Thế giới ngập trong nợ nần
02/03/2017 9.432 lượt xem
Tại nhiều nơi, nhất là các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Brazil, lãi suất thấp kéo dài đã khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn để mở rộng sản xuất - kinh doanh, nhưng nhu cầu yếu ớt đã đẩy các doanh nghiệp bị chìm sâu trong nợ nần...
 
Kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, hầu hết các nước trên thế giới đều tiến hành nới lỏng tài chính - tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và khắc phục hậu quả khủng hoảng. Tuy nhiên, việc bơm các khoản tài chính khổng lồ vào nền kinh tế nhưng thiếu sự phối hợp giữa các nền kinh tế lớn đã dẫn đến hậu quả là suy thoái kéo dài và nợ nần chồng chất.
Trên khắp thế giới, nhiều công ty đã bị cuốn hút vào nguồn tín dụng giá rẻ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nay phải đối mặt với tình trạng dư thừa công suất và đang chật vật tìm kiếm người mua. Tình hình này đang trở nên trầm trọng, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản đều yếu ớt, kinh tế Trung Quốc tăng chậm lại.
 
Theo báo cáo do Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố vào đầu tháng 10/2016, tổng nợ trong lĩnh vực phi tài chính chạm mốc 152.000 tỷ USD vào cuối năm 2015, tăng trên hai lần so với năm 2000. Mức nợ hiện tại dừng ở mốc kỷ lục 225% GDP toàn thế giới, với 2/3 tổng số nợ nằm ở khu vực tư nhân, còn lại là nợ công. Tuy chỉ chiếm tỷ trọng thấp, nhưng nợ công đã tăng từ 70% GDP vào năm 2015 lên 85% GDP năm 2016.
IMF cảnh báo, nợ nần sẽ tiếp tục tăng, bao gồm nợ của các Chính phủ, các doanh nghiệp không thuộc ngành tài chính và nợ hộ gia đình. Trong đó, kinh tế toàn cầu ì ạch gây khó khăn cho việc hoàn trả nợ vay. Điều này dẫn đến vòng luẩn quẩn là tăng trưởng kinh tế thấp hơn cản trở quá trình giảm nợ và mức nợ cao trầm trọng hóa tăng trưởng èo uột, gây nguy cơ bất ổn tài chính.
Mặc dù phần lớn các khoản vay có từ thời bùng nổ nợ tư nhân trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và các hộ gia đình và doanh nghiệp tại các nước phát triển bắt đầu hạn chế chi tiêu sau khủng hoảng nhưng quá trình giảm nợ chưa đồng đều. Trong một số trường hợp, nợ tiếp tục tăng, ảnh hưởng xấu đến bảng cân đối của Chính phủ. Tại nhiều nơi, nhất là các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Brazil, lãi suất thấp kéo dài đã khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn để mở rộng sản xuất - kinh doanh, nhưng nhu cầu yếu ớt đã đẩy các doanh nghiệp bị chìm sâu trong nợ nần.
Trong sáu năm cho đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, do tác động của xu thế toàn cầu hóa hệ thống ngân hàng và nới lỏng điều kiện cho vay, nợ của khu vực phi tài chính tại các nước phát triển tăng 35%. Trong đó, hoạt động cho vay không chỉ bùng nổ trong lĩnh vực cầm cố tại Mỹ, mà mở rộng tại nhiều nước phát triển với trên 50% là nợ hộ gia đình. Tại các nước mới nổi, nợ doanh nghiệp tư nhân và nợ hộ gia đình cũng tăng, nhưng nhìn chung không được công bố cụ thể. Tại các nước thu nhập thấp, số liệu về nợ nần hầu như không được công bố.
Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, nợ công tại các nước phát triển tăng rất nhanh, trong khi nợ tư nhân giảm dần. Trong năm 2012, nợ tư nhân tại các nước phát triển ghi nhận mức giảm sâu nhất, đặc biệt là tại những nước bước vào khủng hoảng với mức nợ nần cao nhất. Tuy nhiên, tại một số nước, nợ tư nhân tiếp tục tăng, nhất là tại Australia, Canada, Singapore. Khi nợ tư nhân tăng trở lại, nợ công cũng tăng tốc với mức tăng 25% GDP trong giai đoạn 2008-2015, bảng cân đối quốc gia cũng xấu dần, một phần bắt nguồn từ những khoản cứu vớt hỗ trợ một số ngân hàng tư nhân hàng đầu. Sau năm 2012, chỉ khoảng 1/3 số nước phát triển ghi nhận kết quả cải thiện tình trạng nợ nần, nhưng rất khiêm tốn.
Tại một số nước mới nổi, điều kiện tiếp cận tài chính dễ dàng trong thời kỳ sau khủng hoảng tài chính đã dẫn đến xu hướng bùng nổ tín dụng, nhất là các doanh nghiệp phi tài chính với tốc độ tăng trung bình trên 38% GDP.
Ngày 20/2/2017, Market Watch dẫn kết quả nghiên cứu của chuyên gia Ivan Martchev cho thấy, nếu tính cả những khoản nợ trong hệ thống ngân hàng, nợ của Trung Quốc tăng từ tỷ lệ gần 100% GDP vào năm 2000 lên gần 400% GDP vào cuối năm 2016. Tuy nhiên, thống kê chính thức tại Trung Quốc hầu như không đề cập những khoản nợ ngân hàng. GDP của Trung Quốc tăng từ 1.094 tỷ USD vào cuối thế kỷ XX lên 11.750 tỷ USD vào cuối năm 2016. Trong thời gian này, kinh tế Trung Quốc tăng gấp 11 lần, nhưng tổng tín dụng tăng tới 40 lần. Trong những năm gần đây, kinh tế tăng chậm dần đã khiến người dân dè dặt trong chi tiêu, làm tăng các khoản nợ doanh nghiệp do khả năng trả nợ ngày càng khó khăn.
Các chuyên gia và nhà đầu tư đều thừa nhận, yếu tố cơ bản làm tăng gánh nặng nợ nần bắt nguồn từ nhu cầu yếu ớt trên toàn cầu, ngoài ra là do các rào cản thương mại được dựng lên trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng chậm.
Theo báo cáo của IMF, giao dịch thương mại toàn cầu chỉ tăng trung bình 3%/năm kể từ năm 2012, chưa bằng một nửa tốc độ tăng trưởng trung bình 7%/năm trong 3 thập niên trước đó. Trong giai đoạn 1985-2007, thương mại toàn cầu tăng gấp 2 lần GDP toàn cầu. Trái lại, trong 5 năm 2012-2016, thương mại toàn cầu lại rất ì ạch và thấp hơn tăng trưởng GDP, đây là hiện tượng chưa có tiền lệ trong suốt 5 thập kỷ qua. IMF khuyến cáo, các xu hướng cản trở thương mại như thuế quan tăng lên có thể gây thiệt hại lâu dài cho kinh tế toàn cầu. Một số còn lo ngại, lợi nhuận doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng vì những diễn biến này.  
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu do các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) tiến hành và công bố vào cuối tháng 2/2017, kim ngạch trao đổi hàng hóa toàn cầu năm 2016 chỉ tăng 1,1%; thấp hơn kết quả tăng 2,0% vào năm 2015 và là năm tăng thấp nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua.
Theo nhận xét của giáo sư Steven Davis đến từ Trường Kinh doanh Booth thuộc Đại học Chicago, xu hướng bảo hộ đang gây nhiều rủi ro cho kinh tế toàn cầu, nhất là một số nước phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu hàng hóa, làm gia tăng mức độ bất định về chính sách khi các nhà tạo lập chính sách kinh tế quốc gia phải điều chỉnh chính sách nhằm đối phó với những thay đổi trên toàn cầu, nhất là chính sách bảo hộ thương mại của tân Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Nhiều doanh nghiệp trên khắp thế giới đều phàn nàn, thương mại tăng chậm lại và chủ nghĩa bảo hộ tăng lên là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến lợi nhuận của họ sa sút.
Thanh Vũ
Nguồn : Nguồn: Bloomberg, IMF, Market Watch, WB
 
 
(Tham khảo: Nguồn http://thoibaonganhang.vn)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Chính sách tiền tệ của Fed năm 2024 và một số khuyến nghị đối với Việt Nam
Chính sách tiền tệ của Fed năm 2024 và một số khuyến nghị đối với Việt Nam
03/03/2024 1.593 lượt xem
Sau gần hai năm thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát và đưa lạm phát của nền kinh tế Hoa Kỳ về gần lạm phát mục tiêu là 2%, trong năm 2024, dự kiến Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ có những thay đổi lớn trong điều hành chính sách tiền tệ.
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
15/02/2024 2.755 lượt xem
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng trong việc tăng cường và bảo vệ giá trị của tổ chức thông qua chức năng cung cấp sự đảm bảo, tư vấn khách quan, chuyên sâu và theo định hướng rủi ro.
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
13/02/2024 2.894 lượt xem
Nhìn lại năm 2023, trên khắp Việt Nam và Nhật Bản đã diễn ra nhiều sự kiện kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tháng 12/2023, Mizuho đã hỗ trợ Diễn đàn kinh tế Nhật Bản - Việt Nam tại Tokyo cùng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và các định chế tài chính khác.
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
26/01/2024 4.211 lượt xem
Sau những cú sốc mạnh trong năm 2022, hoạt động kinh tế toàn cầu có dấu hiệu ổn định vào đầu năm 2023.
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
15/01/2024 4.978 lượt xem
Chuyển đổi số và sự bùng nổ công nghệ có ảnh hưởng lớn đến hành vi của khách hàng và hoạt động kinh doanh. Xu hướng thay đổi này dẫn đến quá trình số hóa trong các lĩnh vực như sản xuất, chuỗi cung ứng, tài chính và các dịch vụ phụ trợ khác.
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
05/01/2024 5.891 lượt xem
Trong năm vừa qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ sụp đổ của những ông lớn trong lĩnh vực ngân hàng, điều này dấy lên hồi chuông cảnh báo về tính chất dễ đổ vỡ của ngân hàng. Việc một ngân hàng đổ vỡ thể hiện kỉ luật thị trường đối với những ngân hàng có hoạt động kinh doanh thiếu an toàn, lành mạnh nhưng lại tạo ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng và người gửi tiền.
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
21/12/2023 6.913 lượt xem
Sự chuyển dịch nhanh chóng của hệ thống tiền tệ số toàn cầu đã khiến chính phủ các nước có phần lúng túng trong việc thích nghi với sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi chi tiêu và đầu tư của người dân.
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
20/12/2023 6.454 lượt xem
Trung Quốc là đối tác kinh tế, thương mại và đầu tư lớn nhất của châu Phi trong thời gian qua và sẽ tiếp tục trong thời gian tới. Bài viết này tóm lược sự phát triển quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc với các nước châu Phi trong thời gian hơn một thập kỉ vừa qua và việc Trung Quốc sử dụng lĩnh vực ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển đó.
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
16/11/2023 7.583 lượt xem
Bài viết khái quát quá trình triển khai huy động dòng vốn toàn cầu thông qua tiền mã hóa của Chính phủ Ukraine và Liên bang Nga; từ đó, đánh giá hiệu quả thực tiễn của việc sử dụng tiền mã hóa trong thanh toán xuyên biên giới, nguy cơ sử dụng tiền mã hóa trong các hoạt động rửa tiền, khủng bố và đưa ra hàm ý cho Việt Nam.
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
06/11/2023 7.577 lượt xem
Hoạt động huy động vốn cộng đồng đã trở nên phổ biến sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, phương thức này đã phát triển nhanh chóng ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó, hoạt động huy động vốn theo hình thức cổ phần (Equity - based Crowdfunding - ECF) là hình thức gọi vốn được các doanh nghiệp trong giai đoạn khởi đầu, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo rất ưa chuộng. Với ECF, các doanh nghiệp có thể huy động vốn từ cộng đồng thông qua một nền tảng trên Internet.
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
20/10/2023 8.772 lượt xem
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và việc sử dụng ngày càng nhiều điện thoại thông minh và máy tính bảng, xu hướng hợp kênh đã dần trở nên quan trọng đối với tập hợp đa dạng các dịch vụ ngân hàng. Hoạt động ngân hàng hợp kênh cung cấp đường dẫn đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng thông qua nhiều kênh khác nhau (như chi nhánh ngân hàng, ATM, tổng đài điện thoại, eBanking, Internet Banking và Mobile Banking) một cách hợp nhất dựa trên ý tưởng “mọi thứ đều có thể được làm trên mọi kênh”.
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
04/10/2023 12.269 lượt xem
Khi thế giới ngày càng trở nên số hóa và kết nối, cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng ngày một gia tăng, tạo động lực cho các ngân hàng thích ứng và thực hiện chuyển đổi số. Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối... đang hỗ trợ và đẩy nhanh tốc độ của quá trình chuyển đổi số, giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
04/10/2023 9.982 lượt xem
Trong vài năm gần đây, nền kinh tế tuần hoàn (Circular economy - CE) đang ngày càng được chú ý trên toàn thế giới như một cách để khắc phục mô hình sản xuất và tiêu dùng hiện tại dựa trên tăng trưởng liên tục và tăng thông lượng tài nguyên.
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
25/09/2023 11.067 lượt xem
Hiệp ước Basel II đã và đang được các ngân hàng thương mại (NHTM) áp dụng rộng rãi như một chiến lược nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản trị rủi ro, đảm bảo sự ổn định tài chính của ngân hàng. Mặc dù vậy, cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng giai đoạn 2008 - 2009 với sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính lớn như Ngân hàng Đầu tư Bear Stearns, các ngân hàng Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers đã cho thấy những điểm yếu của Basel II như mức vốn cấp 1 (Tier 1) tối thiểu 4% và tỉ lệ an toàn vốn không đủ bù đắp các khoản lỗ lớn; một số kĩ thuật sử dụng kế toán sáng tạo có thể che đậy rủi ro tín dụng; suy thoái kinh tế có thể dẫn đến áp lực bán tháo làm tăng tính thuận chu kì của hệ thống; sử dụng một số sản phẩm tài chính phức tạp như công cụ phái sinh, bảo lãnh như một phần của việc giảm rủi ro tín dụng…
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
21/09/2023 10.905 lượt xem
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi rất nhiều yếu tố làm suy giảm đà phục hồi, nền kinh tế các nước tại khu vực châu Á cũng nằm trong xu hướng đó và được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại với các động lực tăng trưởng yếu, áp lực lạm phát ở mức vừa phải.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.800

80.700

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.800

80.700

Vàng SJC 5c

77.800

80.720

Vàng nhẫn 9999

65.600

66.800

Vàng nữ trang 9999

65.500

66.400


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,500 24,870 26,109 27,542 30,490 31,787 159.34 168.65
BIDV 24,545 24,855 26,297 27,515 30,608 31,768 160.37 168.83
VietinBank 24,456 24,876 26,330 27,525 30,892 31,902 160.88 168.83
Agribank 24,500 24,840 26,239 27,483 30,594 31,727 160.30 168.34
Eximbank 24,460 24,850 26,381 27,130 30,794 31,669 161.71 166.31
ACB 24,450 24,800 26,304 26,959 30,837 31,479 160.92 166.09
Sacombank 24,495 24,960 26,539 27,097 31,079 31,595 162.24 167.31
Techcombank 24,523 24,867 26,186 27,535 30,525 31,839 157.57 170
LPBank 24,240 25,170 26,259 27,597 30,879 31,830 159.79 171.29
DongA Bank 24,550 24,850 26,410 27,070 30,850 31,660 159.80 166.70
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?