Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2023 và triển vọng
04/12/2023 6.843 lượt xem
Sau khi đạt tăng trưởng cao ở mức 8% năm 2022, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2023 có xu hướng giảm do chịu ảnh hưởng từ sự ảm đạm của kinh tế thế giới. Bối cảnh bất lợi cả từ bên ngoài (trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự) và bên trong (những khó khăn lớn của nền kinh tế mở phụ thuộc bởi bên ngoài và trải qua giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng do đại dịch Covid-19) đã ảnh hưởng tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá cả, an ninh năng lượng, an ninh lương thực trên toàn thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đạt được kết quả tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận và là một trong số ít quốc gia duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh tính đến hết tháng 10/2023.
 


Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
 
1. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam tính đến hết tháng 10/2023

Tính đến hết tháng 10/2023, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được xem là điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng sủa của kinh tế toàn cầu. Kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiềm chế dưới mức mục tiêu. Nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Những điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, thể hiện:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5,33% (quý III/2023) là con số rất tích cực so với cùng kì năm 2022, kéo theo kết quả chung GDP 9 tháng năm 2023 đạt 4,24%, khá cao so với các nước khác. Hai trong số các động lực chính cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đó là: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và năng lực xuất khẩu của quốc gia vẫn tiếp tục được duy trì.

Thứ hai, lạm phát được kiềm chế ổn định. Việt Nam đã vượt qua "cơn gió ngược" về lạm phát. Chi tiêu tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2023 khá cao nhưng chỉ số tiêu dùng (CPI) trong 9 tháng chỉ tăng 3,16% so với cùng kì năm 2022 và thấp hơn nhiều so với dư địa 4,5% Quốc hội cho phép. Việt Nam hoàn toàn có thể kiểm soát được lạm phát khi lãi suất ngân hàng đang được điều chỉnh giảm.

Thứ ba, thách thức về giải ngân đầu tư công. Năm 2023, Việt Nam có lượng vốn đầu tư công cao nhất từ trước đến nay, do đó thách thức về giải ngân vô cùng lớn. Giải ngân vốn đầu tư công đạt trên 51% sau 3 quý đầu năm 2023 là kết quả rất đáng khích lệ. Bởi trong nhiều năm, hiếm có khi nào giải ngân đạt được trên 50% sau 9 tháng, phần lớn giải ngân vốn đầu tư công thường được tập trung thực hiện vào những tháng cuối năm.

Thứ tư, hoạt động kinh tế đối ngoại đạt nhiều kết quả tốt đẹp. Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động (xung đột Nga - Ukraine làm ảnh hưởng đến hoạt động thương mại toàn cầu, dịch bệnh và đại dịch Covid-19; thiên tai, khí hậu thất thường và khắc nghiệt hơn…), hoạt động kinh tế đối ngoại vẫn tiến triển tốt đẹp,  tạo cơ sở quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Kinh tế Việt Nam dự báo tăng khoảng 5 - 5,5% năm 2023, bình quân đạt 5,4% trong giai đoạn 2021 - 2023, cao gấp 1,7 lần mức bình quân của thế giới (3,2%). Lạm phát được kiểm soát ở mức 2,8%, dưới ngưỡng mục tiêu 4%. Những động lực tăng trưởng hiện hữu như: Xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng luôn là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế đang bị suy yếu vì những biến động tiêu cực của kinh tế thế giới.

Do kinh tế thế giới khó khăn và sự phục hồi chậm của Trung Quốc đã ảnh hưởng tiêu cực tới lĩnh vực sản xuất định hướng xuất khẩu của Việt Nam, khiến sản xuất công nghiệp bị thu hẹp. Xuất khẩu chịu ảnh hưởng lớn khi hai thị trường chủ lực (Mỹ và EU) - vốn chiếm đến hơn 40% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam bị suy giảm.

Sức tiêu thụ tại các thị trường xuất khẩu chính giảm, mức giảm giá trị xuất khẩu của Mỹ, Hàn Quốc, EU và ASEAN lần lượt là 22%, 10%, 10% và 9%. Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, tiếp theo là Trung Quốc và EU. Trong khi tỉ trọng thặng dư thương mại lớn với EU là từ điện thoại, linh kiện và máy móc, thiết bị thì xuất siêu với Mỹ chủ yếu do nông sản đóng góp.
 
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 557,95 tỉ USD (10 tháng 2023), giảm 9,6% so với cùng kì năm 2022, trong đó xuất khẩu giảm 7,1%; nhập khẩu giảm 12,3%. Cán cân thương mại hàng hóa 10 tháng năm 2023 ước tính xuất siêu kỉ lục 24,61 tỉ USD. Việt Nam có 33 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD, chiếm 92,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 07 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỉ USD, chiếm 66,2%). Sụt giảm trong xuất khẩu cũng được phản ánh vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Sản lượng của ngành công nghiệp chế biến và trị giá xuất khẩu sụt giảm, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng. Thiếu hụt nguồn cung nguyên vật liệu trên thế giới và chi phí logistics tăng cao đã làm tăng chi phí sản xuất, gây ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam cũng như gây áp lực lên lạm phát. Tháng 10/2023, xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến có sự phục hồi tích cực với kim ngạch xuất khẩu tăng 4,6%. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến giảm 8,3% so với cùng kì năm 2022, ước đạt 247,34 tỉ USD. Có 5/7 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 10 tỉ USD thuộc nhóm hàng công nghiệp chế biến bị sụt giảm. Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 70,9 tỉ USD, giảm 16,8% so với cùng kì năm 2022.
 
Các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang Mỹ không còn chỉ là hàng dệt may, mà là các sản phẩm công nghệ cao. Việt Nam có tiềm năng trở thành nơi xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao lớn thứ tư thế giới (sau Trung Quốc, Đài Loan và Đức). Nhiều sản phẩm chủ lực của Apple được lắp ráp tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã giành được một số thị phần xuất khẩu công nghệ của Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường lớn khác cũng giảm như EU giảm 8,2%; ASEAN giảm 5,5%, Hàn Quốc giảm 5,1%, Nhật Bản giảm 3%1.
 
Kinh tế Trung Quốc mặc dù đang phục hồi nhưng chậm nên đã tác động không nhỏ đến Việt Nam bởi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 43,4 tỉ USD. Nhập siêu từ Trung Quốc là 23,6 tỉ USD, giảm 16,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 10,8 tỉ USD, giảm 38,3%; nhập siêu từ ASEAN là 3,4 tỉ USD, giảm 41,3%2. Nguyên nhân của sụt giảm xuất khẩu là do:
 
Thứ nhất, do các nền kinh tế lớn là đối tác xuất khẩu của Việt Nam như Mỹ, EU giảm chi tiêu mua sắm các sản phẩm thông thường và sản phẩm xa xỉ khiến khối lượng đơn đặt hàng giảm. Các ngành sản xuất công nghiệp trong nước chủ yếu hướng vào xuất khẩu, phụ thuộc lớn vào thị trường toàn cầu. Sản lượng sản xuất trong nước vượt xa nhu cầu của thị trường nội địa. Các ngành hàng dệt may, da giày, điện tử… chỉ cung ứng cho nhu cầu nội địa 10% sản lượng, 90% sản lượng còn lại là để xuất khẩu.
 
Thứ hai, giá hàng hóa xuất khẩu có xu hướng giảm, trong đó giá một số hàng nông sản giảm mạnh ở mức hai con số so với cùng kì năm 2022 như hạt tiêu giảm 25,1%, cao su giảm 18,7%, dầu thô giảm 15,8%. Một số mặt hàng công nghiệp chế biến phân bón giảm 35,4%, chất dẻo giảm 23,4, sắt thép giảm 23,8%3.

Thứ ba, Trung Quốc mở cửa trở lại cũng tạo nhiều áp lực cạnh tranh đối với hàng xuất khẩu cùng chủng loại của Việt Nam. Cùng với đơn hàng nước ngoài giảm, thị trường trong nước sức mua không lớn, chi phí đầu vào vẫn ở mức cao, không dễ dàng trong việc tiếp cận tín dụng.
 
Năm 2023 là năm thắng lợi của xuất khẩu gạo Việt Nam với khoảng 8 triệu tấn, kim ngạch 4,5 tỉ USD - cao nhất từ trước đến nay. Dự báo, giá gạo vẫn ở mức cao và không thể giảm do lượng lúa gạo trên thế giới đang khan hiếm dần. Việt Nam đang nắm giữ cơ hội về xuất khẩu gạo do nhu cầu gạo của các nước trên thế giới rất nhiều, trong đó có các thị trường truyền thống Philippines, Indonesia và Trung Quốc.
 
Xuất khẩu của Việt Nam đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức ở cả nội tại - bên trong của nền kinh tế và những tác động từ bên ngoài:
 
Thứ nhất, tình trạng thiếu đơn hàng. Nhiều đơn hàng xuất khẩu của hầu hết các ngành hàng tiêu dùng bị cắt giảm tới 30% và nhiều doanh nghiệp không kí được đơn hàng mới do áp lực lạm phát từ nhiều quốc gia. Do xung đột Nga - Ukraine, những đối tác thương mại lớn của Việt Nam như thị trường EU, xuất khẩu sang EU 10 tháng năm 2023 bị giảm tới 50%. Dệt may, da giày là những ngành hàng chịu tác động nhiều nhất.

Thứ hai, áp lực tài chính đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Tình trạng thiếu vốn, tiếp cận vốn khó khăn do áp lực lãi vay tăng cao, tỉ giá ngoại tệ biến động tăng, chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng và đứng ở mức cao, trong khi các doanh nghiệp đa phần khó khăn do phải chống chịu với các tác động, ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 suốt hơn 2 năm (2021 - 2022).

Thứ ba, doanh nghiệp sản xuất chế biến hàng nông thủy sản xuất khẩu gặp khó khăn. Yêu cầu về chất lượng hàng hóa xuất khẩu vào các thị trường đối tác ngày càng đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn.  Để có thể tận dụng được các ưu đãi thuế quan tại những thị trường mà Việt Nam đã kí các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, tiêu chuẩn cao như EVFTA, UKVFTA và CPTPP, các doanh nghiệp chế biến nông thủy sản xuất khẩu cần phải đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn.
 
Xuất khẩu giảm cũng khiến nhập khẩu bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, do nhập khẩu giảm mạnh hơn so với xuất khẩu nên cán cân thương mại của Việt Nam trong tháng 9 tiếp tục xuất siêu khoảng 2,29 tỉ USD, nâng tổng xuất siêu trong 9 tháng năm 2023 là 21,68 tỉ USD (cùng kì năm trước xuất siêu 6,9 tỉ USD). Xuất siêu góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ lớn cho cán cân thanh toán quốc tế.
 
Cùng với xuất khẩu, đầu tư là động lực tăng trưởng lớn nhất, đóng góp quan trọng vào nền kinh tế Việt Nam. Đầu tư tạo ra năng lực sản xuất mới, không chỉ đóng góp vào tăng trưởng hiện tại mà cho cả các năm tiếp theo.
 
Tính đến hết tháng 10/2023, FDI vào Việt Nam tuy vẫn được duy trì nhưng chưa thực sự chắc chắn do tâm lí của các nhà đầu tư vào sự phục hồi kinh tế thế giới chưa ổn định. Vì vậy, số lượng các dự án có quy mô lớn đăng kí giảm đáng kể so với cùng kì năm 2022. Tuy nhiên, nhờ các chính sách hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp của Chính phủ đã giúp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Thu hút vốn FDI tăng trưởng khá, giải ngân FDI cao. Thu hút vốn FDI phục hồi nhờ sự gia tăng đầu tư của một số đối tác lớn như Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản. Triển vọng tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn rất tích cực cùng sự tham gia ngày càng sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu với nhiều FTA có hiệu lực giúp Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với dòng vốn FDI trong quá trình định hình lại đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tổng số vốn FDI đăng kí vào Việt Nam 3 quý đầu năm 2023 bao gồm: Vốn đăng kí cấp mới, vốn đăng kí điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 20,21 tỉ USD, tăng 7,7% so với cùng kì năm 2022; vốn FDI thực hiện tại Việt Nam đạt khoảng 15,91 tỉ USD, tăng 2,2% (9/2023) so với cùng kì. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 9 tháng trong 5 năm (2018 - 2023). Dự báo vốn FDI giải ngân vào Việt Nam thời gian tới sẽ đạt mức cao, góp phần quan trọng vào sự phục hồi của nền kinh tế.

Đầu tư công cũng là động lực chính cho phục hồi và tăng trưởng kinh tế năm 2023. Mức giải ngân đầu tư công tăng tích cực giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một số yếu tố hỗ trợ đẩy nhanh đầu tư công bao gồm nợ công thấp, tình hình lạm phát được kiểm soát, tiếp tục khởi công các dự án hạ tầng lớn. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu giải ngân 95% của gần 800 nghìn tỉ đồng (tăng khoảng 30% so với năm 2022) đang là một nhiệm vụ rất khó khăn, đòi hỏi cần tiếp tục nỗ lực để có thể tháo gỡ vướng mắc, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công. Nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô cần đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công nhất là đối với các dự án trọng điểm, có tính lan tỏa cao, đầu tư cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ dự án, giải phóng mặt bằng, cung ứng nguyên vật liệu, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong giải quyết các thủ tục về xây dựng, đầu tư.

Việt Nam có nền tảng chính trị, kinh tế ổn định, các chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn, lực lượng lao động dồi dào, được đào tạo khá tốt so với các nước trong khu vực, chi phí lương cho công nhân ngành sản xuất thấp... khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho các công ty đa quốc gia. Nhiều công ty có chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng sản xuất để giảm bớt khả năng bị thiệt hại bởi gián đoạn nguồn cung do các xung đột địa chính trị. Việt Nam cũng là điểm đến ưa thích của các công ty Nhật Bản và Hàn Quốc khi chuyển cơ sở sản xuất sang khu vực ASEAN.

Tiêu dùng là một trong những lĩnh vực quan trọng và là động lực của nền kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế đang đối diện khó khăn và xu hướng cắt giảm chi tiêu toàn cầu, kinh tế Việt Nam vẫn vững vàng nhờ tiêu dùng trong nước mạnh, được hỗ trợ bởi lạm phát ở mức vừa phải, tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công và cải thiện các hoạt động thương mại.

Trong tiêu dùng, lĩnh vực dịch vụ duy trì đà tăng trưởng, là động lực chính của nền kinh tế. Các hoạt động dịch vụ, tiêu dùng tiếp tục phát triển ổn định. Du lịch nội địa và du lịch quốc tế, tài chính - ngân hàng… tăng trưởng khá. Lĩnh vực dịch vụ được kì vọng tiếp tục mở rộng nhờ sự hồi sinh của ngành du lịch và sự phục hồi của các dịch vụ liên quan. Nông nghiệp cũng sẽ được hưởng lợi từ giá lương thực tăng và dự kiến tăng trưởng 3,2% năm 2023. Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm các nước kiểm soát tốt lạm phát khi bình quân CPI tăng 3,2% (10 tháng năm 2023). Mục tiêu tăng CPI khoảng 4,5% năm 2023.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái nhẹ, lạm phát tăng dẫn đến cầu tiêu dùng thế giới giảm, đồng nghĩa giảm đơn đặt hàng trong nước và quốc tế, dẫn tới hoạt động sản xuất của Việt Nam bị thu hẹp, hàng loạt doanh nghiệp chế biến, chế tạo bị ảnh hưởng. Việc đẩy mạnh các hoạt động kích cầu tiêu dùng nội địa, mở rộng thị trường trong nước được xác định là đòn bẩy kinh tế hữu hiệu, giúp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Tiêu dùng nội địa có mức tăng trưởng khá nhờ vào hàng loạt chính sách của Nhà nước nhằm khuyến khích tăng tiêu dùng như chính sách giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) 2%, chính sách tăng tiền lương cơ bản, kích cầu du lịch nội địa. Đây là những nhân tố kích cầu tiêu dùng do tăng thu nhập. Nghị quyết giảm 2% thuế VAT được Quốc hội thông qua và thực hiện từ ngày 01/7/2023 có tác động trực tiếp làm tăng tổng cầu tiêu dùng của nền kinh tế, khơi thông thị trường tiêu thụ, giải quyết lượng hàng tồn kho, nợ đọng vốn, hỗ trợ doanh nghiệp từng bước phục hồi, mở rộng sản xuất, đảm bảo ổn định việc làm cho người lao động. Cùng với đó, lạm phát có xu hướng tăng chậm lại và được duy trì trong tầm kiểm soát.

Chính phủ thực hiện kích cầu tiêu dùng bằng cách hỗ trợ trực tiếp cho người dân trong tiêu dùng để tăng sức mua; tăng cường các đợt khuyến mại và giảm giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng; giảm lãi suất, giảm thuế thu nhập cá nhân; tăng cho vay tiêu dùng, đồng thời giãn, khoanh nợ và tăng hỗ trợ an sinh xã hội; đơn giản hóa các thủ tục trợ cấp cho người nghèo.
 
Quy mô thị trường tiêu dùng Việt Nam hiện lên tới 142 tỉ USD và được dự báo sẽ tăng lên 350 tỉ USD trong năm 2025. Với đà phục hồi kinh tế tốt hơn, cung tiền và vòng quay tiền được cải thiện, lạm phát và giá cả thế giới (đặc biệt là giá năng lượng) giảm mặc dù còn ở mức cao, chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân của Việt Nam sẽ tăng khoảng 3,5 - 4% năm 2024.
 
2. Nhân tố tác động

Những nhân tố chính tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2023 là do:

Thứ nhất, Chính phủ luôn hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân. Nhờ sự nỗ lực và nguồn lực của tất cả các cấp, các ngành cùng vào cuộc để giải quyết những khó khăn, kinh tế Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng tích cực. Năm 2023, Chính phủ và Quốc hội đã ban hành, thực thi một số chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp cả về thể chế và tài chính, tiền tệ thông qua các chính sách như giảm thuế, miễn thuế, gia hạn hoặc kéo dài các nghĩa vụ về tài chính với khoảng 150 nghìn tỉ đồng. Chính phủ cũng luôn đồng hành, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp và các hộ sản xuất, kinh doanh, quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp bị tác động tiêu cực từ suy giảm xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng.

Ngành Ngân hàng liên tiếp giảm lãi suất điều hành hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh để có khả năng tiếp cận vốn phục hồi sản xuất, kinh doanh. Cùng với giảm lãi suất, các ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn; đồng thời nới lỏng một số điều kiện cho vay, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng, góp phần tháo gỡ khó khăn hiện tại của thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các khoản cho vay bất động sản. Không chỉ cắt giảm thủ tục hành chính, Chính phủ còn chỉ đạo cắt giảm cả chi phí tuân thủ pháp luật, thậm chí Chính phủ chỉ đạo không ban hành các quy định trong thời gian khó khăn nếu quy định đó tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp.

Năm 2023, Chính phủ thực thi chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt, đặc thù, phù hợp với diễn biến và thực tiễn tình hình kinh tế trong nước, khu vực và thế giới. Những chính sách của Chính phủ được triển khai thực hiện đã khắc phục được các điểm nghẽn và bất cập của nền kinh tế, tạo hiệu ứng tích cực và niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp, các hộ sản xuất, kinh doanh.

Thứ hai, nỗ lực hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp, người dân đóng góp lớn trong việc giảm bớt khó khăn, giúp thúc đẩy tăng trưởng. Cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp tư nhân trong nước phát triển (nhiều về số lượng, đa dạng về ngành nghề, quản trị tốt, năng động, sáng tạo và có năng lực cạnh tranh cao) là một trong nhiều yếu tố quyết định sức chống chịu của nền kinh tế. Sự lớn mạnh của cộng đồng doanh nghiệp là động lực tăng trưởng bền vững, tạo công ăn việc làm và ổn định cuộc sống cho người dân, tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước và đóng góp lớn vào các quỹ dự trữ Quốc gia, là động lực giúp nền kinh tế nhanh chóng phục hồi sau các biến động lớn, bất thường từ bên ngoài.

Trong bối cảnh khó khăn cả trong nước và ngoài nước, cộng đồng doanh nghiệp rất ý thức trong việc nỗ lực khắc phục và tìm ra giải pháp, không ỷ lại vào Chính phủ. Thành công còn có sự đóng góp rất lớn của người dân, đặc biệt là những đóng góp tích cực của các địa phương. Nhiều địa phương mặc dù trong bối cảnh khó khăn nhưng tốc độ giải ngân, thu ngân sách, tăng trưởng phát triển kinh tế vẫn đạt được kết quả đáng ghi nhận.

Thứ ba, thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ hiệu quả, kịp thời. Năm 2023, tổng giá trị các gói hỗ trợ tài khóa của Chính phủ vào khoảng gần 200.000 tỉ đồng, với giá trị thực chi tính đến tháng 10/2023 là khoảng 78.000 tỉ đồng. Việc hạ lãi suất, gia hạn thời gian nộp VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân; giảm 30% tiền thuê đất; cho phép giãn hoãn thuế, giảm một số thuế, phí với tổng quy mô gói hỗ trợ khoảng 198,4 nghìn tỉ đồng mang lại kết quả rất lớn. 

Sự điều hành linh hoạt, hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi, điều hành tỉ giá phù hợp, đảm bảo tính thanh khoản của toàn hệ thống. Việc giảm lãi suất điều hành 04 lần (từ mức 0,5 - 1,5%) nhằm giảm lãi suất cho vay, góp phần tăng khả năng tiếp cận và cung cấp vốn cho nền kinh tế, nhất là lĩnh vực bất động sản. 
 
Việc giảm lãi suất điều hành có hiệu lực từ ngày 15/3/2023 khiến Việt Nam từ đầu năm 2023 đến nay trở thành nền kinh tế đầu tiên ở Đông Nam Á nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ thanh khoản, xử lí vấn đề thiếu vốn của doanh nghiệp và phục hồi kinh tế trong bối cảnh Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tiếp tục tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát.
 
Thứ tư, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả tích cực, vị thế và uy tín của Việt Nam tiếp tục được nâng cao.  
 
Năm 2023, hoạt động ngoại giao, hội nhập quốc tế được quan tâm đẩy mạnh với nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao các nước. Nhờ vậy, Việt Nam và các đối tác tiếp tục thắt chặt và nâng tầm quan hệ, tăng cường hợp tác ngoại giao, kinh tế, thương mại và đầu tư, góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam và Hoa Kỳ đã chính thức nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững (ngày 10/9/2023), từ đó mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, thương mại, chuyển đổi số, năng lượng, khoa học - công nghệ và giáo dục đào tạo trong thời gian tới.

Việc tham gia sâu, rộng vào các FTA là điều kiện để Việt Nam tận dụng được các lợi thế của mình. Theo Bộ Công Thương, các FTA thế hệ mới tạo thuận lợi phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

3. Đánh giá triển vọng

Năm 2024 dự báo kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, lạm phát cao tiếp tục kéo dài và khả năng suy thoái kinh tế ngày càng rõ nét hơn, nhất là tại các nền kinh tế lớn, làm gia tăng rủi ro bất ổn về chính trị, xã hội tại một số quốc gia. Cùng với đó, cạnh tranh chiến lược, địa chính trị giữa các nước trên thế giới vẫn đang diễn ra căng thẳng; thị trường tài chính, tiền tệ của các nước đang phát triển đối mặt với nhiều rủi ro; an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, bão lũ, hạn hán... tiếp tục là các vấn đề cần được quan tâm.

Mặc dù Việt Nam đang phải đối diện nhiều khó khăn, tình hình chính trị thế giới nhiều phức tạp, kinh tế toàn cầu đặt ra nhiều thách thức nhưng hầu hết các tổ chức trên thế giới đều chung nhận định: Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm sáng về kinh tế trong khu vực và có nhiều triển vọng tăng trưởng cao trong thời gian tới. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 5,8% năm 2024 và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới.

Những động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2024 sẽ bao gồm:

Thứ nhất, phục hồi hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Hoạt động sản xuất và xuất khẩu sẽ ngày càng được phát triển nhờ lạm phát giảm, đơn đặt hàng ở bên ngoài tăng. Xuất khẩu phục hồi kích thích nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất. Vốn FDI tiếp tục tăng góp phần quan trọng vào quá trình phục hồi sản xuất và xuất khẩu.

Thứ hai, nhu cầu tiêu dùng nội địa được khuyến khích. Sự hồi phục của ngành công nghiệp tác động kích thích chi tiêu, tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp. Gói kích thích tài chính của Chính phủ đã hỗ trợ nền kinh tế và giúp nâng cao cuộc sống người dân.

Thứ ba, thị trường bất động sản phục hồi. Chính phủ đã và đang xử lí tích cực những vướng mắc pháp lí liên quan đến kinh doanh bất động sản, tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp cần thiết nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể trên thị trường bất động sản. Lãi suất thấp, thị trường trái phiếu ấm lên sẽ là cơ hội tốt cho thị trường bất động sản phát triển.

Thứ tư, sự tăng trưởng trở lại của đầu tư tư nhân. Đầu tư tư nhân là động lực tăng trưởng hàng đầu của nền kinh tế. Nhờ có nhiều dự án mới và việc mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của đơn hàng xuất khẩu cùng với sự phục hồi của thị trường bất động sản, làn sóng đầu tư tư nhân mới sẽ được hình thành và thúc đẩy phát triển.

Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings cũng dự báo lạc quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024 - 2025. Chính sách tài khóa và tiền tệ của Việt Nam đã hỗ trợ nhiều cho nền kinh tế, Fitch Ratings dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ đạt 6,3% năm 2024 và 7,0% năm 20254. Các yếu tố cơ bản trong trung hạn của nền kinh tế Việt Nam vẫn khả quan và đà tăng trưởng bền vững sẽ mở ra triển vọng kinh doanh tích cực cho các ngân hàng. Kinh tế Việt Nam dự kiến sẽ phục hồi nhanh trong tương lai gần nhờ tiêu dùng trong nước tăng mạnh được hỗ trợ bởi lạm phát ở mức vừa phải, tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công và cải thiện các hoạt động thương mại. Tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ lên đến 6,5% năm 2024 nhờ sự phục hồi về xuất khẩu.

Mục tiêu Fitch Ratings đặt ra cho tốc độ tăng trưởng GDP là 6 - 6,5%, tốc độ tăng CPI bình quân 4 - 4,5% (năm 2024). Đây là mục tiêu phù hợp dựa trên một số kì vọng như lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là xuất khẩu tiếp tục phục hồi ở mức vừa phải; chi đầu tư công dự kiến tăng thêm 13% so với kế hoạch ngân sách trình Quốc hội và tăng thêm 19% so với dự toán năm 2023, chưa kể phần vốn của chương trình phục hồi và phát triển kinh tế chưa giải ngân hết được kéo dài thời gian thực hiện sang năm 2024. Niềm tin kinh doanh và niềm tin tiêu dùng phục hồi khi mặt bằng lãi suất giảm kéo theo sự phục hồi hoạt động kinh tế trong nước tích cực hơn.

Năm 2024, bối cảnh xuất khẩu và đầu tư chưa thể sớm khôi phục, tiêu dùng đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng GDP. Theo đánh giá của Viện Đào tạo và Nghiên cứu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tốc độ tăng tiêu dùng (loại trừ yếu tố giá) tăng thêm 1 điểm phần trăm sẽ giúp tăng trưởng GDP tăng thêm 0,2 điểm phần trăm.
 
Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2023 - 2024
theo dự báo của các tổ chức quốc tế
 Nguồn: Thái Phương (2023),
Dự báo “nóng”: Tìm lời giải cho động lực tăng trưởng cuối năm 2023 - Báo Người Lao Động
 
Những thách thức trong hoạt động xuất nhập khẩu vẫn còn do tăng trưởng GDP của các đối tác thương mại suy yếu, nhu cầu hàng hóa thế giới giảm dẫn đến nhu cầu xuất khẩu sang các thị trường chủ lực đều bị hạn chế. Trong đó, sụt giảm ở thị trường Mỹ 16,8%, thị trường EU 8,2%; thị trường ASEAN 5,5%5.
  
Năm 2024, tăng trưởng kinh tế của Mỹ sẽ yếu đi đáng kể, chủ yếu do tác động trễ của chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát cao của Fed.
 
Tại Việt Nam, xuất khẩu chưa có nhiều điểm sáng, tiêu dùng cuối cùng trong nước chưa có tín hiệu tích cực. Vì vậy, GDP năm 2023 đạt 5% - 5,5% là thành công bởi đã tăng gấp 2,1 - 2,3 lần mức tăng trưởng của kinh tế toàn cầu, cùng với lạm phát được kiểm soát dưới mức mục tiêu, giữ vững ổn định vĩ mô. Nhiều tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá cao kết quả và triển vọng của nền kinh tế Việt Nam. Dự báo Việt Nam sẽ phục hồi nhanh trong thời gian tới. Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam đạt 431 tỉ USD, tăng 1 bậc lên thứ 32/100 thương hiệu quốc gia mạnh trên thế giới6 năm 2024.

Thành công của Việt Nam trong việc kiểm soát đại dịch Covid-19 với tư cách là nền kinh tế hoạt động hiệu quả hàng đầu châu Á trong đại dịch đã củng cố vị thế và danh tiếng của Việt Nam là môi trường an toàn và thân thiện cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đổi mới sáng tạo sẽ là trụ cột mới trong định hướng thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới. Việt Nam sẽ ưu tiên các dự án như công nghệ cao, dự án trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, năng lượng tái tạo, năng lượng mới (hydrogen), trung tâm tài chính, thương mại dịch vụ hiện đại, hoạt động nghiên cứu và phát triển.

Năm 2024, tăng trưởng tín dụng sẽ tích cực hơn do lãi suất giảm (điều kiện cần) và hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng phục hồi (điều kiện đủ). Với đà phục hồi hiện tại cùng với sự quyết liệt của lãnh đạo các cấp, của doanh nghiệp và người dân cùng đà “tốt lên” của kinh tế thế giới, dự báo kinh tế Việt Nam sẽ khởi sắc tốt, có thể tăng trưởng 6 - 6,5% năm 2024.


1Thông tấn xã Việt Nam (2023), Dự báo xuất khẩu quý cuối của năm sẽ khởi sắc.
2Liêm Chính (2023), Động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam, https://nhandan.vn
3Liêm Chính (2023), Động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam, https://nhandan.vn
4PV (2023), Fitch Ratings: Chính sách tài chính và tiền tệ của Việt Nam đã hỗ trợ nhiều cho nền kinh tế, https://cafef.vn
5Thái Phương (2023), Dự báo “nóng”: Tìm lời giải cho động lực tăng trưởng cuối năm 2023 - Báo Người Lao Động, https://nld.com.vn
6Đỗ Phong (2023), Thủ tướng Chính phủ: Mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2024 khoảng 6 - 6,5% - Nhịp sống kinh tế Việt Nam & Thế giới, https://vneconomy.vn

 
Tài liệu tham khảo

1. Song Hà (2023), Động lực mới góp phần tăng trưởng kinh tế 2023 của Việt Nam, https://quocphongthudo.vn
2. Thái Phương (2023), Dự báo “nóng”: Tìm lời giải cho động lực tăng trưởng cuối năm 2023 - Báo Người Lao Động, https://nld.com.vn
3. Nguyên Long (2023), Thách thức xuất khẩu năm 2023: Đâu là giải pháp? Theo Vietstock, https://www.investing.com
4. Thanh Tùng (2023), Xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2023 dự báo lập đỉnh 4,5 tỉ USD, https://vov.vn
5. Yến Nhi (2023), Việt Nam có 07 nhóm hàng xuất khẩu trên 10 tỉ USD, Thông tin Kinh tế và Công nghệ, Tạp chí điện tử VnMedia.
6. Hải Vân (2023), Cần bơm gần 800.000 tỉ đồng ra nền kinh tế trong 2 tháng cuối năm mới đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14%, https://cafef.vn
7. Minh Nhật (2023), 4 động lực chính thúc đẩy tăng trưởng GDP,  https://thitruongtaichinhtiente.vn
 
Vũ Hoàng Dũng
Viện Kinh tế và Chính trị thế giới
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 1.638 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.796 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 1.615 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 2.763 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.909 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.584 lượt xem
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.676 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 3.209 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 2.212 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 2.576 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 8.168 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.862 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.654 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 2.273 lượt xem
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 2.144 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?