Nhà nước, thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ người yếu thế trong xã hội. Đặc biệt, ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các chính sách bắt nguồn từ Chính phủ và NHCSXH là đơn vị thực hiện các chính sách cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách, đối tượng thụ hưởng chính sách.

Từ khi thành lập đến nay, NHCSXH đã thực hiện tốt nhiệm vụ là một đơn vị thực hiện các chính sách mà Chính phủ giao, góp phần giảm nghèo và an sinh xã hội, đã được Đảng và Chính phủ đánh giá cao.

2.2. Người sử dụng dịch vụ (khách hàng của NHCSXH)

a) Về giới tính, độ tuổi, trình độ giáo dục, thu nhập

Về giới tính: Nhóm nghiên cứu đã khảo sát ngẫu nhiên 251 khách hàng thì có 109 khách hàng là nam giới, 142 khách hàng là nữ giới. Nhìn chung, khách hàng của NHCSXH vẫn chủ yếu do phụ nữ đứng tên đại diện hộ gia đình tham gia vay vốn tại NHCSXH. Theo kết quả điều tra, khách hàng nữ dường như có đánh giá cao hơn so với nam giới về một số khía cạnh áp dụng dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động. Tỉ lệ khách hàng nữ hài lòng với tất cả các nhận xét tích cực về dịch vụ thông báo qua tin nhắn SMS (51,9%), cao hơn so với nam giới (47,9%); tỉ lệ cài đặt ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách ở khách hàng nữ là 15,7% so với khách hàng nam giới là 11,8%; mức độ sử dụng ứng dụng SmartBanking của khách hàng nữ cũng thường xuyên hơn so với khách hàng nam (tỉ lệ khách hàng nữ đã cài đặt ứng dụng, nhưng không sử dụng là 11,8%, so với 18,1% ở nam giới). Tương tự, các nữ tổ trưởng  TTKVV có vẻ thao tác trên ứng dụng Quản lý tín dụng chính sách thành thạo hơn so với các nam tổ trưởng, cụ thể là có 38,7% nữ tổ trưởng thấy việc cài đặt ứng dụng khá dễ dàng, so với 33,3% nam tổ trưởng; bên cạnh đó, 67,6% nữ tổ trưởng cho biết có thể dễ dàng thao tác tất cả các tính năng trên ứng dụng, so với 60,7% nam tổ trưởng. Các thông tin định lượng này cho thấy phụ nữ có xu hướng cởi mở hơn nam giới về mức độ sẵn sàng thử nghiệm các tính năng mới và áp dụng công nghệ di động mới.

Về độ tuổi: Khách hàng của NHCSXH có độ tuổi từ 18 tuổi đến 70 tuổi, tuy nhiên, tập trung chủ yếu ở mức tuổi từ 40 đến 60 tuổi (có 147/251 người được khảo sát ở độ tuổi này, chiếm 58,6%); dưới 40 tuổi (có 66/251 người tham gia khảo sát, chiếm 26,3%) và trên 60 tuổi đến 70 tuổi (có 38/251 người tham gia khảo sát, chiếm 15,1%).

Về trình độ giáo dục: Khách hàng của NHCSXH có đầy đủ trình độ giáo dục từ chỗ không biết chữ đến tốt nghiệp trường nghề, cao đẳng, đại học và sau đại học. Khảo sát 251 khách hàng, cho thấy kết quả như Bảng 1:

 
Bảng 1: Trình độ khách hàng NHCSXH tham gia khảo sát (n=251)

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp

Khách hàng cơ bản tốt nghiệp cấp 2 (chiếm 35,9%) và cấp 3 (29,9%). Tuy nhiên, cũng có khách hàng không biết chữ.

Về thu nhập: Khách hàng để được vay vốn tại NHCSXH chủ yếu là hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác. Hầu hết là khách hàng có thu nhập thấp, theo chuẩn nghèo, cận nghèo của Chính phủ từng giai đoạn. Bên cạnh đó còn có khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cụ thể, quy định thu nhập của khách hàng NHCSXH theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 như sau:

- Đối với chương trình cho vay hộ nghèo: Hộ nghèo ở nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ nghèo ở thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

- Đối với chương trình cho vay hộ cận nghèo: Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

- Đối với chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo: Là các hộ đã từng là hộ nghèo, hộ cận nghèo nay đã thoát nghèo, được UBND cấp xã xác nhận. Thời gian thoát nghèo được tính từ khi hộ được ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo tối đa là 03 năm.

- Đối với chương trình cho vay học sinh, sinh viên: Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi, thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình (giai đoạn 2022 - 2025, hộ có mức sống trung bình khu vực nông thôn là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng; khu vực thành thị là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng); hộ bị thu hồi đất; hộ có mức thu nhập bình quân đầu người bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo.

- Đối với chương trình cho vay người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, thân nhân người có công với cách mạng, hộ bị thu hồi đất nông nghiệp.

- Đối với chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Khách hàng là hộ gia đình cư trú hợp pháp tại địa phương thuộc khu vực nông thôn chưa có công trình nước sạch, công trình vệ sinh hoặc đã có nhưng chưa đạt tiêu chuẩn và chưa bảo đảm vệ sinh. Ngoài ra, còn có một số chương trình quy định cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hợp tác xã, hộ sản xuất, kinh doanh, thương nhân hoạt động thương mại thường xuyên tại vùng khó khăn (là những doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô nhỏ về người lao động cũng như nguồn vốn và doanh thu hằng năm). Qua đây có thể thấy, thu nhập của khách hàng của NHCSXH ở mức thấp, mức khó khăn về kinh tế, có những đối tượng có mức thu nhập không thể đủ để giải quyết các nhu cầu thiết yếu.

b) Về nơi sống

Khách hàng của NHCSXH sống chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn... Khảo sát 251 khách hàng thì chủ yếu là khách hàng vay chương trình cho vay hộ cận nghèo, vay giải quyết việc làm. Nghề nghiệp của họ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Trong đó, có 215/251 khách hàng trả lời khảo sát là người dân tộc kinh; 36 người là dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Thái, Dao, Cơ Ho, Khơ Me, Ba Na, Gia Rai. Với khảo sát này có thể thấy, khách hàng của NHCSXH là các đối tượng sống chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

c) Việc truy cập internet

Theo báo cáo của VNETWORK (tháng 01/2023), Việt Nam có tổng cộng 77,93 triệu người dùng internet, đạt tỉ lệ sử dụng internet là 79,1% trên tổng dân số. Theo phân tích của Kepios (Tổ chức chuyên theo dõi người dùng trực tuyến trên thế giới), số lượng người dùng internet tại Việt Nam đã tăng thêm 5,3 triệu người (+7,3%) so với năm 2022. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 20,9% dân số Việt Nam, tức là 20,6 triệu người không sử dụng internet vào đầu năm 2023.

Khi khảo sát 251 khách hàng NHCSXH về việc có sử dụng điện thoại để gọi, nhận cuộc gọi cá nhân trong 01 tháng thì có 239/251 người có sử dụng (chiếm 95,2%) và 12/251 người không sử dụng (chiếm 4,8%). Cũng trong số khách hàng này thì có 204/251 người có điện thoại di động, máy tính hoặc thiết bị khác có kết nối internet (chiếm 81,2%); 29/251 người không sử dụng điện thoại di động, máy tính hoặc thiết bị khác có kết nối internet (chiếm 11,6%) và 18/251 người không có thiết bị có kết nối internet (chiếm 7,2%).

Theo báo cáo nghiên cứu về “dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động - phổ cập dịch vụ tài chính và tạo quyền năng kinh tế cho người thu nhập thấp và phụ nữ ở Việt Nam giai đoạn 2019 - 2023” của Quỹ châu Á, vẫn còn số lượng đáng kể khách hàng của NHCSXH và một bộ phận nhỏ tổ trưởng TTKVV, nhất là người dân trên các địa bàn nông thôn, điều kiện khó khăn và hẻo lánh gặp hạn chế về tiếp cận, sử dụng điện thoại thông minh và các công nghệ kỹ thuật số. Kết quả điều tra về tình hình kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số do Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc thực hiện năm 2019 cho thấy, ngay ở vùng dân tộc thiểu số, khoảng 92,5% hộ gia đình (93,3% hộ gia đình nam làm chủ, 88,4% hộ gia đình phụ nữ làm chủ) có điện thoại bàn hoặc điện thoại di động. Một khảo sát tương tự chỉ ra rằng, 61,3% hộ gia đình có kết nối internet (qua wi-fi, 3G hoặc cáp quang, trong đó 61,4% hộ gia đình nam làm chủ và 59,9% hộ gia đình phụ nữ làm chủ). Xem xét khác biệt giữa các vùng miền, Tây Nguyên dường như có tỉ lệ hộ gia đình dân tộc thiểu số sở hữu thiết bị điện thoại di động thấp nhất (84,6%, với tỉ lệ tương ứng đối với hộ gia đình do nam giới làm chủ là 86,5% và hộ gia đình do phụ nữ làm chủ là 78,1%). Các số liệu thống kê quốc gia hoàn toàn tương đồng với số liệu thực tế về tỉ lệ sở hữu thiết bị điện thoại (di động) của hộ gia đình dân tộc thiểu số ở một huyện được chọn khảo sát thực địa của tỉnh Đắk Lắk, khu vực Tây Nguyên trong nghiên cứu đánh giá này. Ví dụ, tại huyện Krông Bông, có 6.236 trong tổng số 12.931 khách hàng sở hữu điện thoại di động, chiếm khoảng 50%. Mức độ sử dụng thành thạo điện thoại thông minh còn khá thấp. Tham vấn tổ trưởng TTKVV và khách hàng của NHCSXH tại các chi nhánh khảo sát cho thấy, có một bộ phận người cao tuổi (cả nam và nữ) và người dân tộc thiểu số bậc tuổi trung niên sở hữu thiết bị thông minh hiện đại nhưng chỉ dừng lại ở các chức năng nghe và gọi điện thoại, hiếm khi sử dụng các tương tác trên ứng dụng mạng xã hội (như các nhóm zalo, facebook...). Với những người dân này, việc sử dụng ứng dụng SmartBanking với khả năng tiết giảm thời gian thực hiện giao dịch ngân hàng có lúc chưa phải điều họ quan tâm. Một trong số các lý do chính nằm ở vấn đề tuổi tác, như là mức độ tập trung chú ý, sức khỏe thể chất, tinh thần, suy giảm trí nhớ và các giác quan... khiến người lớn tuổi gặp khó khăn nhất định khi thao tác trên các thiết bị công nghệ kỹ thuật số mới.

d) Về mức độ tin tưởng vào NHCSXH

NHCSXH được thành lập và gắn kết với hộ nghèo và các đối tượng chính sách đã 22 năm. Khi khảo sát 251 khách hàng của NHCSXH, có 249 ý kiến trả lời tin tưởng vào NHCSXH (chiếm 99,2%); 01 ý kiến trả lời ít tin tưởng (chiếm 0,4%) và 01 ý kiến trả lời không biết (chiếm 0,4%). Kết quả khảo sát này cũng cho thấy, mức độ tin cậy của khách hàng vào NHCSXH rất cao, chiếm gần như tuyệt đối.

2.3. Một số nhân tố khác

a) Nhận thức của khách hàng NHCSXH và văn hóa tiêu dùng

Khách hàng của NHCSXH chủ yếu là hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Chính vì vậy, nhận thức, kiến thức về tài chính của họ cơ bản hạn chế hơn so với các khách hàng của các ngân hàng thương mại. Văn hóa tiêu dùng của họ vẫn cũng còn nhiều hạn chế. Họ chủ yếu sản xuất để tiêu dùng và vẫn tiêu dùng dưới hình thức mua bán trực tiếp tại các chợ truyền thống bằng tiền mặt.

Để nắm thêm thông tin về việc chi tiêu của khách hàng, nhóm nghiên cứu đã hỏi khách hàng về việc chi tiêu của họ, kết quả tổng hợp câu trả lời như sau:

“Ghi lại các khoản thu, chi của gia đình trong 12 tháng qua không?”: Có 73/251 khách hàng (chiếm 29,1%) trả lời có ghi chép các khoản thu, chi; 78/251 khách hàng (chiếm 70,9%) trả lời không ghi chép.

“Kế hoạch chi tiêu như thế nào?”: Có 48/251 khách hàng (chiếm 19,1%) trả lời có kế hoạch chi tiêu cụ thể; 64/251 khách hàng (chiếm 25,5%) trả lời có kế hoạch chi tiêu tùy vào mức nhu nhập phát sinh; 139/251 khách hàng (chiếm 55,4%) trả lời không có kế hoạch chi tiêu.

b) Cơ sở hạ tầng giao thông, mạng lưới internet và truyền thông

Về cơ sở hạ tầng giao thông: NHCSXH thực hiện giao dịch hằng tháng tại điểm giao dịch xã đóng tại trụ sở UBND xã. Thực tế, vẫn còn một số điểm giao dịch cơ sở hạ tầng giao thông còn khó khăn, chủ yếu ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Chính vì vậy, NHCSXH phải thực hiện đi giao dịch xã bằng xe máy, thuyền.

Về cơ sở hạ tầng mạng lưới internet: Theo báo cáo của VNETWORK, internet tại Việt Nam năm 2023 đang phát triển mạnh với 77 triệu người dùng (chiếm 79,1% dân số). Mạng xã hội cũng trở thành nền tảng quan trọng với hơn 70 triệu người tham gia.
Về truyền thông: Khảo sát thêm về đánh giá của cán bộ kiêm nhiệm, phối hợp thực hiện tín dụng chính sách xã hội và cán bộ NHCSXH về khách hàng nắm các quy định về sản phẩm tín dụng của NHCSXH cho rằng khách hàng nắm bắt đầy đủ thông tin về sản phẩm, dịch vụ của NHCSXH. (Bảng 2)

 
Bảng 2: Ý kiến của cán bộ kiêm nhiệm, phối hợp thực hiện tín dụng chính sách xã hội và cán bộ NHCSXH về khách hàng nắm thông tin sản phẩm, dịch vụ của NHCSXH

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp

Mặt khác, theo báo cáo của NHCSXH, đã triển khai một số hoạt động để tuyên truyền cho khách hàng về hoạt động của NHCSXH như sau:

Duy trì chuyên mục “Ngân hàng số” trên Website NHCSXH để truyền thông các hoạt động chuyển đổi số của NHCSXH. Hoàn thành sản phẩm quảng bá VBSP SmartBanking truyền thông trên nền tảng phát thanh và 10 posters quảng bá ứng dụng VBSP SmartBanking. Mở chuyên mục Giáo dục số trên Website NHCSXH để cung cấp bài giảng phục vụ triển khai chương trình Giáo dục số cho khách hàng của NHCSXH.

Trang zalo của NHCSXH đã thực hiện cập nhật hơn 60 tin, bài mới cung cấp thông tin về hoạt động của ngân hàng và đến nay đã có khoảng 19.500 người quan tâm. Phối hợp truyền thông về sự kiện NHCSXH hợp tác với Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) triển khai dịch vụ Chuyển nhanh NAPAS 247 và Chuyển nhanh NAPAS 247 bằng mã VietQR.

3. Đánh giá những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế

3.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, mạng lưới hoạt động của NHCSXH trải rộng trên địa bàn cả nước nên dễ dàng thúc đẩy tài chính toàn diện. Với mạng lưới trải rộng đến từng bản, làng (điểm giao dịch xã trên địa bàn cả nước, các TTKVV đến từng thôn, ấp, bản, làng), các chương trình tín dụng chính sách đã giúp hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương được tiếp cận vốn, vươn lên trong cuộc sống. Đồng thời, với mạng lưới gần dân, sát dân cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiết giảm chi phí, thời gian giao dịch với ngân hàng; cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp cận và ngân hàng nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của người dân để có những giải pháp phù hợp, đẩy mạnh việc tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính chính thức, hạn chế “tín dụng đen”.

Thứ hai, NHCSXH đã cung cấp được những sản phẩm, dịch vụ tài chính cơ bản cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác như các sản phẩm tín dụng, sản phẩm tiết kiệm và sản phẩm thanh toán. Những sản phẩm này đã được khách hàng là hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đón nhận tích cực. Đặc biệt là sản phẩm tín dụng đã tăng trưởng dư nợ qua các năm từ năm 2019 đến năm 2023.

Thứ ba, tín dụng chính sách là cầu nối để thúc đẩy các đối tượng yếu thế tiếp cận với các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm và tiếp cận công nghệ số trong quan hệ tín dụng. Việc triển khai các điểm giao dịch xã, thành lập TTKVV và đưa các nghiệp vụ về thực hiện tại cơ sở không chỉ giúp đảm bảo mục tiêu cho vay đúng đối tượng, hộ vay, thuận lợi trong việc thực hiện quy trình, thủ tục vay vốn, nâng cao hiệu quả vốn tín dụng mà còn tạo điều kiện để người nghèo, các đối tượng chính sách, người dân biết và tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính khác ngoài tín dụng.

Thứ tư, các chương trình tín dụng chính sách ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện cho nhiều đối tượng yếu thế (đối tượng mục tiêu của tài chính toàn diện) tiếp cận tín dụng để giải quyết các nhu cầu thiết yếu trong đời sống, phát triển sản xuất, kinh doanh, vươn lên thoát nghèo.

Thứ năm, thông qua các chương trình tín dụng chính sách, kiến thức và kỹ năng tài chính của các đối tượng yếu thế được cải thiện. Hơn 20 năm triển khai, các đối tượng thụ hưởng tín dụng chính sách, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đã có niềm tin tuyệt đối với NHCSXH và có sự chuyển biến tích cực trong tư duy, thay đổi cách nghĩ, cách làm, mạnh dạn vay vốn, chủ động tiếp cận ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh nhằm sử dụng vốn vay hiệu quả. Bên cạnh đó, việc phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác,  TTKVV trong việc triển khai nhanh chóng các chính sách tín dụng đến người nghèo và các đối tượng chính sách khác, chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức tài chính đã giúp nâng cao ý thức của người vay trong việc tuân thủ nguyên tắc tín dụng “có vay - có trả”; quản lý, sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; thực hành tiết kiệm, gửi góp định kỳ hằng tháng. Đồng thời, ứng dụng App giáo dục tài chính (NHCSXH-GDTC) thông qua điện thoại di động cũng là một kênh hữu ích cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng tài chính cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

3.2. Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thúc đẩy tài chính toàn diện tại NHCSXH còn những tồn tại, hạn chế:

Một là, năng lực của NHCSXH còn hạn chế. Tổng nguồn vốn của NHCSXH đến cuối năm 2023 là 346.278 tỉ đồng, thấp hơn nhiều so với các ngân hàng khác.

Hai là, sản phẩm chưa đa dạng để đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Hiện nay, NHCSXH mới cung cấp một số sản phẩm, dịch vụ cơ bản đó là sản phẩm tín dụng, sản phẩm tiết kiệm và sản phẩm thanh toán, chưa có sản phẩm thẻ tín dụng, bảo hiểm, trợ cấp… Mỗi sản phẩm vẫn chưa bao phủ được hết các đối tượng khách hàng của NHCSXH.

Ba là, một số sản phẩm tín dụng chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, chẳng hạn, mức cho vay một số chương trình (cho vay hộ nghèo làm nhà ở, cho vay hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn...) còn thấp, chưa phù hợp với tình hình thực tế do biến động của giá cả thị trường, phần nào đó tác động đến hiệu quả thực tế từ vốn vay chưa được như yêu cầu đặt ra. Hay, chưa có chính sách cho vay đối với hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn để xây dựng, sửa chữa nhà ở, trong khi nhà ở là một tiêu chí đánh giá việc tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản khi điều tra, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Bốn là, khách hàng chưa sử dụng nhiều tài khoản thanh toán của NHCSXH. Có 35,1% khách hàng của NHCSXH không mở tài khoản tại NHCSXH, 64,9% mở tài khoản nhưng trong đó có tới 65,7% không sử dụng. Ngoài ra, khả năng tiếp cận công nghệ số trong hoạt động với NHCSXH chưa được nhiều.

Năm là, khách hàng của NHCSXH chủ yếu là hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Chính vì vậy, nhận thức và kiến thức về tài chính của đa số khách hàng cơ bản hạn chế hơn so với các khách hàng của các ngân hàng thương mại. Văn hóa tiêu dùng của khách hàng cũng còn nhiều hạn chế. Khách hàng của NHCSXH ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa chủ yếu sản xuất để tiêu dùng và vẫn tiêu dùng dưới hình thức mua bán trực tiếp tại các chợ truyền thống bằng tiền mặt, các cơ sở kinh doanh có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính hạn chế, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, thiếu phương án, kế hoạch trong kinh doanh có tính khả thi dẫn đến tỉ suất lợi nhuận của nguồn vốn còn duy trì ở mức thấp và kém ổn định. Do đó, các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất kinh, doanh khó tiếp cận tín dụng.

4. Một số giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện tại NHCSXH

Từ những phân tích trên, nghiên cứu đưa ra một số giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện tại NHCSXH:

Thứ nhất, tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội để tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là các đối tượng chính sách.

Thứ hai, hoàn thiện chính sách và quy trình tín dụng tại NHCSXH. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá xếp hạng tín nhiệm nội bộ với khách hàng tiềm năng, kết hợp dữ liệu tài chính và hành vi. Thu thập thông tin khách hàng thông qua các kênh offline và online một cách chọn lọc để có thể phân tích mức độ rủi ro sớm của khách hàng.

Thứ ba, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng của cán bộ trong việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính.    
 
Thứ tư, tăng cường tuyên truyền, quảng bá hình ảnh NHCSXH và các sản phẩm, dịch vụ tài chính NHCSXH tới người dân.

Thứ năm, tăng cường chuyển đổi số nhanh và mạnh mẽ, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ, ứng dụng các sản phẩm công nghệ hiện đại và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử.



Trong đó: Trả lương ngừng việc là 1.267 lượt người sử dụng lao động vay số tiền 262 tỉ đồng, trả lương 73.460 lượt người lao động; trả lương phục hồi sản xuất cho 1.912 lượt người sử dụng lao động vay số tiền 4.241 tỉ đồng, trả lương cho 1.074.013 lượt người lao động; trả lương phục hồi sản xuất trong lĩnh vực hoạt động vận tải, hàng không, du lịch, dịch vụ lưu trú và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là 382 lượt người sử dụng lao động vay 284 tỉ đồng, trả lương cho 71.475 lượt người lao động.

Tài liệu tham khảo:

1. Allen F, Carletti E, Cull R, Qian J, Senbet L, Valenzuela P (2014). The african financial development and financial inclusion gaps. J Afr Econ 23(5) pages 614-642.
2. Beck, Thorsten, Asli Demirguc-Kunt, and Patrick Honohan (2008). Finance for All? Policies and Pitfalls in Expanding Access, Washington, DC: World Bank.
3. Báo cáo kết quả hoạt động của NHCSXH.
4. Cyn-Young, P. & Rogelio, M. (2015), Financial inclusion, poverty, and income inequality in developing Asia, No.426, Asian Development Bank. 
 
ThS. Lê Thị Đức Hạnh, ThS. Phạm Văn Thắng, TS. Trần Thị Thu Hường
Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam
Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam
30/05/2024 233 lượt xem
Để đảm bảo phát triển bền vững kinh tế biển, cần có chiến lược khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường biển.
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho tài chính xanh, tín dụng xanh trong các ngân hàng tại Việt Nam
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho tài chính xanh, tín dụng xanh trong các ngân hàng tại Việt Nam
23/05/2024 626 lượt xem
Bài viết đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng tài chính tín dụng xanh tại Việt Nam. Đối với hệ thống pháp luật, các quy định, định nghĩa cụ thể về các danh mục, ngành, lĩnh vực xanh vẫn chưa được thống nhất để có thể áp dụng chung trên cả nước.
Bức tranh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024: Động lực bứt phá khỏi những giới hạn
Bức tranh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024: Động lực bứt phá khỏi những giới hạn
21/05/2024 635 lượt xem
Bối cảnh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024 là một bức tranh phức tạp, đan xen giữa những bất ổn còn dai dẳng và những triển vọng mới tích cực...
Các bước chuẩn bị để đàm phán hợp đồng trong kinh doanh
Các bước chuẩn bị để đàm phán hợp đồng trong kinh doanh
17/05/2024 951 lượt xem
Đàm phán hợp đồng trong hoạt động kinh doanh là một quy trình gồm nhiều bước trong đó có bước chuẩn bị đàm phán. Đây là một bước có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả của đàm phán trong nhiều trường hợp. Phạm vi các bước chuẩn bị khá rộng và có thể thay đổi theo từng hợp đồng cần đàm phán. Tuy nhiên, một số yếu tố liên quan đến giai đoạn này có thể áp dụng chung cho phần lớn các hợp đồng, trong đó có cả các hợp đồng được xác lập trong lĩnh vực ngân hàng.
Lạm phát Việt Nam năm 2023 - 2024 và một số khuyến nghị
Lạm phát Việt Nam năm 2023 - 2024 và một số khuyến nghị
11/05/2024 3.739 lượt xem
Kinh tế Việt Nam năm 2023 và các tháng đầu năm 2024 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức, đã tác động tiêu cực tới quá trình phục hồi, phát triển kinh tế và ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
Thực tiễn báo cáo ESG của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Thực tiễn báo cáo ESG của hệ thống ngân hàng Việt Nam
06/05/2024 1.532 lượt xem
Bài viết này đánh giá thực trạng ngân hàng trong việc thực thi phát triển bền vững và công bố báo cáo ESG (môi trường, xã hội, quản trị), từ đó, đưa ra một số khuyến nghị điều chỉnh để hệ thống ngân hàng Việt Nam thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao trong hành trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 của Việt Nam.
Dự đoán rủi ro tín dụng sử dụng học sâu
Dự đoán rủi ro tín dụng sử dụng học sâu
03/05/2024 922 lượt xem
Việc đánh giá và dự đoán khả năng trả nợ của khách hàng là rất quan trọng để ngân hàng giảm thiểu rủi ro. Vì lí do này, các ngân hàng thường xây dựng hệ thống xử lí yêu cầu cho vay dựa trên tình trạng của khách hàng, chẳng hạn như tình trạng việc làm, lịch sử tín dụng...
Tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
01/05/2024 957 lượt xem
Một mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng là tìm kiếm lợi ích cho cổ đông. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng thương mại (NHTM) cũng là một nhân tố hình thành các hoạt động xã hội với những cá nhân và tổ chức liên quan, tạo nên mối liên kết với các chủ thể trong nền kinh tế.
Nâng cao hiệu quả quản lý gian lận số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nâng cao hiệu quả quản lý gian lận số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
24/04/2024 1.248 lượt xem
Thời gian qua, quá trình số hóa diễn ra liên tục và mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và đã mang lại những lợi ích đáng kể cho sự ổn định của khu vực tài chính nói riêng, sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Nhờ quá trình này mà các tổ chức tài chính có khả năng cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, ngân hàng với chi phí thấp hơn, giúp nâng cao trải nghiệm và khả năng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ của khách hàng, tăng cường minh bạch trong giao dịch tài chính và phản ứng nhanh chóng với các cuộc khủng hoảng.
Chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức, doanh nghiệp - định hướng  phát triển trong thời đại 4.0
Chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức, doanh nghiệp - định hướng phát triển trong thời đại 4.0
23/04/2024 931 lượt xem
Dữ liệu đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp. Việc chia sẻ dữ liệu mở ra những cơ hội mới, tạo thêm nhiều giá trị, đồng thời góp phần bồi đắp kho dữ liệu hiện có, khai phá tiềm năng tối ưu hóa và đổi mới mô hình kinh doanh.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đám bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đám bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
19/04/2024 0 lượt xem
Do nhu cầu tài chính phục vụ cho quá trình chuyển đổi của các doanh nghiệp ngày càng cao nên thị trường tín dụng liên kết bền vững toàn cầu tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Việt Nam cần nhanh chóng thúc đẩy và mở rộng hoạt động cho vay nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp ở đa dạng ngành, nghề thực hiện chiến lược phát triển bền vững.
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
12/04/2024 2.206 lượt xem
Phát triển bền vững đang là mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai, theo đó tăng trưởng xanh với sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường chính là tiền đề để thực hiện mục tiêu này.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
10/04/2024 1.570 lượt xem
Bài viết đề xuất một số khuyến nghị về xây dựng, thực thi chính sách tín dụng liên kết bền vững để góp phần đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam...
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
05/04/2024 1.933 lượt xem
Nghiên cứu trình bày về tầm quan trọng của ESG (Environmental - môi trường, Social - xã hội, Governance - quản trị) trong quá trình phát triển bền vững của ngân hàng, thực tiễn triển khai các hoạt động về ESG, các kết quả đạt được và thách thức, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy triển khai ESG trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
03/04/2024 1.644 lượt xem
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu tác động của tính minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility - CSR) đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

84.500

88.000

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

84.500

88.000

Vàng SJC 5c

84.500

88.020

Vàng nhẫn 9999

74.650

76.250

Vàng nữ trang 9999

74.750

75.650


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,251 25,481 26,917 28,392 31,612 32,956 157.54 166.74
BIDV 25,281 25,481 27,121 28,371 31,877 32,943 158.34 166.78
VietinBank 25,254 25,481 27,162 28,457 32,051 33,061 159.08 167.03
Agribank 25,300 25,481 27,086 28,384 31,759 32,919 158.56 166.34
Eximbank 25,230 25,481 27,167 28,089 31,959 32,944 159.71 165.13
ACB 25,250 25,481 27,142 28,073 31,994 32,958 159.03 165.3
Sacombank 25,250 25,481 27,300 28,124 32,176 32,894 160.4 165.41
Techcombank 25,245 25,481 27,003 28,366 31,649 32,987 155.77 168.19
LPBank 25,061 25,481 26,945 28,577 32,090 32,952 158.01 168.52
DongA Bank 25,290 25,481 27,160 28,070 31,890 33,010 157.30 165.50
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,30
3,60
4,30
4,40
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,10
2,10
2,30
3,40
3,45
4,30
4,30
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
2,90
3,10
3,20
4,00
4,00
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?