Một số vấn đề pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản
30/11/2022 4.455 lượt xem

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích một số khía cạnh pháp lý về  xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) là quyền tài sản, bao gồm xác định phạm vi của TSBĐ là quyền tài sản để xử lý, xử lý TSBĐ là quyền tài sản có liên quan đến quyền lợi của người thứ ba và xử lý TSBĐ là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng. Tác giả chỉ ra bất cập của pháp luật và đưa ra đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện các quy định này.

Từ khóa: Quyền tài sản, tài sản bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm.

SOME REGULATIONS FOR THE HANDLING OF COLLATERAL AS PROPERTY RIGHTS

Abstract: In this article, the author analyzes some regulations for the handling of collateral as property rights, including determining the scope of collateral for disposal, collateral assets that can be related to the interests of a third party, and the property secured for settlement is a property right arising from the contract. The author points out the inadequacies of the law,  thereby proposing recommendations for completion. 

Keywords: Property rights, collaterals, handling secured assets.

1. Về xác định phạm vi TSBĐ là quyền tài sản để xử lý

Theo quy định chung của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, bên thế chấp có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thoả thuận (Điều 321 BLDS năm 2015). Tuy nhiên, nếu sử dụng quy định chung của BLDS trong trường hợp này có vẻ chưa thật sự rõ ràng khi áp dụng đối với các quyền tài sản như phần vốn góp, cổ phần; các quyền lợi nêu trên không hẳn đều là hoa lợi, lợi tức. Do vậy, trước khi có quy định hướng dẫn chi tiết hơn, khi giao kết hợp đồng thế chấp, các bên cần mô tả rõ các quyền trên có thuộc quyền tài sản thế chấp cùng với phần vốn góp hay không, đặc biệt là quyền mua phần vốn góp, mua cổ phần là những quyền tài sản liên quan nhưng có thể chưa phát sinh vào thời điểm thế chấp phần vốn góp, cổ phần. Không thỏa thuận rõ điều này có khả năng sẽ gây tranh chấp khi xử lý TSBĐ bởi ngay cả khi vận dụng các quy định chung, quy định chuyên ngành cũng khó có thể đưa ra một kết luận thống nhất rằng quyền mua phần vốn góp, mua cổ phần có thuộc TSBĐ hay không nếu các bên không có thỏa thuận, đó là chưa nói đến tại thời điểm bảo đảm, các quyền mua phần vốn góp, mua cổ phần cụ thể này chưa thực sự phát sinh.

        Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

Đối với các quyền được thông báo, quyền biểu quyết, quyền hưởng cổ tức từ phần vốn góp, từ cổ phần, về mặt lý luận, căn cứ vào bản chất, biện pháp bảo đảm nói chung, thế chấp nói riêng, thế chấp phần vốn góp, cổ phần không dẫn tới việc chuyển giao quyền sở hữu phần vốn góp hay cổ phần cho chủ nợ có bảo đảm (Điều 317 BLDS năm 2015), bên thế chấp vẫn là chủ sở hữu của phần vốn góp, cổ phần trong quá trình thế chấp. Với tư cách là thành viên góp vốn được ghi trong sổ đăng ký thành viên của công ty, bên thế chấp vẫn có quyền nhận lợi nhuận, lợi tức và các thông báo gửi cho thành viên của công ty cũng như được thực hiện mọi quyền biểu quyết gắn với tư cách thành viên của mình. Các quyền nhận lợi nhuận hay nhận thông báo, thông tin hay quyền biểu quyết của thành viên góp vốn là một số quyền cơ bản được Luật Doanh nghiệp năm 2020 ghi nhận1. Tuy nhiên, pháp luật cần phải có quy định cụ thể trong trường hợp thế chấp phần vốn góp, cổ phần để hạn chế tranh chấp. Theo đó, khi thế chấp phần vốn góp, cổ phần, nếu các bên không có thỏa thuận cụ thể thì cổ tức, quyền mua phần vốn góp, cổ phần không là TSBĐ. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh pháp luật đã thừa nhận lợi tức, quyền mua cổ phần phát sinh từ phần vốn góp, cổ phần có thể sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ một cách độc lập2. Các quyền nhận thông báo, quyền biểu quyết và các quyền khác của chủ sở hữu phần vốn góp, cổ phần vẫn thuộc về chủ sở hữu phần vốn góp.

Trước mắt, bên thế chấp không nên thế chấp quyền tài sản phát sinh từ phần vốn góp, cổ phần nói chung mà cần phải mô tả cụ thể, bởi như đã nêu, khái niệm này pháp luật chưa quy định rõ ràng, việc xác định sẽ gặp khó khăn. Ở khía cạnh nhà làm luật, cũng cần dự liệu nếu các bên thỏa thuận chung về thế chấp quyền tài sản phát sinh từ phần vốn góp, cổ phần mà không xác định rõ về cổ tức, về quyền mua phần vốn góp phát sinh từ phần vốn góp, cổ phần thì cần có hướng dẫn xử lý cụ thể.

Như vậy, các quy định xác định quyền TSBĐ để xử lý vẫn còn nhiều thiếu sót, cần sự điều chỉnh, bổ sung. Cụ thể, khi thế chấp phần vốn góp, cổ phần, nếu các bên không có thỏa thuận cụ thể thì cổ tức, quyền mua phần vốn góp, cổ phần không là TSBĐ. Các quyền nhận thông báo, quyền biểu quyết và các quyền khác của chủ sở hữu phần vốn góp, cổ phần vẫn thuộc về chủ sở hữu phần vốn góp, cổ phần.

2. Về xử lý TSBĐ là quyền tài sản liên quan đến quyền lợi của bên thứ ba

2.1. Trường hợp quyền lợi người thứ ba phát sinh trước khi giao kết hợp đồng bảo đảm  

Trong trường hợp trước khi sử dụng quyền tài sản để bảo đảm nghĩa vụ, chủ sở hữu đã chuyển giao một số quyền từ quyền tài sản đó cho chủ thể khác nhưng không thông báo cho ngân hàng thương mại (NHTM) nhận bảo đảm biết về điều này. Chẳng hạn, bên bảo đảm đã chuyển nhượng quyền sử dụng đối với quyền tài sản là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được bảo đảm, hoặc chủ thể quyền sử dụng đất chuyển giao quyền bề mặt, quyền hưởng dụng cho chủ thể khác. Vậy khi xử lý TSBĐ quyền lợi các bên được giải quyết như thế nào? Khi đó, vận dụng khoản 7 Điều 320 BLDS năm 2015, bên thế chấp có nghĩa vụ “Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có”; và trường hợp không thông báo thì “bên nhận thế chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp”. Quy định này khá bất lợi cho NHTM nhận bảo đảm, đặc biệt là khi quyền của người thứ ba đối với TSBĐ là quyền tài sản có giá trị đáng kể so với TSBĐ là quyền tài sản. Bởi lẽ, khi hủy hợp đồng thế chấp và yêu cầu bồi thường thì thời điểm này NHTM đã cấp tín dụng cho bên thế chấp, hủy hợp đồng thì khoản vay sẽ trở thành không có bảo đảm, việc yêu cầu bồi thường thiệt hại vốn không dễ dàng. Tuy nhiên, có thể nói, NHTM phải chịu một phần hậu quả bất lợi trong tình huống này cũng hợp lý ở khía cạnh họ phải chịu trách nhiệm đối với việc thẩm định quyền tài sản để nhận bảo đảm trước khi xác lập hợp đồng bảo đảm. Để hạn chế hậu quả không muốn như trên, pháp luật cần quy định nghĩa vụ bắt buộc đăng ký đối với giao dịch như hợp đồng li-xăng trong trường hợp chuyển giao quyền sử dụng đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, và các giao dịch chuyển giao quyền khác đối với tài sản như quyền bề mặt, quyền hưởng dụng.

2.2. Trường hợp quyền lợi người thứ ba phát sinh sau khi giao kết hợp đồng bảo đảm

Quyền tài sản là tài sản vô hình, hầu như không thể chuyển giao nên biện pháp bảo đảm đa số là thế chấp, tức bên bảo đảm vẫn là chủ thể kiểm soát quyền tài sản và khai thác công dụng của quyền tài sản. Trong quá trình khai thác TSBĐ là quyền tài sản, bên bảo đảm có thể chuyển giao cho chủ thể khác khai thác, sử dụng, từ đó xuất hiện quyền của người thứ ba đối với TSBĐ là quyền tài sản. BLDS năm 2015 có quy định về nghĩa vụ của bên thế chấp là không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp (Điều 320); bên thế chấp chỉ có thể cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp (Điều 321). Tuy nhiên, đối với các tài sản vô hình thì thường không cho thuê, cho mượn, mà xuất hiện người thứ ba liên quan đến những giao dịch đặc thù như đã nêu.

Đối với quyền tài sản là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, việc chủ sở hữu nhượng quyền cho các chủ thể khác sử dụng quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (Điều 141 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009) (hợp đồng li-xăng chẳng hạn) có thể ảnh hưởng đến giá trị của quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã thế chấp. Vậy sau khi thế chấp quyền tài sản này, bên thế chấp có quyền tự do chuyển nhượng quyền sử dụng đối với đối tượng quyền tài sản đã thế chấp hay không vẫn còn là một khoảng trống pháp luật. 

Đối với quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt, vấn đề đặt ra là theo BLDS năm 2015, với sự xuất hiện của các quyền khác đối với tài sản như quyền hưởng dụng, quyền bề mặt thì sau khi thế chấp tài sản, bên bảo đảm có được phép chuyển giao các quyền này cho chủ thể khác hay không. Chẳng hạn, chủ sở hữu quyền sử dụng đất sau khi thế chấp quyền sử dụng đất có thể chuyển giao quyền bề mặt của quyền sử dụng đất đó cho chủ thể thứ ba hay không, hiện pháp luật vẫn bỏ trống vấn đề này.

Như vậy, áp dụng nguyên tắc chung của pháp luật dân sự, cá nhân được thực hiện giao dịch mà pháp luật không cấm, do đó, bên thế chấp có quyền chuyển giao quyền hưởng dụng, quyền bề mặt cho chủ thể khác sau khi thế chấp quyền sử dụng đất, bên thế chấp quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đối với đối tượng này cho chủ thể khác. Tuy nhiên, bởi việc quyền giao các quyền trên có ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị của TSBĐ nên cần trao quyền cho bên nhận bảo đảm. Đặc biệt là khi bên thế chấp khó khăn, không có khả năng thanh toán khoản tiền được cấp tín dụng có thể cố tình chuyển giao quyền hưởng dụng, quyền bề mặt cho chủ thể khác, điều này ảnh hưởng đến giá trị quyền sử dụng đất khi cần xử lý. Do vậy, cần quy định sau khi biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng thì việc chuyển giao trên cần được bên bảo đảm thông báo cho bên nhận bảo đảm và bên nhận bảo đảm không phản đối, trừ trường hợp các bên đã có thỏa thuận khác. 

 Vấn đề đặt ra là đến thời điểm xử lý, quyền TSBĐ có liên quan đến lợi ích của người thứ ba như trên thì TSBĐ là quyền tài sản cần được xử lý như thế nào, quyền lợi của NHTM và bên thứ ba được giải quyết ra sao hiện vẫn chưa có quy định cụ thể.

Như vậy, khi xử lý TSBĐ là quyền tài sản có liên quan đến quyền lợi của bên thứ ba, đặc biệt là đối với quyền sử dụng đất, bên có quyền lợi liên quan là chủ thể có quyền khác đối với quyền sử dụng đất và quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, bên có quyền lợi liên quan là bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đối với tài sản trí tuệ thông qua hợp đồng li-xăng. Theo đó, tùy trường hợp mà cần có quy định phù hợp. Tác giả đề xuất như sau:

Một là, trường hợp quyền của bên thứ ba phát sinh trước khi quyền TSBĐ phát sinh hiệu lực đối kháng, khi đó xuất phát từ ý nghĩa của hiệu lực đối kháng và trách nhiệm của bên nhận bảo đảm trong việc thẩm định, pháp luật cần quy định không làm chấm dứt hợp đồng chuyển giao quyền cho chủ thể thứ ba cho đến khi hết thời hạn hưởng quyền, hoặc hết thời hạn hợp đồng.

Hai là, trường hợp biện pháp thế chấp đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba mà bên thế chấp chuyển giao một phần quyền trên quyền tài sản thế chấp nhưng không thông báo cho bên nhận thế chấp biết hoặc bên nhận thế chấp đã phản đối trước đó thì hợp đồng chuyển giao đó chấm dứt tại thời điểm xử lý tài sản thế chấp. Quyền, nghĩa vụ giữa bên thế chấp và bên nhận chuyển giao được giải quyết theo thỏa thuận trong hợp đồng chuyển giao quyền đó.

3. Về xử lý TSBĐ là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng

Thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, đối tượng thế chấp chính là quyền tài sản được hình thành trên cơ sở hợp đồng. Việc xử lý quyền tài sản sẽ có những nét đặc thù, khác biệt hơn so với tài sản hữu hình. Việc bán đấu giá quyền tài sản trong nhiều trường hợp không phù hợp, nên đòi hỏi những phương thức xử lý khác phù hợp hơn. Theo quy định tại Điều 303 BLDS năm 2015 thì bên cạnh liệt kê các phương thức cụ thể, điều luật cũng xác định có thể thỏa thuận “phương thức khác”. Quy định này cho phép các bên có thể thỏa thuận phương thức xử lý quyền TSBĐ theo ý chí của mình. Các phương thức phù hợp có thể là bên nhận bảo đảm có thể chuyển nhượng hợp đồng về xác lập quyền tài sản, hoặc nhận chính quyền tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ. Vì thế, để thuận lợi cho việc xử lý, pháp luật cần quy định tường minh phương thức xử lý quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng. Tuy nhiên, nếu các bên không có sự thỏa thuận và bên thế chấp không hợp tác thì có thể dùng phương thức nào để xử lý cũng là vấn đề đặt ra, trong khi nếu áp dụng quy định chung của Điều 303 BLDS năm 2015 để bán đấu giá thì trong nhiều trường hợp không phù hợp hoặc khó thực hiện.

Một vấn đề khác đặt ra là có những tình huống trong quá trình bảo đảm, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng được sử dụng BĐNV có sự biến đổi gây khó khăn trong việc xử lý. Thực tế, trong một số trường hợp, “quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng”“tài sản hình thành trong tương lai” có sự tương đồng nhất định. Bởi trong cùng một điều kiện về lợi ích, các bên có thể lựa chọn việc sử dụng quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hoặc tài sản hình thành trong tương lai để làm TSBĐ. Chẳng hạn, xét tình huống một người vừa ký hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, người này muốn dùng lợi ích có được từ hợp đồng này để bảo đảm nghĩa vụ thì có thể chọn thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hoặc nhà ở hình thành trong tương lai. Nếu tiếp cận đối tượng thế chấp trong tình huống này là một vật hữu hình (nhà ở) thì các bên có đối tượng thế chấp là nhà ở hình thành trong tương lai, nếu tiếp cận đối tượng thế chấp là dạng quyền thì các bên có đối tượng thế chấp là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng. Xét cho cùng, lợi ích mà bên thế chấp có được thông qua hợp đồng sẽ là giá trị đảm bảo mà các bên hướng tới. Vì thế, nếu đã chọn thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng thì không thể đồng thời thế chấp tài sản hình thành trong tương lai trong tình huống này và ngược lại3. Và trong thực tiễn, các bên thường lựa chọn thế chấp đối tượng nào trong tình huống này chỉ đơn giản là thuận tiện trong giao kết hợp đồng bảo đảm, đăng ký biện pháp bảo đảm4. Tuy nhiên, ở khía cạnh pháp lý, chế định “quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng” và chế định “tài sản hình thành trong tương lai” là hai chế định hoàn toàn khác nhau5. Điều này đặt ra vấn đề cần có những quy định khác nhau đối với mỗi đối tượng bảo đảm phù hợp với bản chất của từng quan hệ trong xác lập và thực hiện giao dịch bảo đảm6. Ở khía cạnh Nhà nước, nhìn nhận rõ bản chất cũng như mối liên hệ này giúp nhà làm luật có sự điều chỉnh tương ứng về đối tượng của biện pháp bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai và quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng trong những trường hợp nhất định; pháp luật cũng không thể cấm các bên chọn một đối tượng nhất định trong hai đối tượng trên khi giao kết hợp đồng vì ảnh hưởng đến quyền định đoạt của chủ thể đối với tài sản, vì vậy quy định hiện hành chỉ dừng lại ở việc cho phép chuyển đổi từ hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán (nhà ở) hình thành trong tương lai sang hợp đồng thế chấp (nhà ở) hình thành trong tương lai qua việc đăng ký lại thế chấp. Các bên trong quan hệ bảo đảm cũng cần nhận thức được quy định pháp luật hiện hành để có sự chủ động trong việc lựa chọn bảo đảm bằng quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hay tài sản hình thành trong tương lai trong những trường hợp nhất định.

Trong trường hợp các bên chọn phương thức thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ đã đưa ra những hướng dẫn chi tiết về các phương thức xử lý khá phù hợp, theo đó, các bên có thể thỏa thuận7: (i) Trường hợp TSBĐ chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp thuộc đối tượng phải đăng ký theo quy định của pháp luật thì bên nhận bảo đảm có thể chuyển nhượng hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng khác về xác lập quyền đối với tài sản hình thành trong tương lai, nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm hoặc bán tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật; (ii) Trường hợp TSBĐ đã hình thành và bên bảo đảm đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thì bên nhận bảo đảm có thể nhận chính tài sản này để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm hoặc xử lý theo quy định chung về xử lý TSBĐ đối với tài sản hiện có.

Vấn đề đặt ra là trường hợp các bên dùng quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng để bảo đảm nghĩa vụ trong tình huống trên thì xử lý quyền tài sản trong trường hợp này sẽ như thế nào nếu có sự chuyển hóa TSBĐ trong quá trình bảo đảm. Bởi lẽ, trong tình huống này, nếu đối tượng mua bán là vật hữu hình đã hình thành, tài sản đã được bàn giao cho bên mua, nghĩa vụ trả tiền cho bên bán đã xong, hợp đồng đã chấm dứt. Khi đó, quyền tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ đã không còn vì hợp đồng mua bán làm căn cứ phát sinh quyền tài sản đã không còn. Theo Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, việc xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai được thực hiện theo quy định về xử lý quyền đòi nợ (khoản 5 Điều 7). Hai loại quyền tài sản này có những điểm khác biệt, cách quy định này quá chung chung và khó áp dụng. Tuy nhiên, có thể dựa trên tinh thần của quy định về xử lý quyền đòi nợ, theo đó, khi quyền đòi nợ đến hạn trước khi nghĩa vụ bảo đảm đến hạn, lúc này quyền đòi nợ có thể chuyển thành khoản tiền trong tài khoản ngân hàng. Như vậy, tương tự, trong trường hợp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng không còn và đã chuyển hóa thành tài sản khác, tài sản đã hình thành này sẽ trở thành tài sản thế chấp. Chẳng hạn, trong trường hợp trên, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai là nhà ở đã hình thành, khi đó nhà ở trở thành tài sản thế chấp và có thể được xử lý. Khi đó, bên nhận bảo đảm có thể nhận chính tài sản này hoặc thỏa thuận về các phương thức xử lý TSBĐ theo quy định chung tại Điều 303 BLDS năm 2015. Hiện nay, vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, do đó vẫn còn vướng về lý luận và thiếu cơ sở pháp lý để áp dụng khi xử lý TSBĐ là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng.

Như vậy, trong xây dựng các quy định về xử lý TSBĐ là quyền tài sản, cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa tài sản hữu hình hình thành trong tương lai với  quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (ví dụ nhà ở hình thành trong tương lai và  quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở), từ đó có những quy định xử lý phù hợp. Hiện nay, pháp luật cho phép các bên có thể lựa chọn việc thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hoặc thế chấp tài sản hình thành tương tương lai. Quy định hiện hành cũng đã hướng dẫn về xử lý TSBĐ hình thành trong tương lai; tuy nhiên, quy định về xử lý  quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng vẫn còn bỏ ngỏ. Đặc biệt, khi  quyền tài sản là đối tượng của hợp đồng bảo đảm không còn và đã chuyển hóa thành tài sản khác. Vì vậy, pháp luật cần khẳng định tài sản đã hình thành đó sẽ trở thành TSBĐ. Đồng thời, xác định bên nhận bảo đảm có thể nhận chính tài sản này hoặc thỏa thuận về các phương thức xử lý TSBĐ theo quy định chung tại Điều 303 BLDS năm 2015.
 

1Khoản 1 Điều 49 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định quyền của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh; khoản 1 Điều 187 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về quyền của thành viên trong hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn.
2 Điều 15 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ.
3Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 07/2019/TT-BTP ngày 25/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
4Chẳng hạn,  trường hợp thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai trước đây, người có nhà ở hình thành trong tương lai áp dụng quy định của pháp luật dân sự và các văn bản dưới luật để thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà, đối tượng giao dịch ở đây là quyền tài sản chứ không phải là tài sản hữu hình - nhà ở hình thành trong tương lai. Nhưng bởi vướng quy định của pháp luật trong quá trình vận dụng thế chấp nhà ở trong tương lai, khó thể giao kết hợp đồng thế chấp đúng luật, đặc biệt là vướng quy định Luật Nhà ở về yêu cầu giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở khi sử dụng làm tài sản bảo đảm, từ đó cơ quan công chứng cũng e ngại và từ chối việc công chứng. Do vậy, ngân hàng cũng chọn lựa hình thức nhận thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng. Xem thêm Huỳnh Anh (2016), “Một số vấn đề pháp lý về thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai tại ngân hàng thương mại”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (19), tr. 51-58.
5Xem thêm Võ Đình Nho và Tuấn Đạo Thanh, Luận bàn về thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10 năm 2009, tr. 3-11.
6Thực tiễn đã có không ít những vướng mắc trong các quy định pháp luật do sự liên quan của hai đối tượng bảo đảm này. Nội dung này sẽ được tác giả phân tích kỹ hơn ở phần sau.
7 Điều 52 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ.

 
 TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Bộ luật Dân sự  năm 2015.
2. Luật Doanh nghiệp năm 2020.
3. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
4. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
5. Thông tư số 07/2019/TT-BTP ngày 25/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
6. Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm.
7. Xem thêm Huỳnh Anh (2016), “Một số vấn đề pháp lý về thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai tại ngân hàng thương mại”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (19), tr. 51-58.
8. Võ Đình Nho và Tuấn Đạo Thanh, “Luận bàn về thế chấp tài sản hình thành trong tương lai”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10 năm 2009, tr. 3-11.

ThS. Huỳnh Anh
Khoa Luật và Khoa học chính trị, Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh


Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Dữ liệu thống kê trong phục vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Dữ liệu thống kê trong phục vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
28/02/2024 1.317 lượt xem
Trải qua hơn 10 năm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, công tác thống kê tiền tệ phục vụ điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có nhiều bước tiến đáng kể.
Nhận định tác động của chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2023 đối với nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị
Nhận định tác động của chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2023 đối với nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị
24/02/2024 1.461 lượt xem
Năm 2023 vừa qua đã chứng kiến những biến động mạnh mẽ trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) trên thế giới, nổi bật là việc các ngân hàng trung ương (NHTW) liên tục tăng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát.
Chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
13/02/2024 1.935 lượt xem
Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các nước đã thừa nhận sự cần thiết của chính sách an toàn vĩ mô (ATVM) trong ổn định tài chính và đặt chính sách ATVM vào vị trí trung tâm của sự tương tác giữa các chính sách kinh tế vĩ mô với chính sách an toàn vi mô.
Chính sách tài khóa năm 2023 góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Chính sách tài khóa năm 2023 góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
11/02/2024 1.859 lượt xem
Nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2023 được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp, khó dự báo. Căng thẳng địa chính trị, tranh chấp giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột giữa Nga - Ukraine và Israel - Hamas diễn biến bất ngờ, lạm phát và giá nhiên liệu tăng cao khiến đà phục hồi của kinh tế thế giới chậm lại.
Phát triển lành mạnh tín dụng tiêu dùng, hạn chế tín dụng đen
Phát triển lành mạnh tín dụng tiêu dùng, hạn chế tín dụng đen
07/02/2024 1.960 lượt xem
Thời gian qua, tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20%/năm, từng bước góp phần giúp người dân, đặc biệt là những người yếu thế tiếp cận được các dòng vốn chính thức; hạn chế tình trạng tín dụng đen.
Bài toán tín dụng năm 2023 và lời giải cho năm 2024
Bài toán tín dụng năm 2023 và lời giải cho năm 2024
31/01/2024 2.235 lượt xem
Năm 2023 đã đi qua với nhiều câu chuyện kinh tế nổi bật và một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm rất lớn trong hoạt động của ngành Ngân hàng là vấn đề tăng trưởng tín dụng.
Triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Kết quả và giải pháp, định hướng thời gian tới
Triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Kết quả và giải pháp, định hướng thời gian tới
29/01/2024 2.127 lượt xem
Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 (ban hành theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ - Quyết định 1813) được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đầu mối phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai thực hiện được hơn hai năm, đã góp phần tạo sự chuyển biến sâu, rộng về TTKDTM trong nền kinh tế, thúc đẩy sử dụng các phương tiện, dịch vụ TTKDTM.
Chính sách tài khóa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô năm 2023 và một số khuyến nghị năm 2024
Chính sách tài khóa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô năm 2023 và một số khuyến nghị năm 2024
11/01/2024 2.639 lượt xem
Năm 2023, kinh tế toàn cầu phải đối mặt với nhiều rủi ro, bất ổn do tình trạng suy thoái và lạm phát tăng cao lan rộng ở nhiều nước và khu vực; xu hướng thắt chặt tiền tệ thông qua lãi suất cao, các căng thẳng địa chính trị và dư địa tài khóa ngày càng thu hẹp… đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phục hồi kinh tế toàn cầu.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với cổ phần là tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với cổ phần là tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng
19/12/2023 3.912 lượt xem
Để đảm bảo quyền thu hồi nợ, các tổ chức tín dụng (TCTD) quy định khoản vay phải có tài sản bảo đảm (TSBĐ). Đối với doanh nghiệp, TSBĐ cho khoản vay khá đa dạng, trong đó cổ phần cũng được xác định là một loại TSBĐ. Tuy nhiên, hiện nay, việc thi hành án cổ phần còn nhiều hạn chế, vướng mắc do pháp luật hiện hành thiếu vắng các quy định cụ thể. Bài viết tập trung phân tích vấn đề thi hành án cổ phần là đối tượng trong giao dịch bảo đảm thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Giải pháp hoàn thiện các chính sách, kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam
Giải pháp hoàn thiện các chính sách, kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam
16/12/2023 3.144 lượt xem
Việt Nam đặt mục tiêu giảm phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, trên cơ sở chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, xây dựng kinh tế carbon thấp, kinh tế tuần hoàn.
Giải pháp tăng cường phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
Giải pháp tăng cường phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
24/11/2023 4.544 lượt xem
Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, các hành vi rửa tiền và tài trợ khủng bố cũng gia tăng, gây nhiều hệ lụy tiêu cực. Đây là cuộc chiến thực sự và đòi hỏi Việt Nam cần liên tục cập nhật, nhận diện và hoàn thiện các giải pháp đồng bộ nhằm ngăn chặn kịp thời và hiệu quả các hành vi này, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp
Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp
17/11/2023 3.501 lượt xem
Doanh nghiệp nhà nước luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam. Sau hơn 35 năm đổi mới, mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam
Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam
07/11/2023 3.505 lượt xem
Bảo lãnh là một trong 09 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Dân sự và được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực xã hội, nhất là trong các hoạt động của tổ chức tín dụng. Ngày 30/9/2022, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 11/2022/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư số 11/2022/TT-NHNN), trong đó, tại Điều 9 có điểm mới nổi bật là hoạt động bảo lãnh điện tử.
Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”
Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”
28/10/2023 3.153 lượt xem
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 7/2023, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Janet Yellen cho biết: “Bộ Tài chính Hoa Kỳ ghi nhận các thành tựu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong quá trình hiện đại hóa công tác điều hành chính sách tiền tệ, cụ thể là cơ chế điều hành tỉ giá. Tỉ giá đã trở nên linh hoạt và minh bạch hơn. Có thể nói, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ tỉ giá đang được phát huy tốt, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Hai năm qua, kinh tế thế giới đã trải qua các cú sốc lớn và theo quan điểm của tôi, việc điều hành tỉ giá linh hoạt hơn đã giúp Việt Nam vượt qua những cú sốc này”.
Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế
Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế
18/10/2023 3.663 lượt xem
Trong 9 tháng đầu năm 2023, bám sát chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?