Một số bất cập của Quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu URDG 758 2010 của ICC
18/10/2023 1.543 lượt xem
Tóm tắt: Bảo lãnh là một biện pháp đảm bảo nghĩa vụ dân sự thông dụng, nhưng cho đến nay trên thế giới chưa có luật quốc tế nào được ban hành để điều chỉnh phương thức bảo lãnh này ngoài các tập quán thương mại quốc tế do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành là Quy tắc Thống nhất về Bảo lãnh theo yêu cầu (Uniform Rules for Demand Guarantees) số 458 năm 1992 (gọi tắt là URDG 458 1992) và bản sửa đổi hiện hành năm 2010, số 758 (gọi tắt là URDG 758 2010). 
 
URDG 758 2010 là một bộ quy tắc rõ ràng, chính xác và toàn diện hơn các quy tắc trước đó về bảo lãnh. Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng URDG 758 2010 vào đời sống kinh tế - xã hội đã xuất hiện một số bất cập. Bài viết này phân tích những bất cập trong một số điều khoản của URDG 758 2010 nhằm lưu ý người sử dụng bảo lãnh và hướng tới các bổ sung chỉnh sửa cần thiết cho một URDG trong tương lai.
 
Từ khóa: Bảo lãnh theo yêu cầu, bảo lãnh, người bảo lãnh, người yêu cầu, người thụ hưởng.
 
SOME INADEQUACIES OF THE UNIFORM RULES ON DEMAND GUARANTIESN- URDG 758 ICC 2010
 
Abstract: Guarantee is a common method of ensuring civil obligations, but until now in the world, no international law has been issued to regulate this method of guarantee, other than international trade practices established by the International Chamber of Commerce (ICC). ICC issued Uniform Rules for Demand Guarantees No. 458 of 1992 (referred to as URDG 458 1992) and the current amendment in 2010, No. 758 (referred to as URDG 758 2010 ICC).
 
URDG 758 2010 is a clearer, more precise and comprehensive set of rules than the previous rules on guarantees. However, through the actual application of URDG 758 2010 to socio-economic life, some inadequacies have appeared. This article analyzes the inadequacies in some provisions of URDG 758 2010 to draw attention to guarantee users and point towards necessary additions and corrections for a future URDG.
 
Keywords: Demand guarantee, guarantee, guarantor, aspplicant, beneficiary.
 
1. Giới thiệu
 
Trong lĩnh vực thương mại quốc tế cũng như thương mại quốc gia, nếu phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực tài trợ cho người mua, nhà nhập khẩu và đảm bảo tài trợ thanh toán cho người bán, nhà xuất khẩu, thì phương thức bảo lãnh có phạm vi tài trợ rộng hơn nhiều, không chỉ ở lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại, đầu tư, mà còn cả lĩnh vực hoạt động dân sự. Có thể liệt kê các loại hình bảo lãnh như: Bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh các hoạt động dân sự như bảo lãnh tái bảo hiểm, bảo lãnh hợp đồng phụ, bảo lãnh tòa án, bảo lãnh của công ty mẹ và bảo lãnh sự đảm bảo…
 
Bảo lãnh có phạm vi sử dụng rất rộng nên ICC đã ban hành một số các quy tắc thống nhất về bảo lãnh hiện đang được lưu hành trên thị trường, gồm: Các quy tắc Thống nhất về trái phiếu hợp đồng (Uniform Rules for Contract Bonds - URCB); Các quy tắc Thống nhất về bảo lãnh hợp đồng (Uniform Rules for Contract Guarantees - URCG) và URDG.
 
URDG 758 2010 được Ban điều hành ICC nhất trí thông qua tại cuộc họp ở New Delhi vào ngày 03/12/2009, có hiệu lực vào ngày 01/7/2010. URDG 758 2010 không chỉ cập nhật URDG 458 1992, mà còn là kết quả của một quá trình đầy tham vọng nhằm xây dựng một bộ quy tắc mới vào thế kỉ 21 rõ ràng, chính xác và toàn diện hơn. URDG 758 2010 nhận được sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế, tổ chức tài chính, cơ quan quản lí ngân hàng, nhà lập pháp và liên đoàn nghề nghiệp, được sử dụng bởi các ngân hàng, doanh nghiệp trên thế giới và ở các lĩnh vực công nghiệp. Ở Việt Nam, URDG 758 2010 được chủ yếu sử dụng khi các ngân hàng phát hành bảo lãnh có yếu tố nước ngoài. 
 
2. Tổng quan về URDG 758 2010 của ICC 
 
Trải qua 18 năm kể từ khi được ICC ban hành và ứng dụng trên thị trường (1992 - 2010), URDG 458 1992 đã gặt hái được những thành công nhất định, đặc biệt, đã đem lại sự tin tưởng cho các ngân hàng, doanh nghiệp, các tổ chức phi tài chính và các cá nhân. Tuy nhiên, để thích ứng với sự thay đổi và xu thế phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, URDG 458 1992 cần phải sửa đổi cho phù hợp. Theo đó, ngày 03/12/2010, phiên bản URDG 758 2010 đã chính thức được ICC ban hành và 10 năm sau, ICC tiếp tục ban hành Tập quán Tiêu chuẩn quốc tế đối với cam kết bảo lãnh theo yêu cầu (International Standard Demand Guarantee Practice  - ISDGP 758) để sử dụng trong hoạt động bảo lãnh.
 
Trong số các quy tắc trên, URDG 758 2010 hiện được tham chiếu phổ biến trong các thư bảo lãnh và được các ngân hàng phát hành cho các doanh nghiệp trên khắp thế giới, đặc biệt là các ngân hàng châu Âu và ngân hàng theo thông lệ châu Âu, trong đó có các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam. URDG 758 2010 gồm 35 điều khoản, thể hiện đầy đủ các nội dung liên quan đến một giao dịch bảo lãnh như: Áp dụng URDG; định nghĩa; diễn giải; phát hành và hiệu lực; tính độc lập của bảo lãnh và bảo lãnh đối ứng; chứng từ đối với hàng hóa, dịch vụ hoặc việc thực hiện; các điều kiện phi chứng từ; nội dung của các chỉ thị và bảo lãnh; thông báo bảo lãnh và sửa đổi; các sửa đổi; xuất trình; yêu cầu thanh toán; kiểm tra; thanh toán; bất khả kháng; chuyển nhượng bảo lãnh và chuyển nhượng tiền thu được; luật điều chỉnh; giải quyết tranh chấp... Điều 2 URDG 758 2010 cũng đã quy định: Bảo lãnh theo yêu cầu hoặc bảo lãnh có nghĩa là bất kì một cam kết đã kí nào, dù được đặt tên hoặc mô tả như thế nào để thanh toán khi xuất trình một yêu cầu phù hợp.
 
So với URDG 458 1992, URDG 758 2010 có rất nhiều đổi mới, cụ thể: 
 
Thứ nhất, URDG 758 2010 được sửa đổi nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích của ba bên, gồm bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng. Việc thêm điều khoản bảo lãnh đối ứng (Counter - Gurantees) vào URDG 758 2010 nhằm thỏa mãn lợi ích giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh (Điều 2). Điều 15 và 24 về chứng từ yêu cầu thanh toán quy định những cơ sở pháp lí thanh toán, nếu xuất trình chứng từ phù hợp. Các điều khoản này nhằm cân bằng lợi ích của cả ba bên.
 
Thứ hai, quy định về chuyển nhượng bảo lãnh của URDG 758 2010 cũng hoàn toàn khác với quy định trong URCB (số 524) và URDG 458 1992. Trái phiếu phát hành tuân thủ URCB 524 chỉ có thể được chuyển nhượng theo Luật thương phiếu của nước tạo lập trái phiếu, URCB không điều chỉnh loại trái phiếu này. Nếu URDG 458 1992 chỉ quy định chuyển nhượng tiền thu được của cam kết bảo lãnh thì URDG 758 2010 còn quy định thêm quyền chuyển nhượng cam kết bảo lãnh (Điều 33).
 
Thứ ba, đặc trưng nổi bật của URDG 758 2010 là tính chứng từ của cam kết bảo lãnh, thể hiện tại Điều 6: “Các bên bảo lãnh giao dịch bằng chứng từ, không giao dịch bằng hàng hóa, các dịch vụ hoặc các thực hiện mà chứng từ có liên quan”.
 
Thứ tư, tính chất cơ bản của cam kết bảo lãnh theo yêu cầu thể hiện ở tính độc lập của cam kết bảo lãnh. Cam kết bảo lãnh tuân thủ URDG 758 2010 độc lập với: Giao dịch cơ sở; đơn yêu cầu phát hành cam kết bảo lãnh; các giao dịch khác có liên quan đến việc hình thành và vận hành cam kết bảo lãnh. Tính độc lập của cam kết bảo lãnh còn được thể hiện ở quy định tại Điều 18 về sự riêng biệt của mỗi chứng từ yêu cầu thanh toán.
 
Thứ năm, cấu trúc nội dung URDG 758 2010 dễ hiểu, dễ nhận biết và khoa học. Ví dụ: Điều 2 URDG 758 2010 bao gồm các định nghĩa rõ ràng như: “Thời hạn hiệu lực”, “Ngày hết hạn hiệu lực”, “Sự kiện hết hạn hiệu lực”...; URDG 758 2010 khẳng định rằng Cam kết bảo lãnh là không thể hủy bỏ (Điều 4 (b)); Đơn giản hóa quy định của Luật điều chỉnh bảo lãnh (Điều 34): “Trừ trường hợp bảo lãnh có quy định khác, Luật điều chỉnh bảo lãnh sẽ là địa điểm của chi nhánh hoặc văn phòng của người phát hành bảo lãnh”... 
 
Có thể nói, URDG 758 2010 là một quy tắc rõ ràng, chính xác và toàn diện hơn các quy tắc trước đây về bảo lãnh. Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng vào thực tiễn, ICC URDG 758 2010 đã bộc lộ một số bất cập cần tiếp tục hoàn thiện.
 
3. Phân tích một số bất cập của URDG 758 2010 cần lưu ý
 
3.1. Điều 1: Nguyên tắc áp dụng URDG 758 2010
 
Điều 1(a) URDG 758 2010 quy định: Các quy tắc thống nhất đối với bảo lãnh theo yêu cầu “URDG” áp dụng cho bất kì cam kết bảo lãnh theo yêu cầu hoặc cam kết bảo lãnh đối ứng nào chỉ ra một cách rõ ràng là có dẫn chiếu đến các quy tắc này. Các quy tắc này ràng buộc tất cả các bên trong cam kết bảo lãnh theo yêu cầu hoặc cam kết bảo lãnh đối ứng trừ khi cam kết bảo lãnh theo yêu cầu hoặc cam kết bảo lãnh đối ứng loại trừ hoặc sửa đổi các quy tắc này trong một chừng mực nhất định. URDG 758 2010 quy định 2 nguyên tắc áp dụng sau đây:
 
Một là, các bên muốn áp dụng URDG 758 2010 vào hợp đồng phải dẫn chiếu áp dụng các quy tắc của URDG 758 2010, nếu không dẫn chiếu, thì sẽ không áp dụng các quy tắc của URDG 758 2010.
 
Hai là, một khi URDG 758 2010 được dẫn chiếu áp dụng vào hợp đồng thì các quy tắc của URDG 758 2010 ràng buộc các bên trong cam kết bảo lãnh, trừ khi cam kết bảo lãnh loại trừ hoặc thay đổi các quy tắc đó trong một chừng mực nhất định.
 
Theo đó, nguyên tắc thứ hai có quy định chưa rõ ràng, cụ thể: Về “loại trừ”, liệu có thể “loại trừ” tất cả các quy tắc của URDG 758 hay là chỉ một số quy tắc và là những quy tắc loại nào?; về “sửa đổi” các quy tắc mà chúng làm thay đổi cơ bản tính chất “độc lập” hoặc tính chất “chứng từ” của cam kết bảo lãnh có làm trái quy định của Điều 1(a) URDG 758 không?
 
3.2. Điều 1(d): Dẫn chiếu áp dụng phiên bản URDG nào?
 
Điều 1(d) quy định: Khi cam kết bảo lãnh theo yêu cầu hoặc cam kết bảo lãnh đối ứng được phát hành vào hoặc sau ngày 01/7/2010 có dẫn chiếu đến URDG nhưng không ghi năm sửa đổi 1992 hay 2010 hoặc không ghi số phiên bản ban hành, thì cam kết bảo lãnh theo yêu cầu hoặc cam kết bảo lãnh đối ứng sẽ tuân thủ URDG sửa đổi năm 2010. Quy định như vậy không linh hoạt và chỉ đúng nếu như đến ngày dẫn chiếu URDG vào hợp đồng cơ sở chưa có phiên bản URDG sửa đổi mới nào, ngược lại, trong trường hợp đã có một phiên bản sửa đổi mới mang kí hiệu (xxxx), mà vẫn dẫn chiếu áp dụng như quy định của Điều 1(d) thì không hợp lí, trừ khi trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận áp dụng phiên bản cũ URDG 758 2010.
 
Trong trường hợp Cam kết bảo lãnh phát hành sau ngày 01/7/2010, tức là năm URDG 758 2010 có hiệu lực, nhưng không tuyên bố số phiên bản và năm ban hành của URDG, thì giải quyết thế nào? Có thể áp dụng Điều 1(d) của URDG 758 2010, nếu hợp đồng cơ sở và cam kết bảo lãnh không có quy định gì khác; hoặc nếu hợp đồng cơ sở quy định áp dụng phiên bản URDG 758 2010 thì dẫn chiếu áp dụng vào cam kết bảo lãnh. Tuy nhiên, trong trường hợp hợp đồng cơ sở và cam kết bảo lãnh không có quy định dẫn chiếu áp dụng phiên bản URDG nào, thì khi phát sinh những trường hợp trong tương lai có nhiều phiên bản URDG cùng tồn tại và đang có hiệu lực, thì dẫn chiếu áp dụng phiên bản nào?
 
Bảo lãnh là phương thức tài trợ tài chính chắc chắn và thông dụng nhất trên thị trường quốc gia cũng như trên quốc tế, cho nên theo thông lệ và theo yêu cầu của thị trường, nó thường được sửa đổi để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội. URDG 458 1992 được sửa đổi lần thứ nhất vào 18 năm sau - năm 2010 với phiên bản số 758. Có thể phiên bản số 758 URDG 2010 sẽ không phải là phiên bản cuối cùng, cho nên quy định như Điều 1(d) là không phù hợp.
 
Vì vậy, Điều 1(d) nên được sửa đổi và bổ sung như sau: “Nếu cam kết bảo lãnh phát hành vào hoặc sau ngày 01/6/2010 tuyên bố rằng nó tham chiếu URDG nhưng không tuyên bố phiên bản số 458 1992 hoặc số 758 2010 thì có thể dẫn chiếu phiên bản URDG sửa đổi gần đây nhất”.
 
3.3. Điều 2 URDG 758 2010: Các định nghĩa 
 
Điều 2 của phiên bản URDG 758 2010 quy định: Sự xuất trình phù hợp thuộc cam kết bảo lãnh, trước tiên là phù hợp với các điều kiện và điều khoản của cam kết bảo lãnh đó; thứ hai là phù hợp trong chừng mực nhất định với các điều kiện và điều khoản của quy tắc này; thứ ba là trong trường hợp không có các điều khoản tương thích trong cam kết bảo lãnh hoặc của các quy tắc này thì phải phù hợp với thực tiễn bảo lãnh theo yêu cầu tiêu chuẩn quốc tế. Chứng từ yêu cầu thanh toán là một loại chứng từ rất quan trọng. Người thụ hưởng bảo lãnh lập ra để đòi tiền người bảo lãnh khi người được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ quy định trong bảo lãnh; người bảo lãnh kiểm tra chứng từ yêu cầu thanh toán xem có phù hợp với các điều kiện và điều khoản của bảo lãnh và phù hợp với các quy tắc có liên quan của URDG 758 2010, nếu phù hợp thì phải thanh toán, ngược lại có quyền từ chối thanh toán.
 
URDG 758 2010 đưa ra khái niệm rất chung chung về chứng từ yêu cầu thanh toán, đó là chứng từ đã kí bởi Bên thụ hưởng yêu cầu thanh toán thuộc một cam kết bảo lãnh. Vậy, theo khái niệm này thì mọi chứng từ đã kí bởi người thụ hưởng đều có thể trở thành chứng từ yêu cầu thanh toán? Trong khi theo Điều 2, chứng từ chỉ có thể là chứng từ yêu cầu thanh toán và bản xác minh, khi cả hai chứng từ này đều được kí bởi người xác lập nó, tức là người thụ hưởng. Vậy, các phương tiện đòi tiền do người thụ hưởng kí cũng có thể là Hối phiếu đòi nợ, Lệnh đòi tiền, Yêu cầu thanh toán… Chúng có thể trở thành chứng từ yêu cầu thanh toán như quy định của Điều 2 URDG 758 2010 hay không?
 
3.4. Điều 2 và 10: Bên thông báo và Bên thông báo thứ hai
 
Điều 2 URDG 758 2010 quy định: Bên thông báo là bên tiến hành thông báo cam kết bảo lãnh theo yêu cầu của Bên bảo lãnh. Bên bảo lãnh là bên yêu cầu thông báo bảo lãnh. Điều 10(a) URDG 758 2010 quy định: Một cam kết bảo lãnh có thể được thông báo cho Bên thụ hưởng thông qua một Bên thông báo. Thực hiện thông báo một cam kết bảo lãnh hoặc là trực tiếp hoặc là sử dụng dịch vụ của một bên khác (Bên thông báo thứ hai). Vậy ai là người yêu cầu Bên thông báo thứ hai thông báo một cam kết bảo lãnh: Bên bảo lãnh hay Bên thông báo?
 
Điều 10(f) chỉ định: Một Bên bảo lãnh sử dụng các dịch vụ của một Bên thông báo hoặc của một Bên thông báo thứ hai, cũng như một Bên thông báo sử dụng các dịch vụ của Bên thông báo thứ hai để thông báo một cam kết bảo lãnh, thì cũng có thể sử dụng bên đó bất cứ lúc nào để thông báo bất cứ sửa đổi nào đối với cam kết bảo lãnh đó. Phải chăng có sự mâu thuẫn trong nội dung của Điều 10 này.
 
Theo quan điểm của nhóm tác giả, chỉ có một người duy nhất có quyền yêu cầu một Bên thông báo bảo lãnh, trong trường hợp bên đó không có khả năng thực hiện, thì cho phép bên đó sử dụng dịch vụ thông báo bảo lãnh của một bên khác, đó là Bên thông báo thứ hai.
 
3.5. Điều 4: Khái niệm phát hành một bảo lãnh
 
Điều 25(c) URDG 758 2010 quy định: Nếu bảo lãnh không quy định ngày hết hạn hiệu lực và cũng không quy định trường hợp hết hiệu lực, thì bảo lãnh sẽ kết thúc sau thời gian 3 năm kể từ ngày phát hành bảo lãnh. Vậy, ngày phát hành bảo lãnh là ngày nào? Có mấy kịch bản trả lời như sau:
 
Thứ nhất, trong trường hợp phát hành bảo lãnh bằng thư thông thường, ngày phát hành bảo lãnh là ngày được ghi trên thư bảo lãnh. Tuy nhiên, để tránh bị phạt do phát hành bảo lãnh chậm so với quy định trong hợp đồng cơ sở, người bảo lãnh có thể ghi ngày phát hành trên thư bảo lãnh phù hợp với hợp đồng cơ sở. Ví dụ, hợp đồng cơ sở quy định người yêu cầu phải chỉ thị cho ngân hàng phát hành bảo lãnh không chậm quá 30 ngày kể từ ngày kí hợp đồng cơ sở, nếu phát hành chậm sẽ bị phạt 0,1% tổng trị giá bảo lãnh trên mỗi ngày phát hành chậm. Do hoàn cảnh khó khăn nào đó, phát hành bảo lãnh chậm mất 10 ngày, để tránh bị phạt, người yêu cầu đề nghị ngân hàng vẫn ghi ngày phát hành phù hợp với quy định của hợp đồng cơ sở.
 
Thứ hai, trong trường hợp phát hành bảo lãnh bằng thư điện tử, ngày phát hành bảo lãnh có thể được ghi trong nội dung thư điện tử hoặc có thể là ngày mà bảo lãnh thoát ra khỏi sự kiểm soát của người bảo lãnh như quy định tại Điều 4(a) URDG 758 2010: Một cam kết bảo lãnh đã được phát hành khi nó thoát ra khỏi sự kiểm soát của Bên bảo lãnh.  
 
Từ khái niệm phát hành nói trên có thể sẽ phát sinh những tranh luận như: Bằng chứng nào xác minh một bảo lãnh phát hành bằng điện đã được phát hành? Hoặc bằng chứng nào xác thực một bảo lãnh phát hành bằng điện đã rời khỏi sự kiểm soát của người bảo lãnh? Ngày bảo lãnh phát hành bằng điện là ngày mà bức điện bảo lãnh được phát đi từ người bảo lãnh hay là ngày mà người thụ hưởng nhận được bức điện bảo lãnh?
 
3.6. Điều 9: Trách nhiệm về việc không thông báo/thông báo chậm trễ
 
Điều 9 URDG 758 2010 quy định: Khi nhận được đơn yêu cầu phát hành cam kết bảo lãnh, Bên bảo lãnh không sẵn sàng hoặc không có khả năng phát hành cam kết bảo lãnh thì Bên bảo lãnh phải thông báo không chậm trễ thông tin cho bên đã đưa ra chỉ thị cho Bên bảo lãnh. Quy định này làm phát sinh 3 khe hở pháp lí: Một là, trường hợp người bảo lãnh không thông báo việc không thể tiếp nhận đơn yêu cầu phát hành bảo lãnh; Hai là, trường hợp có thông báo, nhưng thông báo chậm; Ba là, nếu thông báo chậm trễ thì so với mốc thời gian nào, quy định ở đâu?
 
3.7. Điều 10: Thỏa mãn tính chân thật bề ngoài là gì?
 
Điều 10(a) URDG 758 2010 quy định: Bên thông báo báo cho Bên thụ hưởng và Bên thông báo thứ hai, nếu có áp dụng, biết rằng tự nó đã thỏa mãn về tính chân thật bề ngoài của cam kết bảo lãnh và thông báo phản ảnh chính xác các điều kiện và điều khoản của cam kết bảo lãnh đã nhận được của Bên thông báo. Quy định Bên thông báo kiểm tra bảo lãnh nếu thấy thỏa mãn được tính chân thật bề ngoài của bảo lãnh thì mới được thông báo cho người thụ hưởng, ngược lại, có quyền từ chối thông báo. Nguyên tắc quy định như thế quả là thỏa đáng và có thể chấp nhận được.
 
Sở dĩ Bên thông báo phải kiểm tra tính chân thật bề ngoài của bảo lãnh là để cho nó tương thích với nguyên tắc kiểm tra chứng từ yêu cầu thanh toán chỉ dựa trên bề mặt của chứng từ, nếu thấy phù hợp với điều kiện và điều khoản của bảo lãnh thì thanh toán, ngược lại thì từ chối.
 
Tuy nhiên, nguyên tắc này cần quy định rõ như thế nào là “tính chân thật bề ngoài”, cũng như quy định nào trong bảo lãnh xác định được “tính chân thật bề ngoài”?
 
3.8. Điều 11: Chấp nhận hoặc từ chối thông báo sửa đổi
 
(i) Điều 11(a) URDG 758 2010 quy định trách nhiệm của người bảo lãnh phải thông báo chấp nhận hay từ chối sửa đổi: Khi nhận được các chỉ thị phát hành một sửa đổi đối với Cam kết bảo lãnh, vì một lí do nào đó mà Bên bảo lãnh không sẵn sàng hoặc không có khả năng phát hành sửa đổi, thì Bên bảo lãnh sẽ thông báo không chậm trễ thông tin như thế cho Bên ra chỉ thị cho Bên bảo lãnh.
 
Trong trường hợp người bảo lãnh, tức là người được yêu cầu sửa đổi bảo lãnh không có khả năng hoặc không sẵn sàng thực hiện sửa đổi bảo lãnh, thì người bảo lãnh phải thông báo không chậm trễ thông tin như thế cho bên ra chỉ thị biết để thông báo lại cho người thụ hưởng. Nếu không thông báo hoặc thông báo chậm thì trách nhiệm của người bảo lãnh trước người thụ hưởng như thế nào? Quy định này chưa được Điều 11 URDG 758 2010 đề cập đến. 
 
(ii) Điều 11(b) URDG 758 2010 dường như quy định trách nhiệm của người thụ hưởng phải chấp nhận hay từ chối sửa đổi: Một sửa đổi không có sự thỏa thuận của Bên thụ hưởng sẽ không ràng buộc Bên thụ hưởng. Về nguyên tắc, người thụ hưởng phải thông báo chấp nhận hay từ chối sửa đổi, nếu không thông báo thì trách nhiệm pháp lí của người thụ hưởng sẽ như thế nào, rất tiếc là quy định này chưa được đề cập trong Điều 11(b). Có thể có hai kịch bản, một là sửa đổi chưa hoàn thành; hai là việc xuất trình chứng từ yêu cầu thanh toán phù hợp với các điều kiện và điều khoản của bảo lãnh và với các yêu cầu sửa đổi chưa được chấp nhận sẽ được coi như là thông báo chấp nhận sửa đổi của người thụ hưởng.
 
3.9. Điều 19: Như thế nào là kiểm tra trên bề mặt của chứng từ?
 
Điều 19 quy định: 
 
(a) Chỉ dựa trên cơ sở của sự xuất trình, Bên bảo lãnh sẽ quyết định thể hiện trên bề mặt của xuất trình có sự xuất trình phù hợp hay không; và (b) Dữ liệu trong một chứng từ do một cam kết bảo lãnh yêu cầu phải được kiểm tra theo văn cảnh với dữ liệu chứng từ đó, với cam kết bảo lãnh và với các quy tắc này. Dữ liệu không nhất thiết phải giống hệt, nhưng không được mâu thuẫn với dữ liệu trong chứng từ đó, với bất cứ chứng từ yêu cầu nào khác hoặc với cam kết bảo lãnh. 
 
Vậy, kiểm tra trên bề mặt của chứng từ xuất trình là vấn đề phát sinh không những trong thực tiễn mà còn cả trong lí thuyết về mặt pháp lí. Những câu hỏi sau đây chưa được Điều 19 trả lời: 
 
(i) Chứng từ thường có hai mặt, kiểm tra mặt trước hay mặt sau hay cả hai mặt? 
 
(ii) Chứng từ thường gồm nhiều trang, kiểm tra trang nào?
 
Kiểm tra trên bề mặt của chứng từ bằng giấy có khác gì trên bề mặt của chứng từ điện tử? hay kiểm tra theo văn cảnh của dữ liệu có khác gì với kiểm tra trực tiếp nội dung dữ liệu? 
 
3.10. Điều 33 (b): Quy định về Chuyển nhượng cam kết bảo lãnh và Chuyển nhượng tiền thu được 
 
Điều 33(b) quy định: Ngay cả khi một bảo lãnh có tuyên bố cụ thể rằng nó có thể chuyển nhượng được, thì người bảo lãnh không bắt buộc phải thực hiện yêu cầu chuyển nhượng bảo lãnh đó sau khi phát hành, ngoại trừ mức độ và cách thức được sự đồng ý rõ ràng của người bảo lãnh. Quy định này có vẻ thừa vì:
 
(i) Chỉ sau khi bảo lãnh đã được phát hành thì quyền được hưởng lợi từ số tiền của hình thức bảo lãnh đó mới tồn tại trong thời gian hiệu lực của bảo lãnh, đương nhiên người thụ hưởng quy định trong bảo lãnh sẽ là người thụ hưởng hợp pháp số tiền bảo lãnh. Người thụ hưởng bảo lãnh có quyền chuyển nhượng quyền lợi của mình cho người thụ hưởng khác, nếu bảo lãnh là loại bảo lãnh có thể chuyển nhượng; (ii) Quyền chuyển nhượng bảo lãnh chỉ có thể được thực hiện và thực hiện sau khi bảo lãnh đã được phát hành.
 
4. Kết luận 
 
Trên thực tế, URDG 758 2010 của ICC là một bộ quy tắc tương đối đầy đủ, được áp dụng bởi các luật sư, trọng tài viên, ngân hàng, doanh nghiệp và các cá nhân tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, URDG 758 2010 cũng được Ngân hàng Thế giới (WB), Ủy ban Thương mại Liên hợp quốc (UNCITRAL) và Hiệp hội các nhà tư vấn xây dựng quốc tế (FIDIC) tuyên bố áp dụng. Tuy nhiên, sau 13 năm ứng dụng vào thực tế, URDG 758 2010 bộc lộ một số bất cập đã được đề cập ở trên để lưu ý các bên, đặc biệt là đối với các ngân hàng và doanh nghiệp khi sử dụng URDG trong các giao dịch bảo lãnh của mình, cũng như mong muốn một bản sửa đổi URDG của ICC trong tương lai sẽ rõ ràng và hoàn thiện hơn.
 
Tài liệu tham khảo:

1. Đinh Xuân Trình, Đặng Thị Nhàn (2021). Bảo lãnh và bảo lãnh dự thầu, sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Bách khoa, Hà Nội.
2. Disputes involving demand guarantees/in Principle, from https:// codozasady.pl3. ICC Demand Guarantee Rules URDG 758 celebrate two years of rising popularity, from https://iccwbo.org
4. ISP98 - International Banking Law & Practice, from https://iiblp.org5. The ICC Uniform Rules for Demand Guarantees (“URDG”) in practice: a Decade of experience, from https://fidic.org6. Understanding UCP600, ISP98 and URDG 758 with global court case studies, from https://www.iccdonesia.org

GS., TS. Đinh Xuân Trình (Giảng viên cao cấp Đại học Ngoại thương Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC))
PGS., TS. Đặng Thị Nhàn (Giảng viên cao cấp Đại học Ngoại thương)
 
 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 1.638 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.796 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 1.615 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 2.758 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.909 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.583 lượt xem
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.676 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 3.209 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 2.212 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 2.574 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 8.165 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.859 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.653 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 2.271 lượt xem
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 2.142 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?