Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 5.503 lượt xem
Tóm tắt: Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, dù đứng trước nhiều khó khăn và thách thức, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp CSTT và thu được những kết quả nổi bật trong điều hành lạm phát, lãi suất và tỉ giá. Năm 2024, bối cảnh vĩ mô và CSTT thế giới được kì vọng sẽ có những chuyển biến tích cực hơn, giúp giảm áp lực lên điều hành CSTT tại Việt Nam. Cùng với đó, CSTT định hướng mở rộng có thể tiếp tục được duy trì nhằm hỗ trợ sự phục hồi và phát triển của nền kinh tế. Qua việc điểm lại và phân tích những nét chính trong bức tranh điều hành CSTT của Việt Nam và thế giới trong năm qua, bài viết đưa ra nhận định về dư địa CSTT của Việt Nam trong năm 2024.
 
Từ khóa: Ngân hàng trung ương (NHTW), CSTT, tỉ giá, lạm phát, lãi suất, dư địa điều hành.
 
MONETARY POLICY MANAGEMENT IN VIETNAM: 
LOOKING BACK ON 2023 AND THE OUTLOOK FOR 2024 ON POLICY ROOMS
 
Abstract: In 2023, global economic uncertainties arising from geopolitical tensions and growth and inflation pressures prompted countries worldwide to adjust their monetary policies. Despite difficulties and challenges, the State Bank of Vietnam (SBV) effectively and synchronously implemented monetary policy solutions, yielding commendable outcomes in managing inflation, interest rates and exchange rates. In 2024, the positive shifts in the global macro context and monetary policies are anticipated, reducing the pressure on Vietnam’s monetary policy management. Furthermore, the prospect of continuing  expansionary monetary policies to support economic recovery and development is plausible. Through a review of the Vietnamese and global monetary policy landscape in 2023, the authors give the outlook for the monetary policy rooms of Vietnam in 2024.
 
Keywords: Central banks, monetary policies, exchange rates, inflation, interest rates, policy rooms.
 
1. Bối cảnh kinh tế thế giới và định hướng CSTT của các quốc gia
 
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định. Các yếu tố ảnh hưởng tới đà phục hồi kinh tế chung có thể kể đến hệ lụy của dịch Covid-19, căng thẳng địa chính trị giữa các nền kinh tế lớn, xung đột Nga - Ukraine kéo dài, xung đột Israel - Hamas, áp lực lạm phát và xu hướng thắt chặt tiền tệ tại nhiều quốc gia, biến đổi khí hậu... Ngoài ra, sự cố đối với một số định chế tài chính ở Mỹ hay EU cũng đặt ra các vấn đề cần theo dõi, giám sát đối với hệ thống tài chính quốc tế và tại mỗi quốc gia.
 
1.1. Tăng trưởng và lạm phát toàn cầu
 
Bước sang năm 2023, tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chậm lại. Diễn biến này xuất phát từ lí do sản lượng khu vực sản xuất giảm liên tục trong bối cảnh tổng cầu tiếp tục suy yếu (Hình 1). Chỉ số quản lí và mua hàng (PMI) tổng thể phản ánh kết quả hoạt động của khu vực sản xuất và dịch vụ trên toàn cầu qua các tháng liên tiếp suy giảm, hiện đã ở dưới ngưỡng 50 điểm. Tình trạng này diễn ra phổ biến tại các nền kinh tế, đáng chú ý là EU và Trung Quốc (Hình 2). Điểm sáng hiếm hoi thể hiện qua việc doanh thu bán lẻ đã tìm lại đà tăng trưởng dương sau chuỗi suy giảm kéo dài, mang tới động lực mới cho tăng trưởng trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục suy yếu.

Hình 1: Suy giảm tổng cầu thực kể từ giai đoạn Covid-19
Đơn vị: %, độ lệch của năm 2023 so với mức dự báo trước đại dịch
 
Nguồn: IMF
 
Hình 2: Diễn biến PMI lĩnh vực sản xuất tại các nền kinh tế lớn
Nguồn: Investing.com
 
Thành quả kinh tế khiêm tốn năm 2023 cộng với các động lực mới xuất hiện trong quý III và quý IV/2023 phần nào giúp cải thiện triển vọng kinh tế toàn cầu trong năm 2024. Dự báo tăng trưởng kinh tế cập nhật từ các tổ chức quốc tế do đó được điều chỉnh tăng, từ 2 - 2,5 điểm phần trăm. Trong đó, các nền kinh tế mới nổi (Ấn Độ, ASEAN, khối nước xuất khẩu dầu mỏ và Trung Quốc) có thể đóng góp chính vào GDP toàn cầu; khả năng đóng góp của Mỹ và các nền kinh tế lớn tại EU không mấy khả quan. (Hình 3)
 
Hình 3: Dự báo GDP toàn cầu
Đơn vị: % tăng trưởng qua từng năm (YOY)
 
Nguồn: IMF
 
Diễn biến lạm phát toàn cầu đã phần nào bớt căng thẳng, song với mức độ khác nhau tùy từng quốc gia, nhóm nền kinh tế. Tại các nền kinh tế lớn, diễn biến tích cực nhất là Mỹ với mức lạm phát tháng 11/2023 giảm còn 3,1% (đã bám sát hơn mục tiêu 2%), trong khi đó lạm phát tại EU và Anh dù đã giảm song vẫn ở mức cao, chưa thể đáp ứng kì vọng chính sách. Lạm phát của Nhật Bản cũng đã vượt 0,8 điểm phần trăm so với mục tiêu. Trung Quốc là nền kinh tế lớn duy nhất đang phải đối mặt với nguy cơ giảm phát trong bối cảnh kinh tế phục hồi chậm chạp. Tại các nước châu Á, lạm phát được kiểm soát tốt hơn dù nhiều yếu tố tác động còn tiềm ẩn. (Hình 4)

Hình 4: Diễn biến lạm phát tổng thể tại một số nền kinh tế 
Đơn vị: % YOY
Nguồn: Investing.com
 
Với lạm phát toàn cầu năm 2023 là 5,9% và từ diễn biến trên, dự báo lạm phát toàn cầu năm 2024 đạt 4 - 5% (thấp hơn mức 7,2% của năm 2022), trong đó vẫn sẽ có khác biệt về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giữa các nước và nhóm nền kinh tế (Hình 5).

Hình 5: Dự báo CPI toàn cầu 
Đơn vị: % YOY
Nguồn: IMF
 
Cần lưu ý rằng nguy cơ lạm phát tăng trở lại vào năm 2024 là rất lớn, đặt trong điều kiện nhiều bất ổn về địa chính trị, thắt chặt nguồn cung, tác động của biến đổi khí hậu, rủi ro tăng giá năng lượng và thực phẩm.
 
1.2. Phản ứng chính sách của NHTW các nước lớn trên thế giới
 
Trong năm 2023, đã có sự khác biệt giữa các NHTW trong việc định hướng điều chỉnh lãi suất: Một số quốc gia vẫn duy trì lãi suất cao nhằm ứng phó với lạm phát, trong khi một số khác đã hạ lãi suất để kích thích nền kinh tế. (Hình 6)
 
Hình 6: Diễn biến lãi suất tại các quốc gia 
Đơn vị: %/năm
Nguồn: IMF
 
Tại Mỹ: Tại một cuộc họp diễn ra vào tháng 12/2023, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) một lần nữa tạm ngừng chu kì tăng lãi suất, giữ nguyên lãi suất ở mức 5,25 - 5,5%, đồng thời dự kiến có thể thực hiện một số đợt tăng lãi suất nữa và duy trì lãi suất cao trong thời gian dài. Lạm phát của Mỹ có dấu hiệu hồi phục tích cực, song vẫn chưa thể quay về mục tiêu 2%. Bất chấp CSTT thắt chặt, có một bằng chứng cho thấy Mỹ hiện vẫn đủ sức trụ vững trong chu kì tăng lãi suất là tổng giá trị xây dựng theo tháng của nước này vẫn tăng trưởng dương trong năm 2023. Thị trường đang kì vọng một cuộc “hạ cánh mềm”.
 
Tại EU: Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tiếp tục nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm trong tháng 9/2023, đưa lãi suất cơ bản đồng Euro lên mức kỉ lục 4%. Dự kiến mức lãi suất này sẽ được duy trì trong thời gian đủ dài để bình ổn lạm phát trở về 2%.
 
Tại Anh: Tháng 9/2023, Ngân hàng Trung ương Vương quốc Anh (BoE) quyết định giữ nguyên mức lãi suất 5,25% (mức cao nhất trong vòng 15 năm qua), chấm dứt chuỗi 14 lần tăng lãi suất liên tiếp sau khi dữ liệu mới nhất cho thấy lạm phát hiện đang thấp hơn kì vọng. BoE tuyên bố sẽ thắt chặt CSTT hơn nữa nếu các chỉ báo vĩ mô thời gian tới vẫn cho thấy áp lực lạm phát dai dẳng.
 
Tại Trung Quốc: Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) vẫn duy trì CSTT nới lỏng. Song song với hạ lãi suất điều hành, Chính phủ Trung Quốc đồng thời đưa ra các chính sách nới lỏng khác để kích thích tiêu dùng trong nước cũng như tạo điều kiện cho việc mua nhà nhằm giảm bớt gánh nặng cho thị trường bất động sản. Tuy nhiên, phản ứng của nền kinh tế Trung Quốc đối với những chính sách này là khá yếu ớt.
 
Tại khu vực ASEAN-5: Đa số các nước đang áp dụng CSTT thắt chặt (trừ Việt Nam). Trong khi Thái Lan vẫn trong chu kì tăng lãi suất, các nước khác đã ngừng việc tăng lãi suất nhưng vẫn duy trì lãi suất khá cao. Theo dự báo của các tổ chức tài chính, các nước ASEAN sẽ chỉ điều chỉnh hạ các biểu lãi suất kể từ năm 2024.
 
2. Nhìn lại công tác điều hành CSTT của Việt Nam năm 2023
 
2.1. Những thành tựu nổi bật trong điều hành CSTT
 
Trong năm 2023, kinh tế Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn, thách thức đến từ cả thị trường quốc tế và trong nước. Lạm phát kéo dài tại nhiều quốc gia trên thế giới do ảnh hưởng từ sức cầu tăng đột biến giai đoạn hậu Covid-19, các CSTT thắt chặt nhằm đối phó lạm phát với lãi suất bị kéo cao, chuỗi cung ứng đứt gãy khi Trung Quốc mở cửa kinh tế muộn sau đại dịch Covid-19, xung đột Nga - Ukraine ảnh hưởng tới nguồn cung năng lượng… là những cản trở làm suy giảm đầu tư và giảm giá tài sản trên toàn cầu, khiến phục hồi kinh tế thế giới bị chững lại. Tại Việt Nam, đầu tư khu vực tư nhân và Nhà nước dù đã có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa đạt được mức kì vọng đề ra, mặt bằng lãi suất giảm nhưng sức cầu tín dụng sản xuất yếu…, lại không được hỗ trợ bởi khu vực quốc tế khi triển vọng xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư không mấy khả quan, làm tổng cầu trong nước sụt giảm.
 
Trước bối cảnh đó, nhằm đạt được một số thành công nhất định trong việc duy trì đà tăng trưởng, kiểm soát được lạm phát và ổn định giá trị tiền tệ, NHNN đã chủ động, linh hoạt điều hành CSTT, phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác.
 
Thứ nhất, vấn đề kiểm soát lạm phát. Mặc dù trong năm 2023 NHNN đã thực hiện việc chuyển sang CSTT nới lỏng thông qua việc liên tục giảm lãi suất điều hành nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế phục hồi sau đại dịch, tuy nhiên lạm phát vẫn được duy trì ở mức phù hợp. CPI tháng 10 và tháng 11 lần lượt là 0,08% và 0,25%, thấp hơn mức bình quân 3 tháng trước đó (0,80%) và thấp hơn so với cùng kì năm 2022. CPI năm 2023 tăng 3,25%, phù hợp với mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra.
 
Thứ hai, về lãi suất. NHNN liên tục giảm 04 lần lãi suất điều hành trong bối cảnh lãi suất thế giới tiếp tục tăng và neo ở mức cao với mức giảm 0,5 - 2%/năm trong năm 2023. Việc liên tục điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành được đánh giá là giải pháp linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, giúp hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giảm lãi suất điều hành đã có sự lan tỏa tích cực đến lãi suất trên thị trường. Theo ghi nhận của nhóm tác giả, mức lãi suất huy động bình quân ngành giảm từ mức 6,2% vào tháng 8/2023 xuống mức 5% vào tháng 12/2023¹, kéo theo đó là sự sụt giảm của lãi suất cho vay. (Hình 7)

Hình 7: Lãi suất huy động bình quân tại NHTM tại Việt Nam 
 Đơn vị: %/năm
Nguồn: Tổng hợp dữ liệu từ các NHTM

Về tỉ giá, trải qua nửa đầu năm 2023 tương đối êm ả khi tỉ giá USD/VND dao động trong vùng giá ổn định, bước sang quý III/2023, thị trường chứng kiến đà tăng mạnh mẽ của tỉ giá (Hình 8). Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ xu thế ngược pha trong CSTT giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Trong khi Fed liên tục thực thi CSTT thắt chặt trong 02 năm qua để kiểm soát lạm phát thì NHNN lại có xu hướng nới lỏng nhằm hỗ trợ nền kinh tế. Điều này dẫn đến chênh lệch lãi suất VND và USD âm, kết hợp với việc chỉ số USD Index (DXY) liên tục tăng mạnh trong thời gian gần đây dẫn tới áp lực tỉ giá liên tục gia tăng. Để đối phó với tình trạng này, NHNN đã tái kích hoạt lại hoạt động phát hành tín phiếu qua hình thức đấu thầu nhằm điều chỉnh trạng thái thanh khoản ngắn hạn trên hệ thống cũng như hút bớt thanh khoản ở thị trường 2 để giảm áp lực đầu cơ tỉ giá. Trong thời gian từ ngày 30/10/2023 đến ngày 08/12/2023, NHNN đã bơm ròng khoảng 204.649 tỉ đồng (8,4 tỉ USD) qua kênh nghiệp vụ thị trường mở (OMO), nhờ đó giảm lượng tín phiếu lưu hành về 0. Động thái này đã xóa tan lo ngại về việc NHNN có thể đảo ngược CSTT nới lỏng do áp lực tỉ giá. Theo ghi nhận, tỉ giá trung tâm ngày 28/12/2023 trở về mốc 23.904 VND/USD, sau khi đạt đỉnh ở mốc 24.110 VND/USD vào tháng 10/2023.
 
Hình 8: Diễn biến tỉ giá VND/USD năm 2023
Nguồn: Tổng hợp từ SBV và VCB

2.2. Một số khó khăn, thách thức
 
Bên cạnh thành công đã đạt được, vẫn còn đó nhiều bài toán khó Việt Nam cần phải giải quyết trong thời gian tới. 
 
Trước hết, tuy đã có dấu hiệu khởi sắc trong quý IV/2023, kết quả tăng trưởng tín dụng cả năm 2023 chưa thể hoàn thành mục tiêu kì vọng. Tính đến ngày 31/12/2023, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ghi nhận ở mức 13,71%, thấp hơn so với chỉ tiêu định hướng là 14%. Mức tăng trưởng tín dụng thấp trong năm qua thể hiện khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế nhìn chung còn yếu. 
 
Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng vẫn đang phải đối mặt với áp lực nợ xấu gia tăng. Xét 27/29 NHTM niêm yết trên sàn chứng khoán, tỉ lệ nợ xấu trong quý III/2023 tăng từ 2,09% lên 2,24%. Tỉ lệ nợ xấu trong năm 2024 dự kiến sẽ còn tăng mạnh hơn, khi Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 09/8/2023 của NHNN về việc tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn hết hiệu lực khiến các khoản nợ được tái cơ cấu trong thời gian trước đó trở lại đúng nhóm nợ. Trong khi nợ xấu ngành Ngân hàng có xu hướng tăng thì tỉ lệ bao phủ nợ xấu (số dư dự phòng nợ xấu/tổng dư nợ xấu) ở một số các ngân hàng sụt giảm, do lợi nhuận không đạt kế hoạch. Bên cạnh đó, thị trường bất động sản, vốn là nguồn tài sản bảo đảm của phần lớn của khoản nợ chưa cho thấy những dấu hiệu phục hồi rõ ràng. Điều này khiến cho dư địa để xử lí nợ xấu của các NHTM trong năm 2024 bị thu hẹp đáng kể.
 
3. Nhận định về dư địa CSTT của Việt Nam trong năm 2024 
 
Về cơ bản, định hướng chính sách của nhà điều hành là duy trì CSTT hỗ trợ cho tăng trưởng bởi áp lực cho giai đoạn 2024 - 2025 là lấy lại đà tăng trưởng kinh tế để đạt mục tiêu cả nhiệm kì. Vì vậy, trong năm 2024, CSTT được kì vọng sẽ duy trì nới lỏng để kích thích nền kinh tế tăng trưởng. 
 
Mối lo về nguy cơ đảo chiều của CSTT cũng đã giảm đáng kể trong giai đoạn cuối năm 2023 khi áp lực từ hai yếu tố là tỉ giá và lạm phát đã hạ nhiệt trong bối cảnh Fed không còn đề cập đến khả năng tăng lãi suất điều hành mà dự báo khả năng cắt giảm lãi suất vào năm 2024.
 
Về lãi suất điều hành tại Việt Nam, mặc dù CSTT năm 2024 dự báo tiếp tục nới lỏng, song NHNN cần thận trọng trong việc hạ thêm lãi suất. Mặt bằng lãi suất huy động đang ở mức thấp kỉ lục, nên lãi suất giảm thêm có thể khiến dòng vốn huy động chảy sang các kênh đầu tư khác. Hơn nữa, tín dụng tăng chậm hiện nay có nguyên nhân chính không phải do lãi suất, mà chủ yếu do sức cầu của nền kinh tế yếu. Ngoài ra, với việc các hoạt động kinh tế đang được phục hồi và cải thiện, tỉ lệ lạm phát đang dần được kiểm soát, khả năng NHNN điều chỉnh mạnh về lãi suất trong năm sau là tương đối thấp. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, dư địa giảm lãi suất điều hành của NHNN còn khá ít, còn dư địa tăng lãi suất năm tới gần như không có bởi các NHTM đang dư thừa thanh khoản. Thực tế, Chính phủ đã chuyển trọng tâm sang các biện pháp phi lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế. Do đó, lãi suất huy động, lãi suất cho vay sẽ được duy trì ổn định ở mức đủ tốt, tương tự như trước giai đoạn tăng lãi suất. Theo nhiều dự báo, NHNN có thể sẽ duy trì lãi suất chính sách ổn định ở mức 4,5% trong năm 2024 để hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng, phục hồi. 
 
Về tỉ giá, do áp lực tỉ giá năm 2024 không quá lớn, NHNN sẽ có cơ hội để gia tăng thêm quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia, đồng thời thuận lợi hơn trong điều hành CSTT nới lỏng. Cùng với đó, cầu ngoại tệ trong nước dồi dào và CSTT của Mỹ cho thấy, Fed có thể chưa hạ lãi suất, nhưng cũng sẽ không tăng lãi suất thêm nữa, nên sẽ không gây áp lực làm dịch chuyển dòng vốn từ nước ngoài vào Mỹ. Điều này có tác động tích cực tới các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam. Như vậy, nếu như đồng USD vẫn tiếp tục giữ ở mức lãi suất cao, nhưng không lên giá, thì sẽ không tác động nhiều đến CSTT của Việt Nam, từ đó NHNN có dư địa để tiếp tục mở rộng CSTT. Áp lực tỉ giá giảm bớt cũng tạo điều kiện cho NHNN bơm lượng tiền đã hút ròng trước đó ra thị trường thông qua kênh OMO. 
 
Về điều hành tín dụng, chính sách hạn mức tín dụng của NHNN tiếp tục duy trì linh hoạt như đã thực hiện trong năm 2023, khi NHNN dựa trên căn cứ chung về mức tín dụng để quyết định nếu ngân hàng nào đạt được tiêu chí đó thì cho phép chủ động tăng, chứ không ấn định hạn mức tín dụng với từng ngân hàng như trước đây. Cụ thể, ngày 31/12/2023, NHNN đã ban hành Văn bản số 10167/NHNN-CSTT gửi các TCTD về kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2024. Theo đó, bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2024 khoảng 15% và linh hoạt điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Để tạo thuận lợi cho các TCTD cung ứng nguồn vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, NHNN giao toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng 15% và yêu cầu TCTD kiểm soát tăng trưởng tín dụng cho cả năm 2024. NHNN cũng nhấn mạnh thêm nếu TCTD nào đạt được chỉ tiêu đó mà vẫn có khả năng cung ứng thêm vốn cho nền kinh tế, bảo đảm chất lượng tín dụng cũng như an toàn hệ thống, bảo đảm điều kiện kinh tế vĩ mô cho phép thì NHNN sẽ tiếp tục giao thêm.
 
Cùng với đó, NHNN cũng cần xem xét có nên tiếp tục duy trì chỉ tiêu tín dụng hay không, khi nhiều ý kiến cho rằng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho toàn nền kinh tế vẫn cần thiết. Dù sao, đây vẫn là công cụ để kiểm soát việc bơm vốn để thực thi CSTT hiệu quả, phù hợp với thực tế, đảm bảo các cân đối vĩ mô. Trong ngắn hạn, NHNN vẫn có thể tiếp tục duy trì công cụ này để điều hành CSTT. Tuy nhiên, với từng TCTD, NHNN có thể tăng cường sử dụng các giải pháp kĩ thuật thay thế, như kiểm soát tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tỉ lệ an toàn vốn (CAR), hay cho phép tăng dư nợ dựa trên năng lực của từng tổ chức thay vì phân bổ tín dụng bằng chỉ tiêu bình quân, theo phân hạng ngân hàng theo nhóm như hiện nay.
 
Tuy nhiên, rủi ro với nền kinh tế năm 2024 vẫn còn khá lớn, bao gồm rủi ro từ bên ngoài (bất ổn chính trị ở một số quốc gia, các nền kinh tế lớn phục hồi chậm, mối lo an ninh năng lượng…); hoạt động xuất khẩu tiếp tục giảm; doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; tín dụng phục hồi chậm. Ngoài ra, áp lực lạm phát năm 2024 khả năng cao hơn năm 2023 do hiệu ứng khuếch đại đà tăng giá của các mặt hàng do Nhà nước quản lí và giá hàng hóa thế giới còn ở mức cao. Năm 2024, trong khi lạm phát và giá cả thế giới giảm nhưng còn ở mức cao, CPI bình quân của Việt Nam có thể sẽ tăng khoảng 3,5 - 4%, nhưng vẫn nằm trong ngưỡng mục tiêu cho phép. Ngoài ra, năm 2024, với dự báo giá điện tiếp tục đà tăng, giá dịch vụ y tế cũng có thể tăng mạnh do đề xuất thay đổi cách tính giá viện phí của Bộ Y tế gần đây, những điều này cũng có thể gây áp lực lên lạm phát. Mặc dù vậy, CSTT sẽ chỉ đảo chiều thắt chặt khi có cả áp lực tỉ giá và lạm phát. Nhưng với áp lực tỉ giá không lớn và lạm phát năm 2024 chỉ tăng khoảng 3,5 - 4% (khó vượt ngưỡng 4,5%), CSTT chưa đủ lực để đổi chiều.


¹ Theo số liệu tổng hợp từ website của 19 NHTM tại Việt Nam.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
 
1. Hà Thành (2023), “CSTT cần thời gian thẩm thấu”, Thời báo Ngân hàng.
2. Hoàng Thắng (2023), "Linh hoạt CSTT để thúc đẩy phục hồi kinh tế nửa cuối năm", https://nhandan.vn
3. Minh Phương (2023), “Tiếp tục thực hiện CSTT chủ động, linh hoạt, nới lỏng, kịp thời, hiệu quả”, https://dangcongsan.vn
4. Ngô Trí Long (2023), “Góc nhìn chuyên gia: Nhìn lại việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn về CSTT của NHNN”, https://quochoi.vn 
5. Nguyễn Hữu Huân (2024), “CSTT nên thực thi theo mục tiêu lạm phát», Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 01.
6. NHNN (2023), “Điều hành CSTT bám sát cục diện tổng thể của nền kinh tế”, https://sbv.gov.vn
7. Viện Chiến lược Ngân hàng, NHNN (2023), “Bản tin kinh tế vĩ mô Quý III năm 2023”, https://khoahocnganhang.org.vn

TS. Phạm Đức Anh
ThS. Trương Hoàng Diệp Hương
ThS. Lê Thị Hương Trà

Học viện Ngân hàng
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức, doanh nghiệp - định hướng  phát triển trong thời đại 4.0
Chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức, doanh nghiệp - định hướng phát triển trong thời đại 4.0
23/04/2024 162 lượt xem
Dữ liệu đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp. Việc chia sẻ dữ liệu mở ra những cơ hội mới, tạo thêm nhiều giá trị, đồng thời góp phần bồi đắp kho dữ liệu hiện có, khai phá tiềm năng tối ưu hóa và đổi mới mô hình kinh doanh.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đám bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đám bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
19/04/2024 0 lượt xem
Do nhu cầu tài chính phục vụ cho quá trình chuyển đổi của các doanh nghiệp ngày càng cao nên thị trường tín dụng liên kết bền vững toàn cầu tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Việt Nam cần nhanh chóng thúc đẩy và mở rộng hoạt động cho vay nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp ở đa dạng ngành, nghề thực hiện chiến lược phát triển bền vững.
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
12/04/2024 994 lượt xem
Phát triển bền vững đang là mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai, theo đó tăng trưởng xanh với sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường chính là tiền đề để thực hiện mục tiêu này.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
10/04/2024 1.041 lượt xem
Bài viết đề xuất một số khuyến nghị về xây dựng, thực thi chính sách tín dụng liên kết bền vững để góp phần đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam...
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
05/04/2024 1.336 lượt xem
Nghiên cứu trình bày về tầm quan trọng của ESG (Environmental - môi trường, Social - xã hội, Governance - quản trị) trong quá trình phát triển bền vững của ngân hàng, thực tiễn triển khai các hoạt động về ESG, các kết quả đạt được và thách thức, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy triển khai ESG trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác động của minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
03/04/2024 1.235 lượt xem
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu tác động của tính minh bạch và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility - CSR) đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng.
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
02/04/2024 1.112 lượt xem
Bài viết dựa trên cơ sở tổng quan về giám sát tài chính, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để rút ra một số bài học và khuyến nghị đối với công tác giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước tại Việt Nam hiện nay.
Kinh nghiệm thực thi chính sách tài chính khí hậu trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam
Kinh nghiệm thực thi chính sách tài chính khí hậu trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam
01/04/2024 1.110 lượt xem
Một trong những vấn đề khó khăn nhất hiện nay đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đó là việc thiếu nguồn lực tài chính để ứng phó với biến đổi khí hậu, hay còn gọi là tài chính khí hậu...
Xây dựng Sổ tay kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Xây dựng Sổ tay kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
28/03/2024 1.205 lượt xem
Để nâng cao tính chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm toán nội bộ NHNN phù hợp thông lệ quốc tế và các quy định về kiểm toán nội bộ của Việt Nam, một trong những yêu cầu hiện nay là nghiên cứu, rà soát, ban hành Sổ tay Kiểm toán nội bộ NHNN nhằm tập hợp, hệ thống hóa các quy định chung về kiểm toán nội bộ của NHNN.
Nâng cao chất lượng Chatbot chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nâng cao chất lượng Chatbot chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
25/03/2024 1.582 lượt xem
Trong kỉ nguyên số, Chatbot đóng vai trò vô cùng quan trọng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.
Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước
Hạch toán phái sinh ngoại hối tại các tổ chức tín dụng và công tác quản lý ngoại hối của cơ quan nhà nước
22/03/2024 2.341 lượt xem
Trong thị trường kinh tế, giao dịch phái sinh là một dạng hợp đồng dựa trên giá trị các loại tài sản cơ sở khác nhau như hàng hóa, chỉ số, lãi suất hay cổ phiếu (giấy tờ có giá).
Văn hóa số và lộ trình xây dựng
Văn hóa số và lộ trình xây dựng
11/03/2024 2.602 lượt xem
Hiện nay, quyết liệt chuyển đổi số, tạo dựng hệ sinh thái ngân hàng mở, tạo ra nền tảng phát triển bán lẻ, tăng doanh thu dịch vụ, gia tăng trải nghiệm của khách hàng là xu hướng chủ đạo của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam.
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
07/03/2024 3.597 lượt xem
Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ quốc gia có thu nhập thấp sang quốc gia có thu nhập trung bình. Song, những khó khăn nội tại và thách thức bên ngoài của nền kinh tế làm cho nguy cơ Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình là có thể.
Động lực và kì vọng mới cho tương lai
Động lực và kì vọng mới cho tương lai
07/03/2024 2.453 lượt xem
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và phu nhân Lê Thị Bích Trân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã bắt đầu chuyến công tác tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Australia; thăm chính thức Australia và New Zealand từ ngày 05 - 11/3/2024 theo lời mời của Thủ tướng Australia Anthony Albanese và Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon.
Vai trò, tầm quan trọng của ESG trong phát triển bền vững tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò, tầm quan trọng của ESG trong phát triển bền vững tại ngân hàng thương mại Việt Nam
05/03/2024 4.502 lượt xem
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp đang dần chú trọng hơn đến sự phát triển bền vững như một hướng đi quan trọng trong hoạt động kinh doanh.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

81.000

83.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

81.000

83.500

Vàng SJC 5c

81.000

83.520

Vàng nhẫn 9999

74.200

76.100

Vàng nữ trang 9999

74.000

75.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,145 25,485 26,411 27,860 30,670 31,974 159.56 168.87
BIDV 25,185 25,485 26,528 27,748 30,697 31,977 159.6 168
VietinBank 25,160 25,485 26,651 27,946 31,096 32,106 161.07 169.02
Agribank 25,180 25,485 26,599 27,900 30,846 32,001 160.64 168.67
Eximbank 25,160 25,485 26,632 27,531 30,915 31,959 161.35 166.79
ACB 25,190 25,485 26,768 27,476 31,178 31,876 161.53 166.97
Sacombank 25,250 25,485 26,880 27,440 31,315 31,817 162.5 167.51
Techcombank 25,228 25,485 26,523 27,869 30,720 32,037 157.83 170.27
LPBank 24,943 25,485 26,344 27,844 31,044 31,948 159.37 170.59
DongA Bank 25,250 25,485 26,760 27,440 31,070 31,920 159.80 166.90
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,30
2,40
2,60
3,50
3,70
4,50
4,50
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,20
2,20
2,30
3,40
3,45
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,30
3,80
3,80
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?