Những động thái nổi bật về tiền tệ thế giới năm 2021
21/01/2022 4.646 lượt xem


 Nợ công tăng mạnh làm giảm các lựa chọn chính sách đối với các chính phủ (Ảnh minh họa, nguồn Internet)

1. Tiếp tục bùng nổ các gói hỗ trợ tài chính thế giới
 
Các gói hỗ trợ tài chính toàn cầu tiếp tục tăng mạnh là động thái nổi bật của thế giới năm 2021.
 
Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản và Vương quốc Anh đã công bố các biện pháp hỗ trợ khu vực công vào năm 2020 với tổng số hơn 10% GDP hàng năm của họ. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2021), đối với các nền kinh tế thị trường mới nổi, tỷ lệ thâm hụt tài khóa trên GDP tăng 9,6% năm 2020, dự kiến tăng 6,6% năm 2021 và 5,8% vào năm 2022, làm tăng đáng kể gánh nặng nợ. Theo một số ước tính, các quốc gia dễ bị tổn thương về tài chính nhất là Argentina, Venezuela, Lebanon, Jordan, Iran, Zambia, Zimbabwe và Nam Phi. Trong số các nước đang phát triển có thu nhập thấp, khả năng dễ bị tổn thương về nợ ngắn hạn vẫn ở mức cao.
 
IMF cho rằng, hành động của các ngân hàng trung ương có nguy cơ tạo ra sự mất kết nối giữa việc định giá rủi ro trên thị trường tài chính và triển vọng kinh tế dự kiến, bởi vì, các nhà đầu tư dường như đã kỳ vọng sự phục hồi nhanh chóng vào năm 2020 dựa trên sự can thiệp liên tục và chưa từng có của các ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, sự thay đổi nhận thức hoặc thực tế trong việc can thiệp của ngân hàng trung ương vào thị trường tài chính có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khái niệm rủi ro của các nhà đầu tư và do đó, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tài sản và sự phục hồi kinh tế. Ngoài hành động của các ngân hàng trung ương, IMF kết luận rằng, một số lỗ hổng bảo mật đã tồn tại từ trước có thể ảnh hưởng đến thời gian và tốc độ phục hồi kinh tế. Những điểm dễ bị tổn thương này bao gồm mức nợ doanh nghiệp và hộ gia đình ở một số nền kinh tế thị trường phát triển và một số thị trường mới nổi có thể trở nên không thể quản lý được trong một cuộc suy thoái kéo dài; số lượng các vụ vỡ nợ ngày càng gia tăng có thể kiểm tra khả năng phục hồi của khu vực ngân hàng; những căng thẳng bổ sung có thể ảnh hưởng đến các tổ chức tài chính phi ngân hàng và triển vọng của một số nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt với các yêu cầu tài chính bên ngoài tăng cao.
 
Tại Mỹ, nhận thức được tác động ngày càng tăng của đại dịch Covid-19 đối với thị trường tài chính và tăng trưởng kinh tế, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã thực hiện một số động thái nhằm kích thích hoạt động kinh tế bằng cách giảm lãi suất và một số hành động khác nhằm cung cấp tính thanh khoản cho thị trường tài chính để các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nguồn vốn cần thiết. Quốc hội Mỹ cũng đã thông qua dự luật kích thích kinh tế trị giá 1,9 nghìn tỷ USD được Tổng thống Joe Biden ký ngày 11/3/2021. 
 
Vào ngày 23/3/2021, Fed thông báo rằng, họ sẽ tăng mua trái phiếu kho bạc, bao gồm MBS (chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp) - do các cơ quan chính phủ hoặc doanh nghiệp được chính phủ tài trợ phát hành với số tiền lên tới 125 tỷ USD hàng tháng. Đến ngày 03/11/2021, Fed cho biết sẽ giảm dần chương trình mua trái phiếu từ cuối năm nay. Quá trình này sẽ bắt đầu với việc giảm 15 tỷ USD chương trình mua tài sản mỗi tháng, bao gồm 10 tỷ USD trái phiếu kho bạc và 5 tỷ USD chứng khoán MBS. 
 
Tại Anh, ngày 11/3/2021, Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) đã thông qua một gói bốn biện pháp để đối phó với bất kỳ sự gián đoạn kinh tế nào liên quan đến Covid-19. Các biện pháp bao gồm cắt giảm bất thường lãi suất chuẩn 50 điểm cơ bản (0,5%) xuống mức thấp lịch sử (0,25%); triển khai lại Kế hoạch cấp vốn có kỳ hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (TFSME) cung cấp cho các ngân hàng hơn 110 tỷ USD để vay với lãi suất thấp; giảm mức đệm vốn đối ứng của các ngân hàng từ 1% xuống 0%, ước tính hỗ trợ hơn 200 tỷ USD cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp và việc chi trả cổ tức của các ngân hàng bị đóng băng.
 
Ngày 17/3/2021, BOE và kho bạc Vương quốc Anh đã giới thiệu Cơ sở Tài trợ Doanh nghiệp Covid (CCFF) để cung cấp hỗ trợ cho các công ty Vương quốc Anh vượt qua những gián đoạn liên quan đến Covid-19 đối với dòng tiền của họ. 
 
Vào ngày 19/3/2021, trong cuộc họp Chính sách tiền tệ đặc biệt, BOE đã giảm lãi suất chính xuống 0,1%, tăng quy mô Quỹ TFSME và tăng lượng mua tài sản thêm 200 tỷ bảng Anh lên tổng số 645 bảng Anh, tài trợ bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ Vương quốc Anh và một số trái phiếu doanh nghiệp cấp đầu tư phi tài chính bổ sung. 
 
Tại Trung Quốc, quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng quý tích cực trong suốt cuộc suy thoái do đại dịch Covid-19 gây ra, đã thực hiện một loạt các hành động để hỗ trợ tốc độ tăng trưởng kinh tế của mình trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế đang chậm lại. Vào ngày 07/7/2021, Trung Quốc tuyên bố sẽ cắt giảm chi tiêu liên quan đến đại dịch để giải quyết những lo ngại về tích lũy nợ Chính phủ và có khả năng duy trì chi phí vay nợ thấp cho các doanh nghiệp trong nước.
 
Tại Ấn Độ, trong quý II/2021, tốc độ tăng trưởng GDP đã giảm 25,8% so với quý I/2021, làm dấy lên lo ngại rằng đất nước này có thể trải qua sự suy giảm kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Vào ngày 12/11/2021, Bộ trưởng Tài chính của Ấn Độ đã công bố một gói biện pháp tài khóa mới với tổng trị giá 35 tỷ USD để tăng chi tiêu của người tiêu dùng và hỗ trợ sản xuất, nông nghiệp và xuất khẩu. Động thái này diễn ra sau một thông báo của nội các Ấn Độ rằng, nước này đã phê duyệt gói chi tiêu 27 tỷ USD để cung cấp các ưu đãi trong vòng 5 năm cho các công ty sản xuất, bao gồm ô tô, phụ tùng ô tô, dược phẩm, dệt may và các sản phẩm thực phẩm. 
 
Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã duy trì các chính sách tiền tệ phù hợp trong thời điểm hiện tại, trong khi các thước đo lạm phát được theo dõi cẩn thận. Trong tháng 9/2021, lạm phát tại khu vực châu Âu đạt 3,4% so với cùng kỳ năm ngoái, tăng từ mức 3% trong tháng 8/2021. Khi loại trừ các mặt hàng dễ biến động như thực phẩm và năng lượng, trong tháng 9/2021, lạm phát ở mức 1,9%, tăng so với mức 1,6% cùng kỳ năm ngoái. Cho vay khu vực tư nhân của các tổ chức tài chính tiền tệ được duy trì tốt, tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng thấp hơn mức của hai tháng trước đó. Tuy nhiên, hoạt động cho vay vẫn tiếp tục tăng mạnh nhất là trong lĩnh vực bất động sản.
 
Theo IMF, trong 60% nền kinh tế toàn cầu, các ngân hàng trung ương đã đẩy lãi suất chủ chốt xuống dưới 1% và ở 1/5 nền kinh tế toàn cầu, lãi suất đã giảm xuống dưới 0%. Trong những trường hợp này, các nhà kinh tế thường cho rằng, việc điều chỉnh chính sách tài khóa, hay đánh thuế và chi tiêu của chính phủ là công cụ chính sách hiệu quả hơn để nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế. Có thể thấy, chính sách tài khóa đang đóng vai trò hàng đầu giúp thúc đẩy kinh tế toàn cầu hiện nay. 
 
Về chính sách tài khóa, không chỉ các nước phát triển mới có thể cung cấp các khoản kích thích lớn hơn nhiều so với các nước đang phát triển, mặc dù mức kích thích thực tế trước đây thường nhỏ hơn nhiều so với công bố ban đầu. Tuy nhiên, các nước phát triển không bị thị trường trái phiếu trừng phạt vì các thông báo chi tiêu của họ như các nước đang phát triển. Mức độ nghiêm ngặt của các ràng buộc đối với chính sách tài khóa ở tất cả các quốc gia trở nên rõ ràng khi chúng ta xem xét mức độ phổ biến của các gói chuyển giao kích thích so với chi tiêu trực tiếp của chính phủ. Trong nhiều trường hợp, chi tiêu của chính phủ đối với hàng hóa và dịch vụ đã giảm xuống trong thời kỳ đại dịch. 
 
Sự khác biệt trong hỗ trợ chính sách giữa các quốc gia cũng tạo ra khoảng cách trong tốc độ phục hồi. Hỗ trợ tài khóa đáng kể vẫn tiếp tục diễn ra ở các nền kinh tế phát triển, trong khi nhiều nền kinh tế thị trường mới nổi đã giảm hỗ trợ chính sách trong năm nay do không gian chính sách bị thu hẹp theo thời gian của đại dịch. Các ngân hàng trung ương lớn của nền kinh tế phát triển được cho là sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách cho đến cuối năm 2022, tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc mua tài sản dự kiến sẽ được thu nhỏ trở lại trước đó - một quy trình đã được thực hiện, chẳng hạn như ở Úc và Canada. Trong khi đó, một số ngân hàng trung ương ở thị trường mới nổi - bao gồm Brazil, Chile, Mexico và Nga - đã chuyển sang lập trường ít thích nghi hơn trong năm 2021.   
 
 Chính sách hỗ trợ đã tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu tư nhân trong việc phục hồi. Khi được triển khai, các biện pháp tài khóa mở rộng đã cung cấp bảo hiểm cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, cho phép nhiều người bổ sung hoặc tích lũy tiền tiết kiệm của họ, tạo điều kiện cho nhu cầu tư nhân thúc đẩy sự phục hồi, đặc biệt là vào năm 2022, khi nhóm các nền kinh tế phát triển được dự kiến sẽ chuyển dịch tài chính của mình theo hướng thắt chặt. Tiết kiệm hộ gia đình được tích lũy vượt quá xu hướng trước đại dịch cho thấy mối quan hệ tích cực so với mức độ hỗ trợ tài khóa. 
 
Hơn nữa, có những dấu hiệu cho thấy các quốc gia có mức tiết kiệm thấp trong lịch sử có xu hướng tích lũy nhiều khoản tiết kiệm hơn sau cuộc khủng hoảng Covid-19, đặt tài chính của họ vững chắc hơn trong tương lai. Dự báo giả định sự chuyển giao suôn sẻ từ hỗ trợ chính sách bất thường đến tăng trưởng do hoạt động tư nhân dẫn dắt, với một số khoản tích lũy tiết kiệm bổ sung được giữ lại ở những nơi mà tỷ lệ tiết kiệm trước đây thấp. Nhu cầu được cho là sẽ tăng lên khi mức độ bao phủ tiêm chủng tăng lên, vaccine dường như bảo vệ người dân khỏi bệnh nặng. Nếu điều này xảy ra và tiết kiệm dư thừa giảm sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi và áp lực lạm phát (nếu nguồn cung không thể điều chỉnh đủ nhanh).
 
2. Sự ngược chiều giữa các đồng tiền chủ chốt và thị trường tài chính toàn cầu
 
Các triển vọng về vaccine ban đầu báo hiệu sự chấm dứt cuối cùng của việc đóng cửa kinh doanh và các hạn chế xã hội, đồng thời giảm yêu cầu đối với các nhà hoạch định chính sách để thực hiện các chính sách tài chính và tiền tệ bổ sung.
 
Vào ngày 24/11/2020, Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA), cùng với thị trường chứng khoán toàn cầu tăng 1,5%, đạt mốc chỉ số 30.000 lần đầu tiên và vượt qua giá trị cao trước đó được ghi nhận vào ngày 14/02/2020, trước khi đại dịch ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế. Được biết, sự gia tăng của các chỉ số thị trường phản ánh đánh giá tích cực của các nhà đầu tư về các thông báo vaccine hiệu quả chống lại Covid-19, diễn biến chính trị ở Mỹ, các biện pháp tài khóa bổ sung tiềm năng của chính phủ để kích thích hoạt động kinh tế và triển vọng tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn vào năm 2021. DJIA đã có xu hướng tăng trong năm 2021, lần đầu tiên tăng trên 35.000 điểm vào ngày 23/7/2021 và tăng hơn 14% trong khoảng thời gian từ ngày 04/01/2021 đến ngày 17/9/2021.
 
Đồng USD đã trở nên mạnh hơn vào năm 2021. Biến thể Delta mới xuất hiện trong bối cảnh tỷ lệ tiêm chủng chậm trong nửa đầu năm, các vấn đề chuỗi cung ứng toàn cầu cùng với thay đổi chính sách đáng kể ở Trung Quốc trong nửa cuối năm đã làm dấy lên lo ngại về tăng trưởng toàn cầu chậm hơn và lạm phát cao hơn. Tác động đã khiến đầu tư vào tài sản của Mỹ tăng mạnh và thay đổi vị thế USD từ bán ròng sang mua ròng trong năm. Chênh lệch lãi suất thực cho thấy đồng USD sẽ suy yếu, sự chênh lệch tăng trưởng của Mỹ với phần còn lại của thế giới sẽ thu hẹp và “chủ nghĩa ngoại lệ” của Mỹ sẽ suy yếu dần trong 12 tháng tới. Dự báo Fed sẽ duy trì chính sách chấp nhận lạm phát cao hơn một chút (chính sách Mục tiêu lạm phát trung bình), giải tỏa dần hạn chế phía cung, cùng với châu Âu tăng trưởng và kích thích tài khóa của Trung Quốc. Tăng trưởng dịch chuyển ra khỏi Mỹ và lãi suất thực thấp sẽ thúc đẩy rút đồng USD để đầu tư vào các tài sản toàn cầu hấp dẫn hơn và việc đóng vị thế mua USD có thể tiếp thêm động lực. Đồng GBP có ít lạc quan hơn vì kinh tế Anh hậu Brexit có thể dễ bị ảnh hưởng bởi lạm phát từ phía cung. Chính sách thắt chặt của ngân hàng Anh có thể gây áp lực lên phục hồi tăng trưởng, nhất là nếu chính sách tài khóa trở nên cứng rắn hơn.
 
Vào cuối tháng 01/2021, đồng USD đã mất giá hơn 11% so với giá trị cao nhất mà nó đạt được vào tháng 3/2020. Sự phát triển của vaccine Covid-19 có thể ảnh hưởng đến giá trị của đồng USD theo nhiều cách khác nhau, bao gồm các yếu tố có xu hướng tăng giá đồng USD là kết quả của sự tăng trưởng kinh tế mới ở Mỹ và các lực lượng chống đối có xu hướng giảm giá đồng USD nếu nhu cầu giảm đối với đồng USD như một đồng tiền trú ẩn an toàn. 
 
Như đã lưu ý trước đây, các chính sách thông thường của các ngân hàng trung ương về việc giữ lãi suất chính ở mức thấp cũng ảnh hưởng đến chuyển động giá trị ngoại hối của đồng USD vào năm 2021 bằng cách giảm cơ hội chênh lệch giá và hạn chế biến động. Bất chấp các giai đoạn tăng giá và giảm giá của đồng USD từ năm 2020 đến năm 2021, đến cuối tháng 4/2021, đồng USD đã giảm 2% so với giá trị vào ngày 02/01/2020. Một phần là nghị quyết về việc Anh rút khỏi EU đã tăng cường sức mạnh cho cả đồng Euro và đồng bảng Anh, vốn có xu hướng làm giảm giá trị của đồng USD. Sự sụt giảm giá trị của đồng USD được cho là đã thúc đẩy một số quốc gia cân nhắc việc can thiệp để làm suy yếu đồng tiền của họ. Từ ngày 10/6/2021 đến ngày 20/8/2021, đồng USD tăng giá khoảng 3,6%, gần đạt giá trị được ghi nhận vào ngày 02/01/2020. Việc tăng giá trị của đồng USD được cho là do một số yếu tố, bao gồm cả dự đoán thay đổi chính sách tiền tệ của Fed. 
 
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) đã nhấn mạnh vai trò của đồng USD như một loại tiền tệ thống trị toàn cầu trong cuộc khảo sát ba năm một lần vào năm 2019 về thị trường tiền tệ. Theo cuộc khảo sát, đồng USD chiếm 88% doanh thu thị trường ngoại hối toàn cầu và là chìa khóa quan trọng trong việc tài trợ cho một loạt các giao dịch tài chính, bao gồm việc đóng vai trò như một loại tiền tệ lập hóa đơn để tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Nó cũng chiếm khoảng 60% ngoại hối của ngân hàng trung ương, một nửa số tiền gửi bằng ngoại tệ của các ngân hàng không thuộc Mỹ và 2/3 các khoản vay của các công ty ngoài Mỹ từ các ngân hàng và thị trường trái phiếu doanh nghiệp. So sánh, Mỹ chiếm khoảng 1/4 GDP toàn cầu và 1/5 thương mại toàn cầu (xuất khẩu cộng với nhập khẩu).
 
Do vai trò thống trị của đồng USD như một loại tiền tệ dự trữ toàn cầu, sự gián đoạn trong hoạt động trơn tru của thị trường USD toàn cầu có thể gây ra những hậu quả sâu rộng đối với các giao dịch tài chính và thương mại quốc tế. Các hoạt động tài trợ bằng USD rất phức tạp, phân tán về mặt địa lý và được kết nối với nhau theo những cách mang lại lợi ích cho sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là các căng thẳng trong hệ thống có thể dễ dàng được truyền qua các thị trường tài chính khác nhau và giữa các khu vực. 
 
Sự tăng giá của đồng USD so với các đồng tiền khác, hoặc sự suy yếu của các đồng tiền khác, có ảnh hưởng không tốt đến khối lượng xuất khẩu của các quốc gia khác, ít nhất là trong ngắn hạn, như đã được thể hiện rõ trong biến động của tỷ giá hối đoái và thương mại của thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển. IMF kết luận rằng, do các quốc gia khác ngoài Mỹ định giá phần lớn thương mại của họ bằng USD, sự tăng giá trị của đồng USD hoặc sự sụt giá của các đồng tiền khác so với đồng USD, làm giảm cả xuất khẩu và nhập khẩu. Kết quả là, sự sụt giá của các đồng tiền khác so với đồng USD ít tạo ra sự thúc đẩy xuất khẩu của họ hơn và do đó, ít hỗ trợ phản chu kỳ hơn. Những tác động này chuyển thành những chuyển động về giá trị trao đổi của đồng USD, đôi khi trái ngược với lý thuyết truyền thống, vì những chuyển động như vậy không ảnh hưởng đến khối lượng thương mại nhiều như dự kiến. Ví dụ, sau khi tăng giá vào tháng 3/2020, giá trị tính theo trọng số thương mại của đồng USD giảm giá đều đặn cho đến tháng 12/2020 và sau đó giảm dần đến năm 2021. Trong các mô hình tiêu chuẩn, đồng USD giảm giá sẽ làm giảm giá xuất khẩu và làm tăng nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Mỹ, hoặc tăng khối lượng xuất khẩu, trong khi khối lượng nhập khẩu dự kiến sẽ giảm cùng với giá ngoại tệ tăng so với đồng USD. Tuy nhiên, dữ liệu GDP đến quý II/2021 cho thấy, giá trị thương mại của Mỹ đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu cũng như khối lượng thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu thường di chuyển song song.
 
Vai trò quốc tế của đồng USD và các thị trường vốn phát triển tốt của Mỹ cũng mang lại cho Mỹ khả năng lớn hơn trong việc tài trợ cho thâm hụt thương mại của mình. Đối với một số chuyên gia thương mại, việc mô tả tài khoản vãng lai được chấp nhận rộng rãi như là một sản phẩm của mối quan hệ đầu tư tiết kiệm trong nước không phân biệt được giữa cán cân tiết kiệm - đầu tư trong nước của một quốc gia, khả năng tài trợ cho thâm hụt thương mại và vai trò của dòng vốn xuyên biên giới. Những dòng chảy này cho thấy khả năng Mỹ tài trợ cho những mất cân bằng thương mại của mình thông qua dòng vốn đầu tư vào sẽ làm giảm bớt những hạn chế do cán cân tiết kiệm - đầu tư trong nước áp đặt. Vai trò quốc tế của đồng USD cũng làm tăng áp lực lên Fed, về cơ bản đảm nhận vai trò chính là người cho vay toàn cầu, phương sách cuối cùng trong các cuộc khủng hoảng. Gợi nhớ đến cuộc khủng hoảng tài chính, nền kinh tế toàn cầu đã trải qua một thời kỳ thiếu hụt USD, đòi hỏi Fed phải thực hiện nhiều bước để đảm bảo nguồn cung USD cho các nền kinh tế Mỹ và toàn cầu, bao gồm kích hoạt các thỏa thuận hoán đổi tiền tệ hiện có, tạo ra các cơ sở tài chính mới để cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng trung ương và cơ quan quản lý tiền tệ. 
 
3. Áp lực nợ toàn cầu gia tăng
 
Năm 2021, tổng nợ toàn cầu đang ở mức cao nhất lịch sử. Các chính sách được đưa ra để ứng phó với đại dịch Covid-19 đã khiến mức nợ công thế giới tăng nhanh. Nợ công toàn cầu đạt mức cao kỷ lục với ước tính bằng 97,8% GDP của thế giới vào năm 2021. Các nền kinh tế phát triển và Trung Quốc chiếm hơn 90% tổng số nợ tích lũy trên toàn thế giới vào năm 2020 (226 nghìn tỷ USD), trong khi các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển có thu nhập thấp chỉ chiếm khoảng 7%. Nợ công tăng mạnh làm giảm các lựa chọn chính sách đối với các chính phủ, làm giảm triển vọng tăng trưởng toàn cầu, thậm chí gây rủi ro mất cân đối tài chính do nợ lãi tăng mà nguồn thu lại giảm, chưa phục hồi.
 
IMF ước tính rằng, các biện pháp chi tiêu và thu nhập của chính phủ để duy trì hoạt động kinh tế được thông qua đến tháng 9/2021 đã lên tới 16,9 nghìn tỷ USD. IMF cũng cập nhật ước tính của mình về sự gia tăng vay nợ của các chính phủ trên toàn cầu để tài trợ cho các chính sách tài khóa tăng 10,2% GDP toàn cầu vào năm 2020, trước khi giảm xuống 7,9% vào năm 2021 và 5,2% vào năm 2022 (IMF, 2021). Các ước tính khác chỉ ra rằng, các ngân hàng trung ương đã cam kết hỗ trợ 17 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế của họ để chống lại các tác động kinh tế liên quan đến đại dịch. (Hình 1)
 
 
Trong số các nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thâm hụt tài khóa trên GDP tăng lên 10,8% vào năm 2020, trước khi giảm xuống 8,8% vào năm 2021 và dự kiến 4,8% vào năm 2022. Đối với hầu hết các khu vực và quốc gia, IMF cho rằng, nợ trên GDP giảm vào năm 2021 và giảm đáng kể vào năm 2022 khi sự phục hồi kinh tế được dự báo sẽ tiếp tục. 
 
Tình trạng mắc nợ đã gia tăng trên hầu hết các khu vực kể từ khi bắt đầu đại dịch Covid-19, ngoại trừ Trung Quốc và một số nền kinh tế xuất khẩu dầu, gánh nặng nợ quá cao và doanh thu xuất khẩu quá thấp đang đè nặng các nước đang phát triển. Đối với hầu hết các nước đang phát triển, hàng hóa không phải là nguồn thu nhập đáng tin cậy vì doanh thu xuất khẩu của họ dao động do giá cả thường xuyên thay đổi. Tuy nhiên, cách tiếp cận thường được áp dụng nhằm nâng cao tiềm năng xuất khẩu bằng cách tham gia các hiệp định thương mại và đầu tư song phương hoặc đa phương không phải là giải pháp tốt. 
 
Lý do là các hiệp định này không được đàm phán trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), khiến nước kém phát triển hơn dễ gặp thiệt thòi vì không được các nước khác bênh vực. Một lý do khác là các hiệp định này thường điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp về chuyển giao công nghệ theo hướng có lợi cho các nước phát triển. Hơn nữa, kiểu tự do hóa được thúc đẩy bởi các hiệp định này khiến nền kinh tế toàn cầu trở nên dễ bị tổn thương hơn vì nó chủ yếu hướng tới tài chính hóa cực đoan, đi ngược lại nhu cầu chiến lược về quản lý tài chính, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
 
Việc xây dựng các biện pháp bảo vệ trước những biến động của nền tài chính toàn cầu là rất quan trọng đối với các nước đang phát triển. Nó nên bắt đầu bằng việc đánh giá thích hợp các gánh nặng nợ quốc gia và tư nhân về hồ sơ trả nợ, những yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển cũng như ứng phó với khủng hoảng.
 
Tính bền vững của nợ nước ngoài được dự báo sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong những năm tới, do nhiều nước đang phát triển phải đối mặt với nghĩa vụ trả nợ trên thị trường trái phiếu quốc tế. Trừ Trung Quốc, việc giải quyết các khoản nợ hiện có ở các nước đang phát triển sẽ đòi hỏi cần gần 1 nghìn tỷ USD vào năm 2030, năm được đánh dấu để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), bao gồm 571 tỷ USD tiền nợ gốc và 365 tỷ USD tiền lãi. Tổng số tiền vượt xa mục tiêu đầu tư ước tính là 2% GDP cần thiết cho quá trình chuyển đổi xanh. Việc thu hồi và xóa nợ, bao gồm cả việc hủy bỏ nợ, là cần thiết. Nhưng cho đến nay các biện pháp được thống nhất chủ yếu chỉ mang tính biểu tượng. Khoản cứu trợ đa phương lâu dài duy nhất được IMF cung cấp thông qua việc hủy bỏ các nghĩa vụ trả nợ ở 29 quốc gia, lên tới 727 triệu USD từ tháng 4/2020 đến tháng 10/2021.
 
Những kinh nghiệm tương phản trước đại dịch với việc quản lý nợ ở các nước phát triển và đang phát triển đã chuyển sang cuộc khủng hoảng hiện nay. Ngay cả với các tỷ lệ nợ tương tự, các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là các nền kinh tế phát hành tiền tệ dự trữ, vẫn tiếp tục hoạt động trơn tru và tăng trưởng. Ngược lại, các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ mất một thập kỷ mới có thể hồi phục. Chính phủ các nước phát triển có thể ban hành các biện pháp chi tiêu lớn hơn các nước đang phát triển có gánh nặng nợ tương tự hoặc thậm chí thấp hơn. Nói cách khác, việc tạo thanh khoản trong nước không nhất thiết cải thiện khả năng tiếp cận ngoại tệ, trong khi thâm hụt tài khóa đóng vai trò cản trở các nhà đầu tư tư nhân nước ngoài do lợi ích đầu cơ và ngắn hạn. 
 
Nhìn chung, trong bối cảnh định giá tài sản bị kéo dài, tâm lý nhà đầu tư có thể thay đổi nhanh chóng do những tin tức bất lợi về đại dịch hoặc diễn biến chính sách. Một mối quan tâm cấp bách là sự bế tắc đang diễn ra đối với mức trần nợ của Mỹ. Các vụ vỡ nợ hoặc tái cơ cấu công ty gây rối loạn quy mô lớn, chẳng hạn như trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc, có thể gây ảnh hưởng đến sự hồi phục kinh tế của Trung Quốc và thế giới.
 
4. Nguy cơ tăng lạm phát đậm dần
 
Áp lực lạm phát đã tăng nhanh ở Mỹ, một số thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển. Trong hầu hết các trường hợp, lạm phát gia tăng phản ánh sự không khớp cung - cầu liên quan đến đại dịch và giá hàng hóa cao hơn so với năm 2020. Ở một số thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển, áp lực về giá dự kiến sẽ tiếp tục do giá lương thực và giá dầu tăng, tỷ giá hối đoái trượt giá làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, sự không chắc chắn của nền kinh tế sẽ tiếp tục bao trùm, là nguyên tố chính làm gia tăng nguy cơ tăng trưởng lạm phát. Chuỗi cung ứng chưa thể phục hồi, do được thúc đẩy bởi sự gia tăng nhu cầu hàng hóa, cùng các biện pháp nới lỏng tài chính, sự gián đoạn từ phía cung và thời tiết cực đoan, cũng như hàng loạt các kế hoạch bơm tiền để hỗ trợ kinh tế của các chính phủ, giá hàng hóa đang tăng mạnh, dẫn đầu bởi kim loại và năng lượng. 
 
Áp lực lạm phát sẽ thể hiện qua việc giá cả lương thực gia tăng, giá xăng dầu tăng cũng sẽ được tính vào chi phí đầu vào của sản xuất và tỷ giá hối đoái tăng sẽ khiến giá hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh. 
 
Tại một số quốc gia ở châu Phi cận Sahara, Trung Đông và Trung Á, giá lương thực đã tăng đáng kể trong bối cảnh thiếu hụt cục bộ và giá lương thực toàn cầu tăng. Lạm phát cơ bản - loại bỏ ảnh hưởng của giá thực phẩm và năng lượng - cũng đã tăng ở nhiều quốc gia. Đại dịch kéo dài càng khiến vấn đề lạm phát thêm trầm trọng, gây áp lực với các hộ gia đình nghèo và nguy cơ bất ổn xã hội.
 
Năm 2021, tại khu vực các nền kinh tế phát triển, mức lạm phát đã tăng mạnh lên hơn 4% sau nhiều năm, giá dầu dự kiến tăng gần 60% so với mức thấp nhất của năm 2020. Giá hàng hóa phi dầu mỏ dự kiến tăng gần 30% so với mức năm 2020, phản ánh sự gia tăng đặc biệt mạnh mẽ của giá kim loại và thực phẩm trong thời gian gần đây (IMF, 2021). 
 
Ở một số nước, tỷ giá hối đoái đi xuống đã góp phần làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu. Hơn nữa, việc phân phối các container vận chuyển trên thế giới trở nên méo mó trong đại dịch, khiến nhiều người bị mắc kẹt trên các tuyến đường thông thương của họ. Những gián đoạn tạm thời (chẳng hạn như việc đóng cửa Kênh đào Suez, các hạn chế tại các cảng ở Đồng bằng sông Châu Giang của Trung Quốc sau khi bùng phát Covid-19 và tắc nghẽn ở các cảng Los Angeles và Long Beach) càng làm trầm trọng thêm sự chậm trễ trong thời gian giao hàng.
 
Nhu cầu thị trường giảm mạnh vào năm 2020 khiến nhiều doanh nghiệp cắt giảm đơn đặt hàng đầu vào trung gian. Khi sự phục hồi tăng lên vào năm 2021, các nhà cung ứng không kịp đáp ứng nhu cầu thị trường, yêu cầu về sản xuất an toàn hoặc xây dựng lại đội ngũ lao động. Đại dịch Covid-19 kéo dài dẫn đến tình trạng tồn đọng đơn hàng trong bối cảnh sản xuất gián đoạn, thiếu lao động lẫn phương tiện vận chuyển. Tình hình dịch bệnh cũng khiến nhiều doanh nghiệp lưỡng lự quay trở lại thị trường. Nguồn cầu tăng trong khi cung không tăng mấy, thậm chí là tiết cung. Việc Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) quyết định không tăng sản lượng khai thác dầu mỏ hồi tháng 10/2021 vừa qua, đã làm dấy lên lo ngại về việc giá dầu sẽ còn tăng kéo dài trong thời gian tới. 
 
Áp lực lạm phát có thể dai dẳng hơn dự đoán ban đầu đã khiến một số quốc gia đẩy lợi suất danh nghĩa lên cao hơn, làm đảo ngược hoàn toàn các chính sách trước đó (cuối tháng 9/2021). Các lỗ hổng tài chính vẫn tiếp tục gia tăng trong một số lĩnh vực, thậm chí, một phần còn bị che lấp bởi chính sách kích thích lớn. Các nhà hoạch định chính sách đang phải đối mặt với một sự đánh đổi đầy thách thức: Duy trì hỗ trợ ngắn hạn cho nền kinh tế toàn cầu trong khi ngăn ngừa những hậu quả không mong muốn và rủi ro ổn định tài chính trung hạn. Trong bối cảnh các điều kiện tài chính nới lỏng được duy trì trong thời gian dài, nền tảng ổn định tài chính cơ bản đang bị suy giảm. Nếu không được kiểm soát, những lỗ hổng này có thể phát triển thành các vấn đề về cấu trúc vĩ mô, khiến tăng trưởng trung hạn gặp rủi ro và giảm tốc độ phục hồi của hệ thống tài chính toàn cầu. (Hình 2)
 

 
Trong nửa đầu năm 2021, sự lạc quan chung của thị trường đã giúp thị trường tài chính tiền tệ có những bước tiến tăng trưởng. Song đến cuối năm 2021, sự lo ngại về triển vọng kinh tế do đại dịch vẫn leo thang đã kéo trùng xuống đà tăng trưởng chung. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn chưa kết thúc, các rủi ro về tài chính vẫn đang được các ngân hàng trung ương và các chính phủ theo dõi chặt chẽ. Tại đa số các quốc gia, các chính sách tài khóa và tiền tệ được triển khai theo hướng hỗ trợ sự phục hồi kinh tế trong năm 2021 và hướng tới kiềm chế lạm phát trong năm 2022.


ThS. Nguyễn Trần Minh Trí (Viện KT-CTTG - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam)
 
 TS. Nguyễn Minh Phong (Hà Nội )

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Chính sách tiền tệ của Fed năm 2024 và một số khuyến nghị đối với Việt Nam
Chính sách tiền tệ của Fed năm 2024 và một số khuyến nghị đối với Việt Nam
03/03/2024 1.593 lượt xem
Sau gần hai năm thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát và đưa lạm phát của nền kinh tế Hoa Kỳ về gần lạm phát mục tiêu là 2%, trong năm 2024, dự kiến Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ có những thay đổi lớn trong điều hành chính sách tiền tệ.
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
15/02/2024 2.755 lượt xem
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng trong việc tăng cường và bảo vệ giá trị của tổ chức thông qua chức năng cung cấp sự đảm bảo, tư vấn khách quan, chuyên sâu và theo định hướng rủi ro.
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Ngân hàng Mizuho Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
13/02/2024 2.894 lượt xem
Nhìn lại năm 2023, trên khắp Việt Nam và Nhật Bản đã diễn ra nhiều sự kiện kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tháng 12/2023, Mizuho đã hỗ trợ Diễn đàn kinh tế Nhật Bản - Việt Nam tại Tokyo cùng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và các định chế tài chính khác.
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
Triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024
26/01/2024 4.211 lượt xem
Sau những cú sốc mạnh trong năm 2022, hoạt động kinh tế toàn cầu có dấu hiệu ổn định vào đầu năm 2023.
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
15/01/2024 4.978 lượt xem
Chuyển đổi số và sự bùng nổ công nghệ có ảnh hưởng lớn đến hành vi của khách hàng và hoạt động kinh doanh. Xu hướng thay đổi này dẫn đến quá trình số hóa trong các lĩnh vực như sản xuất, chuỗi cung ứng, tài chính và các dịch vụ phụ trợ khác.
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Thẩm quyền để xử lí ngân hàng đang đổ vỡ một cách nhanh chóng và kịp thời - Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
05/01/2024 5.891 lượt xem
Trong năm vừa qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ sụp đổ của những ông lớn trong lĩnh vực ngân hàng, điều này dấy lên hồi chuông cảnh báo về tính chất dễ đổ vỡ của ngân hàng. Việc một ngân hàng đổ vỡ thể hiện kỉ luật thị trường đối với những ngân hàng có hoạt động kinh doanh thiếu an toàn, lành mạnh nhưng lại tạo ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng và người gửi tiền.
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
Phân tích lợi ích và rủi ro của tiền kĩ thuật số Ngân hàng Trung ương
21/12/2023 6.913 lượt xem
Sự chuyển dịch nhanh chóng của hệ thống tiền tệ số toàn cầu đã khiến chính phủ các nước có phần lúng túng trong việc thích nghi với sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi chi tiêu và đầu tư của người dân.
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
Hợp tác của Trung Quốc với các nước châu Phi trong lĩnh vực ngân hàng và một số kinh nghiệm cho Việt Nam
20/12/2023 6.454 lượt xem
Trung Quốc là đối tác kinh tế, thương mại và đầu tư lớn nhất của châu Phi trong thời gian qua và sẽ tiếp tục trong thời gian tới. Bài viết này tóm lược sự phát triển quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc với các nước châu Phi trong thời gian hơn một thập kỉ vừa qua và việc Trung Quốc sử dụng lĩnh vực ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển đó.
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
Thực tiễn sử dụng tiền mã hóa trong tài trợ cuộc xung đột Nga - Ukraine và hàm ý cho Việt Nam
16/11/2023 7.583 lượt xem
Bài viết khái quát quá trình triển khai huy động dòng vốn toàn cầu thông qua tiền mã hóa của Chính phủ Ukraine và Liên bang Nga; từ đó, đánh giá hiệu quả thực tiễn của việc sử dụng tiền mã hóa trong thanh toán xuyên biên giới, nguy cơ sử dụng tiền mã hóa trong các hoạt động rửa tiền, khủng bố và đưa ra hàm ý cho Việt Nam.
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
Quy định về hoạt động huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần tại Malaysia - Một số gợi mở cho Việt Nam
06/11/2023 7.577 lượt xem
Hoạt động huy động vốn cộng đồng đã trở nên phổ biến sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, phương thức này đã phát triển nhanh chóng ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó, hoạt động huy động vốn theo hình thức cổ phần (Equity - based Crowdfunding - ECF) là hình thức gọi vốn được các doanh nghiệp trong giai đoạn khởi đầu, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo rất ưa chuộng. Với ECF, các doanh nghiệp có thể huy động vốn từ cộng đồng thông qua một nền tảng trên Internet.
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
Phát triển ngân hàng hợp kênh: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất cho Việt Nam
20/10/2023 8.772 lượt xem
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và việc sử dụng ngày càng nhiều điện thoại thông minh và máy tính bảng, xu hướng hợp kênh đã dần trở nên quan trọng đối với tập hợp đa dạng các dịch vụ ngân hàng. Hoạt động ngân hàng hợp kênh cung cấp đường dẫn đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng thông qua nhiều kênh khác nhau (như chi nhánh ngân hàng, ATM, tổng đài điện thoại, eBanking, Internet Banking và Mobile Banking) một cách hợp nhất dựa trên ý tưởng “mọi thứ đều có thể được làm trên mọi kênh”.
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
Quản trị rủi ro số tại các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Đức và một số khuyến nghị
04/10/2023 12.269 lượt xem
Khi thế giới ngày càng trở nên số hóa và kết nối, cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng ngày một gia tăng, tạo động lực cho các ngân hàng thích ứng và thực hiện chuyển đổi số. Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối... đang hỗ trợ và đẩy nhanh tốc độ của quá trình chuyển đổi số, giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
Triển khai kinh tế tuần hoàn tại một số quốc gia trên thế giới - Kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
04/10/2023 9.982 lượt xem
Trong vài năm gần đây, nền kinh tế tuần hoàn (Circular economy - CE) đang ngày càng được chú ý trên toàn thế giới như một cách để khắc phục mô hình sản xuất và tiêu dùng hiện tại dựa trên tăng trưởng liên tục và tăng thông lượng tài nguyên.
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
Hạn chế của Basel II, sáng kiến khắc phục hướng đến Basel III của BIS và hàm ý cho Việt Nam
25/09/2023 11.067 lượt xem
Hiệp ước Basel II đã và đang được các ngân hàng thương mại (NHTM) áp dụng rộng rãi như một chiến lược nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản trị rủi ro, đảm bảo sự ổn định tài chính của ngân hàng. Mặc dù vậy, cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng giai đoạn 2008 - 2009 với sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính lớn như Ngân hàng Đầu tư Bear Stearns, các ngân hàng Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers đã cho thấy những điểm yếu của Basel II như mức vốn cấp 1 (Tier 1) tối thiểu 4% và tỉ lệ an toàn vốn không đủ bù đắp các khoản lỗ lớn; một số kĩ thuật sử dụng kế toán sáng tạo có thể che đậy rủi ro tín dụng; suy thoái kinh tế có thể dẫn đến áp lực bán tháo làm tăng tính thuận chu kì của hệ thống; sử dụng một số sản phẩm tài chính phức tạp như công cụ phái sinh, bảo lãnh như một phần của việc giảm rủi ro tín dụng…
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
Xu hướng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á
21/09/2023 10.905 lượt xem
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi rất nhiều yếu tố làm suy giảm đà phục hồi, nền kinh tế các nước tại khu vực châu Á cũng nằm trong xu hướng đó và được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại với các động lực tăng trưởng yếu, áp lực lạm phát ở mức vừa phải.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.800

80.700

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.800

80.700

Vàng SJC 5c

77.800

80.720

Vàng nhẫn 9999

65.600

66.800

Vàng nữ trang 9999

65.500

66.400


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,500 24,870 26,109 27,542 30,490 31,787 159.34 168.65
BIDV 24,545 24,855 26,297 27,515 30,608 31,768 160.37 168.83
VietinBank 24,456 24,876 26,330 27,525 30,892 31,902 160.88 168.83
Agribank 24,500 24,840 26,239 27,483 30,594 31,727 160.30 168.34
Eximbank 24,460 24,850 26,381 27,130 30,794 31,669 161.71 166.31
ACB 24,450 24,800 26,304 26,959 30,837 31,479 160.92 166.09
Sacombank 24,495 24,960 26,539 27,097 31,079 31,595 162.24 167.31
Techcombank 24,523 24,867 26,186 27,535 30,525 31,839 157.57 170
LPBank 24,240 25,170 26,259 27,597 30,879 31,830 159.79 171.29
DongA Bank 24,550 24,850 26,410 27,070 30,850 31,660 159.80 166.70
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?