Giải pháp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam
03/03/2022 4.347 lượt xem
Tóm tắt: Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ảnh hưởng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải hành động mạnh mẽ hơn nữa, có trách nhiệm và không chậm trễ trên phạm vi toàn cầu. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (COP26), lần đầu tiên Việt Nam cam kết sẽ xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính để đạt mức phát thải ròng bằng “0” (gọi tắt là Net Zero) vào năm 2050. Net Zero là đạt được sự cân bằng giữa lượng khí nhà kính phát thải vào khí quyển và lượng được hấp thụ tại một giai đoạn bất kỳ. Để thực hiện mục tiêu này, cần sớm loại bỏ các dự án có mức phát thải lớn, gây ô nhiễm môi trường, đồng thời cần có các giải pháp về nguồn vốn đầu tư cho tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo, giảm thiểu phát thải tại Việt Nam.

Từ khóa: COP26, Net Zero, phát thải ròng, BĐKH
 

1. Xu thế tất yếu phải giảm phát thải

Vào năm 1990, các nhà khoa học của Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) cảnh báo rằng, nhiệt độ bề mặt Trái đất trung bình sẽ tăng lên từ 0,3 - 0,6ºC trong vòng 100 năm tới. Tuy nhiên, Báo cáo thứ VI của IPCC (AR6) công bố năm 2021 cho thấy, khí thải nhà kính từ các hoạt động của con người khiến Trái đất nóng lên 1,1ºC kể từ giai đoạn 1850 - 1900. Mỗi thập kỷ trong 40 năm vừa qua đều lần lượt nóng hơn các thập kỷ trước kể từ năm 1950. So với năm 1901, mực nước biển trung bình đã tăng 20 cm vào năm 2018. Mức tăng trung bình mực nước biển khoảng 3,7 mm mỗi năm (từ 2006 - 2018). Theo nhận định của các nhà khoa học, những thay đổi khí hậu ngày càng mạnh mẽ và khó lường trong hàng nghìn năm tới.

Báo cáo đặc biệt của IPCC chỉ ra rằng, nếu thế giới đạt Net Zero vào năm 2040 thì cơ hội hạn chế sự nóng lên ở mức 1,5ºC sẽ cao hơn đáng kể. Đỉnh phát thải càng sớm và càng thấp thì việc đạt Net Zero càng nhanh, giúp trái đất ít phụ thuộc vào việc loại bỏ carbon trong nửa sau thế kỷ.

Do vậy, Hội nghị COP26, tại Glasgow - Scotland, Vương quốc Anh (tháng 11/2021) được xem là cơ hội cuối cùng để cả thế giới thực hiện cam kết giới hạn sự nóng lên trên toàn cầu theo Hiệp định Paris. Có 4 vấn đề chính được đặc biệt quan tâm tại COP26, gồm: 1) giải pháp đạt được mục tiêu trung hòa khí thải carbon vào giữa thế kỷ 21; 2) đảm bảo duy trì mức tăng nhiệt độ toàn cầu ở dưới 1,5ºC trong giai đoạn công nghiệp hóa; 3) bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên; đảm bảo quỹ tài chính về BĐKH; 4) kế hoạch chi tiết thực hiện Hiệp định Paris 2015.

Hội nghị COP26 kết thúc, mang lại hy vọng lớn cho nhân loại để giữ cho nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng không quá 1,5ºC và đạt Net Zero vào giữa thế kỷ này với những cam kết đầy hứa hẹn của các nhà lãnh đạo toàn cầu. Tính tới nay, đã có 137 quốc gia đưa ra cam kết về Net Zero; 77 quốc gia, địa phương và tập đoàn tham gia ký Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi từ điện than sang điện sạch, 45 quốc gia cam kết chuyển đổi sang đầu tư nông nghiệp xanh, bền vững, nhiều hãng xe ô tô tuyên bố ngừng sản xuất xe chạy bằng xăng dầu muộn nhất vào năm 2040; Mỹ và Trung Quốc ra Tuyên bố chung về hợp tác chống BĐKH…

Hiệp ước này kêu gọi đẩy nhanh nỗ lực giảm dần điện than không sử dụng công nghệ thu giữ carbon và trợ cấp nhiên liệu hóa thạch không hiệu quả, đồng thời thừa nhận sự cần thiết phải hỗ trợ để hướng tới một quá trình chuyển đổi công bằng. Đây được đánh giá là bước ngoặt lớn bởi lần đầu tiên nhiên liệu hóa thạch được đề cập tại một thỏa thuận trong một kỳ hội nghị thượng đỉnh khí hậu của Liên hợp quốc.

Chuyển dịch sang năng lượng sạch đã trở thành con đường bắt buộc với tất cả các quốc gia. Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng quốc tế về Lộ trình hướng tới Net Zero của ngành năng lượng, đến năm 2030, quy mô điện gió và mặt trời sẽ cần tăng gấp 4 lần, số xe điện bán ra sẽ tăng 18 lần, hiệu suất sử dụng năng lượng cần nâng cao nhiều lần so với năm 2020. Năng lượng tái tạo và giải pháp tích trữ vẫn tiếp tục có những đột phá mới về công nghệ. Sự hội tụ của các đột phá này sẽ giúp giá thành của năng lượng sạch trở nên cạnh tranh và thậm chí có thể trở thành nguồn năng lượng có giá rẻ nhất vào cuối thập kỷ này. Nguồn tài chính toàn cầu cũng đang dịch chuyển mạnh sang cho năng lượng sạch. Các quốc gia và các tập đoàn đa quốc gia bước vào cuộc đua giành nhanh nhất, nhiều nhất có thể nguồn tài chính khí hậu quốc tế để đầu tư vào năng lượng sạch, giao thông điện, công nghiệp sạch.

Hội nghị COP26 cũng đánh dấu lần đầu tiên vấn đề tổn thất và thiệt hại xuất hiện trong hiệp ước của một kỳ COP. Hiệp ước này thừa nhận BĐKH đã và sẽ tiếp tục gây tổn thất và thiệt hại. Khẳng định tính cấp thiết của việc mở rộng quy mô hành động và hỗ trợ, nếu phù hợp; bao gồm tài trợ, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực, để thực hiện các phương pháp tiếp cận nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu, giải quyết tổn thất và thiệt hại liên quan đến các tác động bất lợi của BĐKH.

2. Vai trò của Net Zero trong ứng phó BĐKH toàn cầu

2.1. Khái niệm Net Zero

Net Zero đạt được khi tổng lượng khí nhà kính do con người thải ra được cân bằng lại bằng cách loại bỏ các loại khí này ra khỏi khí quyển thông qua quá trình loại bỏ carbon. Đầu tiên và quan trọng nhất là lượng khí thải do con người thải ra (chẳng hạn như khí thải từ các phương tiện và nhà máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch) phải được giảm càng gần 0 càng tốt. Sau đó, các khí nhà kính còn lại cần được cân bằng với một lượng carbon tương đương bị loại bỏ, có thể thông qua các hoạt động như phục hồi rừng hoặc sử dụng công nghệ thu giữ không khí trực tiếp (DACS). Đạt Net Zero cũng giống như đạt “sự trung hòa về khí hậu”.

2.2. Lộ trình thực hiện Net Zero

Thông tin khoa học mới nhất cho thấy để đạt được mục tiêu Thỏa thuận Paris đòi hỏi Net Zero cần đạt được theo mốc thời gian sau:

Trường hợp giới hạn sự nóng lên toàn cầu ở 1,5ºC, lượng Net Zero đối với khí CO2 cần đạt được trong khoảng thời gian từ năm 2044 - 2052 và tổng lượng phát thải khí nhà kính buộc phải duy trì ở mức 0 từ năm 2063 - 2068. Nếu đạt Net Zero sớm hơn các mốc này thì chắc chắn tránh được rủi ro nhiệt độ tăng quá 1,5ºC.

Trường hợp giới hạn sự nóng lên toàn cầu ở mức 2ºC, cần đạt Net Zero đối với lượng phát thải CO2 vào năm 2070 (với 66% khả năng giới hạn sự ấm lên ở 2ºC) đến năm 2085 (với 50-66% khả năng). Tổng lượng phát thải khí nhà kính cần đạt Net Zezo vào cuối thế kỷ hoặc sớm hơn.

Điều này không có nghĩa là tất cả các quốc gia cần đạt Net Zero cùng lúc nhưng cơ hội hạn chế sự nóng lên ở mức 1,5ºC phụ thuộc vào việc nguồn phát thải cao nhất đạt Net Zero sớm bao lâu. Các quốc gia giàu có hơn, phát thải cao hơn được đề xuất thực hiện Net Zero sớm hơn.

Điều quan trọng nữa là khung thời gian để đạt Net Zero khác nhau đối với khí CO2 và khí CO2 kết hợp với các loại khí nhà kính khác như metan, oxit nitơ và flo. Đối với khí thải không phải CO2, thời hạn Net Zero sẽ muộn hơn vì một số loại khí thải này khó loại bỏ hơn dù chúng làm nhiệt độ tăng cao nhanh và có khả năng đẩy nhiệt độ vượt qua ngưỡng 1,5ºC trong thời gian ngắn. Các quốc gia cần xác định rõ liệu mục tiêu Net Zero chỉ bao gồm CO2 hay tất cả các loại khí nhà kính.

2.3. Điều kiện để đạt Net Zero

Điều kiện tiên quyết là chính sách, công nghệ và hành vi cần phải thay đổi đồng bộ. Chẳng hạn với kịch bản tăng không quá 1,5ºC, năng lượng tái tạo dự kiến cần cung cấp 70-85% điện năng vào năm 2050. Vấn đề sử dụng năng lượng hiệu quả và các giải pháp chuyển đổi nhiên liệu cũng rất quan trọng đối với ngành giao thông vận tải.

Ngoài ra, cải thiện hiệu quả sản xuất lương thực, cung cấp thực phẩm, ngăn phá rừng, phục hồi đất bạc màu và giảm thất thoát lương thực, chất thải cũng giảm đáng kể lượng phát thải.

Điều quan trọng là việc chuyển đổi cơ cấu và kinh tế để hạn chế sự nóng lên 1,5ºC phải được tiếp cận công bằng, nhất là với những người lao động gắn liền với các ngành công nghiệp carbon cao. Hiện nay, hầu hết các giải pháp công nghệ cần thiết đều sẵn có và ngày càng cạnh tranh về chi phí với các giải pháp thay thế carbon cao.

3. Các quốc gia thực hiện cam kết Net Zero

Nghiên cứu mới của Viện Tài nguyên Thế giới (WRI, 2021) chỉ ra rằng, để tránh những tác động xấu nhất tới khí hậu, lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu cần giảm một nửa vào năm 2030 và đạt Net Zero vào giữa thế kỷ này. Nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu cũng bày tỏ ủng hộ “Net Zero” và cam kết thực hiện tại COP26.

Bhutan là nước đầu tiên đặt mục tiêu Net Zero vào năm 2015 và hiện có hơn 50 quốc gia, chiếm hơn một nửa lượng khí thải toàn cầu cùng cam kết Net Zero bao gồm các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Tại COP26, Việt Nam đưa ra cam kết đặt mục tiêu Net Zero vào năm 2050. Cam kết này thể hiện sự chủ động, tích cực và trách nhiệm của Việt Nam trong cuộc chiến chống lại BĐKH toàn cầu, được thế giới đánh giá rất cao.

Đến nay, có 137 quốc gia, đại diện cho 88% tổng lượng phát thải thế giới, gồm các nước phát thải lớn như Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ đã cam kết hoặc hướng tới mục tiêu Net Zero. Mỗi quốc gia tự đặt ra mốc thời gian để đạt mục tiêu này, phần lớn là vào năm 2050, một số ít ngoại lệ vào năm 2035 và muộn nhất vào năm 2070.

Tại Anh, Chính phủ đã tuyên bố đạt Net Zero vào năm 2035 với mục tiêu giảm 78% lượng khí thải vào năm 2035 so với mức năm 1990. Theo đó, tất cả năng lượng sẽ đến từ các nguồn tái tạo. Một số biện pháp đã được công bố từ trước gồm: Cấm bán xe hơi chạy bằng xăng hay dầu trước năm 2030; tăng công suất điện gió ngoài khơi lên gấp bốn lần trước 2030; tăng sử dụng năng lượng hạt nhân; đầu tư vào năng lượng hydrogen có carbon thấp. Nước Anh đưa ra lộ trình, đến năm 2028, 600.000 máy bơm khí nóng sẽ được lắp đặt mỗi năm (máy bơm không khí nóng sẽ mang hơi nóng xung quanh tòa nhà đến hệ thống sưởi trung tâm); trồng cây xanh trên 30.000 ha mỗi năm cho tới 2025.

Tại Mỹ, sau khi nhậm chức vào tháng 01/2021, Tổng thống Joe Biden đã ký sắc lệnh hành pháp để đưa Mỹ quay lại Thỏa thuận Paris và đặt ra lộ trình ứng phó với vấn đề khí hậu ở trong và ngoài nước, đạt Net Zero trước năm 2050. Theo đó, Mỹ đưa ra cam kết vào năm 2030, Mỹ sẽ cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ 50 đến 52% so với mức của năm 2005, tăng gấp đôi so với mức cam kết dưới thời chính quyền của cựu Tổng thống Barack Obama.

Tháng 7/2021, EU công bố một trong những kế hoạch tham vọng nhất thế giới nhằm giảm phát thải carbon và hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, biến các mục tiêu xanh trở thành hành động cụ thể ngay trong thập kỷ này. Theo đó, Ủy ban châu Âu đã nêu ra chi tiết lộ trình giúp 27 quốc gia của khối chinh phục mục tiêu chung là giảm lượng phát thải ròng khí nhà kính xuống 55% so với mức của năm 1990 vào năm 2030. Đây là một bước tiến hướng tới Net Zero vào năm 2050. Kế hoạch này đề xuất đánh thuế carbon đối với hàng hóa nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào phát thải; cấm ô tô chạy bằng động cơ đốt trong vào năm 2035; trồng 3 tỷ cây xanh vào năm 2030 như một phần của nỗ lực loại bỏ 310 triệu tấn carbon khỏi không khí.

Tại Đông Nam Á, tính đến tháng 3/2021, Singapore, Việt Nam, Thái Lan, Brunei và Campuchia đã xây dựng mục tiêu “Đóng góp do quốc gia tự quyết định” (NDC). Có thể thấy, các quốc gia thành viên ASEAN ngày càng gia tăng nhận thức về tình trạng BĐKH toàn cầu. Điều này phản ánh trong các nỗ lực của các quốc gia trong việc đẩy nhanh mức giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu và thích ứng khí hậu theo Thỏa thuận Paris. ASEAN ngày càng chủ động hơn trong việc xây dựng các sáng kiến phòng chống BĐKH trong nội khối như chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, nông nghiệp và an ninh lương thực, bảo vệ rừng và sử dụng đất, quản lý rủi ro thiên tai.

4. Cơ hội và thách thức trong thực hiện Net Zero của Việt Nam

4.1. Cam kết của Việt Nam

Tham gia Thỏa thuận Paris về BĐKH (có hiệu lực từ năm 2016), Việt Nam cam kết giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong NDC. Trong NDC cập nhật năm 2020 đưa ra mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính 9% vô điều kiện (bằng nguồn lực trong nước) và 27% có điều kiện (với hỗ trợ quốc tế) vào năm 2030 so với kịch bản phát triển thông thường (BAU).

Tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ khẳng định, mặc dù là nước đang phát triển, mới chỉ bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa trong hơn 3 thập kỷ qua nhưng là nước có lợi thế về năng lượng tái tạo, Việt Nam sẽ xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính mạnh mẽ bằng nguồn lực của mình, cùng với sự hợp tác, hỗ trợ về tài chính và chuyển giao công nghệ của cộng đồng quốc tế, nhất là các nước phát triển, trong đó có thực hiện các cơ chế theo Thỏa thuận Paris, để đạt Net Zero vào năm 2050.

Đồng thời, Việt Nam cam kết giảm phát thải khí metan 30% vào năm 2030, cam kết chống suy thoái rừng và chuyển đổi năng lượng sạch; Việt Nam kêu gọi tất cả các nước giàu, các nước phát triển phải chia sẻ, hỗ trợ và giúp đỡ các nước đang phát triển, các nước nghèo trong việc hoàn thiện thể chế; đào tạo nguồn nhân lực gắn với đổi mới sáng tạo; bố trí tài chính xanh phù hợp và hiệu quả; chia sẻ công nghệ xanh; quản trị quốc gia để thực hiện cắt giảm metan.

Các cam kết mạnh mẽ và những ý kiến đóng góp có trách nhiệm của Việt Nam tại Hội nghị COP26 được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, mở ra nhiều cơ hội hợp tác về tăng trưởng ít phát thải, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, thích ứng với BĐKH. Các đối tác phát triển trong và ngoài nước đã thể hiện mong muốn hợp tác với Việt Nam để triển khai thực hiện các cam kết, khai thông cơ hội tận dụng sự dịch chuyển của nguồn tài chính toàn cầu cho phát triển ít phát thải vào Việt Nam. 

4.2. Cơ hội thực hiện Net Zero của Việt Nam

Hội nghị COP26 đánh dấu sự chuyển đổi mang tính đột phá trong mô hình phát triển trên thế giới, từ dựa trên năng lượng hóa thạch, sang phát triển ít phát thải, hướng tới Net Zero. Các cam kết mạnh mẽ và những ý kiến đóng góp có trách nhiệm của Việt Nam tại Hội nghị COP26 được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, mở ra nhiều cơ hội hợp tác về tăng trưởng ít phát thải, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, thích ứng với BĐKH. Các đối tác phát triển trong và ngoài nước đã thể hiện mong muốn hợp tác với Việt Nam để triển khai thực hiện các cam kết, khai thông cơ hội tận dụng sự dịch chuyển của nguồn tài chính toàn cầu cho phát triển ít phát thải vào Việt Nam.

Với những cam kết mạnh mẽ và sự đóng góp có trách nhiệm tại Hội nghị COP26, Việt Nam sẽ đón nhận cơ hội phát triển kinh tế bền vững thông qua tăng trưởng ít phát thải, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là xu thế phát triển toàn cầu, đánh dấu sự chuyển đổi mang tính đột phá trong mô hình phát triển thế giới.

Có thể khẳng định, Việt Nam đi đúng dòng chính của xu thế phát triển toàn cầu cùng với các nước phát triển có tiềm năng về kinh tế, công nghệ cao. Việc cam kết đưa phát thải ròng về "0" đã gửi đi tín hiệu mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế, khai thông nguồn tài chính toàn cầu cho phát triển ít phát thải, đây là cơ hội cho Việt Nam phát triển.

Đặc biệt, Việt Nam là một nước có lợi thế về năng lượng tái tạo. Vì thế, Việt Nam có thể thu hút được nguồn tài chính xanh từ gói tài chính được cam kết từ các quốc gia với 100 tỷ USD mỗi năm cho phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và năng lượng tái tạo, đón đầu sự dịch chuyển các dòng đầu tư và tín dụng của các tổ chức tín dụng - tài chính trên thế giới... đồng thời, tận dụng các cơ hội hợp tác về chuyển giao công nghệ phát thải carbon thấp, giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu hóa thạch, khơi thông tiềm năng về năng lượng tái tạo trong đó phát triển năng lượng gió ngoài khơi...

Ví dụ như, đầu tháng 12/2021, Tập đoàn LEGO (Đan Mạch) ký Biên bản ghi nhớ (MOU) về việc xây dựng một nhà máy mới 1 tỷ USD ở tỉnh Bình Dương - đây sẽ là nhà máy trung hòa carbon đầu tiên của Tập đoàn. Không chỉ đơn thuần là vốn đầu tư lớn từ châu Âu, dự án của LEGO còn có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra bước ngoặt quan trọng về xu hướng đầu tư thế hệ mới, thời của kinh tế xanh, tăng trưởng xanh.

Ngoài ra, bên cạnh các ngân hàng phát triển đa phương, các ngân hàng quốc tế như Standard Chartered cũng có những cam kết mạnh mẽ với 8 tỷ USD dành cho phát triển bền vững trong khi các tập đoàn lớn sẵn sàng và mong muốn tham gia vào các dự án năng lượng gió, công nghệ xanh hiện đại như năng lượng hydro tại Việt Nam.

4.3. Thách thức trong thực hiện Net Zero của Việt Nam

Lộ trình cắt giảm phát thải khí nhà kính được đưa ra tại Hội nghị COP26, đòi hỏi tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam phải chuyển đổi mạnh mẽ sang phát triển phát thải thấp. Để thực hiện việc giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, hướng đến chấm dứt sử dụng than sẽ là vấn đề mà Việt Nam cần nỗ lực lớn.

Theo đó, vấn đề năng lượng được quan tâm hàng đầu tại Việt Nam, bởi hiện nay năng lượng là lĩnh vực phát thải lớn nhất. Theo tính toán của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), trong lĩnh vực năng lượng, 60% lượng phát thải năm 2020 từ công nghiệp năng lượng - chủ yếu từ sản xuất điện năng. Do đó, việc giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất điện là vô cùng quan trọng để Việt Nam có thể đạt các cam kết trong NDC và mục tiêu Net Zero mới. Theo Kịch bản phát thải trong điều kiện phát triển thông thường (BAU) của Việt Nam, đến năm 2050, 81% lượng phát thải đến từ năng lượng. Vậy năng lượng sẽ là ngành quyết định mục tiêu Net Zero của Việt Nam.

Hội đồng Năng lượng Gió Toàn cầu (GWEC) cho rằng, để đạt mục tiêu Net Zero, cần dừng triển khai các dự án than mới, cũng như đưa ra lộ trình tiến tới loại bỏ các dự án than hiện tại. Với xu hướng toàn cầu chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch, kỷ nguyên than đang khép lại và các dự án than mới sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động tài chính.

Hiện nay, công suất điện than của nước ta đạt khoảng 21,3GW, đóng góp 50% tổng sản lượng điện. Con số này còn được tăng lên 40,9GW vào năm 2030 và lên tới 50,9GW vào năm 2035 trong Dự thảo Quy hoạch điện VIII mới đây được Bộ Công Thương xây dựng. Đặc biệt, với 15,8GW công suất nguồn điện ước tính chưa thu xếp được tài chính ở Dự thảo Quy hoạch điện VIII sẽ là thách thức không nhỏ khi Việt Nam đã đưa ra mục tiêu Net Zero vào năm 2050 tại Hội nghị COP26 do đã có hơn 100 tổ chức tài chính đã thông báo rút khỏi các dự án khai thác than và nhà máy điện than để thực hiện mục tiêu giảm phát thải carbon.

5. Giải pháp thực hiện Net Zero của Việt Nam

5.1. Tăng thu hút đầu tư cho phát triển năng lượng tái tạo

Để đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050 cần sự quyết tâm rất lớn của cả hệ thống chính trị. Tính toán trên tất cả các phương án như đẩy mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc; đốt rác trực tiếp để không thải ra CO2. Ngoài ra, yếu tố quan trọng hơn cả là phát triển năng lượng tái tạo, nguồn này phải chiếm từ 80-90% tổng công suất hệ thống thì Việt Nam mới có thể đạt được cam kết tại Hội nghị COP26.

Theo GWEC, nhu cầu về điện của Việt Nam có thể được đáp ứng bởi các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời, cũng như thủy điện, pin tích trữ và các công nghệ khác. Đây cũng là hướng đi Việt Nam có thể hướng tới.

Cụ thể, đến năm 2030 có thể thay thế 5,8GW nguồn năng lượng tái tạo và đến năm 2045 tăng lên 5,6GW điện gió, 4,9GW điện mặt trời cùng 8,5GW điện khí (linh hoạt) để hỗ trợ cân bằng hệ thống, hạn chế cắt giảm công suất các nguồn tái tạo và đảm bảo nguồn cung ứng điện được ổn định.

Ngoài ra, điện gió ngoài khơi hoàn toàn có thể được sử dụng cho việc phát triển nguồn tài nguyên điện tiết kiệm và đáng tin cậy trong những năm tới. Hiện nay, nguồn điện này chưa được triển khai tại Việt Nam. Chi phí điện gió đã giảm mạnh trong những năm gần đây và sẽ tiếp tục trở nên cạnh tranh hơn khi cơ chế đấu thầu được triển khai. Sau giai đoạn khởi tạo ngành (4-5GW đầu tiên), điện gió ngoài khơi hoàn toàn có thể cạnh tranh về chi phí với điện than và khí.

Cần nhanh chóng mở rộng quy mô của điện sạch; ngừng cấp giấy phép mới, xây dựng mới, và hỗ trợ mới hay trực tiếp từ Chính phủ cho các dự án điện than; tăng cường nỗ lực trong nước và quốc tế để đảm bảo thực hiện quá trình chuyển dịch công bằng.

Trước tiên phải điều chỉnh Dự thảo Quy hoạch điện VIII theo hướng cam kết này. Đồng thời, chú trọng tới cơ chế tạo điều kiện thu hút nguồn vốn từ Quỹ Khí hậu xanh để hỗ trợ nguồn vốn cho thực hiện Net Zero ở Việt Nam. Bên cạnh đó, chiến lược hành động quốc gia về ứng phó với BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xây dựng cũng sẽ nâng cấp mục tiêu theo Net Zero, đẩy sớm hơn thị trường carbon và các cơ chế chính sách về tài chính xanh, kinh tế tuần hoàn…

Ngoài ra, một yếu tố rất thuận lợi cho Việt Nam, đó là việc phát triển năng lượng tái tạo đang nhận được sự hậu thuẫn rất mạnh mẽ từ ngành tài chính toàn cầu, thông qua trái phiếu xanh, tài chính xanh, cũng như các cơ chế khác. Các tổ chức tài chính toàn cầu sẵn sàng đầu tư nhiều tỷ USD vào phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

5.2. Phát huy vai trò của Ngân hàng Nhà nước cho các dự án giảm phát thải

Bên cạnh thách thức về vốn cho các dự án năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường, tín dụng xanh muốn có sự bứt phá hơn trong thời gian tới thì nhận thức về môi trường phải thật sự được nâng cao. Đối với riêng ngành Ngân hàng, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng gắn với nhiệm vụ phát triển tín dụng xanh - ngân hàng xanh; ban hành Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam đến 2030 với mục tiêu: Thúc đẩy phát triển “tín dụng xanh”, “ngân hàng xanh”, hướng dòng vốn tín dụng cho các dự án thân thiện với môi trường, thúc đẩy các ngành sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng xanh…

Đóng góp lớn nhất của các ngân hàng chính là vai trò cung cấp nguồn vốn cho hành trình chuyển đổi sang nền kinh tế không phát thải, giúp các doanh nghiệp dịch chuyển dần khỏi các hoạt động phát thải nhiều carbon. Mặt khác, tín dụng xanh cũng đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi năng lượng và cơ sở hạ tầng bền vững thông qua đầu tư vào các sáng kiến khí hậu để hỗ trợ những lĩnh vực tăng trưởng mới như năng lượng sạch và sản phẩm tối ưu hóa năng lượng. Đồng thời, ngành Ngân hàng hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng cho phương tiện giao thông chạy bằng điện, đường ray, kho dự trữ năng lượng, hấp thu và lưu giữ khí hydro và carbon.

Năm 2020, Việt Nam cũng chứng kiến 2 khoản tín dụng xanh với tổng giá trị 257 triệu USD: thứ nhất là khoản vay 71 triệu USD nằm trong gói tài chính 212,5 triệu USD do Tổ chức tài chính quốc tế (IFC) cấp; thứ hai là khoản tín dụng xanh trị giá 186 triệu USD do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cấp cho một công ty tư nhân để xây dựng và vận hành nhà máy điện mặt trời 257 MW ở Phú Yên. Đây cũng là khoản tín dụng xanh đầu tiên của Việt Nam đạt tiêu chuẩn của Climate Bonds Initiative. Các tổ chức tài chính quốc tế như HSBC cũng tham gia lĩnh vực này từ năm 2019 với các khoản vay xanh dành cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn cá nhân, sản phẩm tiền gửi xanh cho doanh nghiệp và ngân hàng đang chuẩn bị cho các giao dịch xanh năm 2021 bao gồm những sản phẩm cho vay cả ngắn hạn lẫn dài hạn, bảo lãnh và hạn mức thương mại.

Khối ngân hàng trong nước cũng có nhiều các khoản vay cho phát triển xanh. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối năm 2021, có 67 tổ chức tín dụng tham gia cho vay các dự án xanh ở các lĩnh vực năng lượng tái tạo, nông nghiệp sạch, vệ sinh môi trường, dệt may và nhiều lĩnh vực khác. Dư nợ cấp tín dụng đối với các dự án xanh chiếm hơn 4% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế, tăng 0,46% so với năm 2020. Hiện nay, Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MSB) đang cấp tín dụng cho nhiều dự án điện mặt trời khác tại các tỉnh, thành phố trên cả nước. Đến cuối năm 2021, MSB triển khai loạt dự án nhà máy điện gió ở các địa phương tiềm năng với tổng đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng, là một phần trong gói tín dụng 30.000 tỷ đồng dành riêng cho các dự án năng lượng tái tạo mà ngân hàng này công bố vào đầu năm 2021...

Để có thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo, Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục tìm kiếm nguồn lực tài trợ, vốn ODA từ các tổ chức quốc tế như: ADB, World Bank, IMF và các nhà tài trợ khác, các tổ chức phát triển năng lượng tái tạo quốc tế uy tín cả về vốn và trợ giúp kỹ thuật. Ngân hàng Nhà nước cân nhắc xây dựng các chính sách khuyến khích tín dụng dành cho năng lượng tái tạo như: Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng cho vay tái cấp vốn đối với các ngân hàng thương mại có tỷ lệ dư nợ tín dụng năng lượng tái tạo cao; điều chỉnh trọng số RWA đối với dư nợ tín dụng năng lượng tái tạo thấp hơn so với tín dụng thương mại khi tính hệ số an toàn vốn.

Ngoài ra, bên cạnh việc cần những đơn vị đi tiên phong, những ngân hàng lớn dẫn đường, thì cũng cần có những chính sách cụ thể khuyến khích cho những đơn vị tham gia vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường. Bởi nếu không có hỗ trợ nhất định về lãi suất thì các khách hàng cũng chưa có nhu cầu sử dụng sản phẩm tín dụng xanh của ngân hàng.

Ngân hàng Nhà nước nên có gói hỗ trợ lãi suất với các dự án, chương trình tín dụng xanh, cũng như một số ưu đãi khác của Nhà nước như về chính sách, đất đai... Có như vậy thì các dự án này khi vay vốn mới có thể tiết giảm được chi phí, hoạt động tài chính hiệu quả hơn. Muốn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế hiệu quả, giảm phát thải thì phải được cụ thể hóa bằng biện pháp, chính sách để khuyến khích các thành phần kinh tế, trong đó có ngân hàng đẩy mạnh tín dụng xanh.

6. Kết luận

Tuyên bố đạt Net Zero của Việt Nam đã phát đi tín hiệu tích cực nhằm thu hút đầu tư, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thay đổi xu hướng tiêu dùng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050, rất nhiều mục tiêu liên quan cần điều chỉnh tổng thể. Cần thiết được “bóc tách”, tính toán bằng “kịch bản Net Zero 2050” chi tiết...

Ngoài quyết tâm về chính trị, rất cần sự vào cuộc của các thành phần kinh tế, xã hội ở các cấp, các địa phương khác nhau, Việt Nam phải xây dựng chính sách và có những hành động thực tế nhằm thu hút, kêu gọi sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, địa phương nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh, giảm phát thải. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục tìm kiếm nguồn lực tài trợ, vốn ODA, xây dựng các chính sách khuyến khích tín dụng dành cho năng lượng tái tạo, giảm phát thải và bảo vệ môi trường.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam (cập nhật năm 2020).

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Kịch bản BĐKH của Việt Nam, cập nhật năm 2020.

3. Hội đồng Lý luận Trung ương (2021), Những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, tháng 3/2021.

4. IPCC (2021), Báo cáo đánh giá lần thứ VI của IPCC về BĐKH (Climate change 2021). WMO&UNEP, 2021.

5. Nguyễn Quốc Việt (2021), Phát triển tính dụng cho năng lượng tái tạo ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính, kỳ 1 tháng 3/2021.

6. Phạm Thị Hoàng Yến, Trần Thị Châu (2020), Đẩy mạnh hoạt động tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ số 23 năm 2020.

 
7. Tim Evans (2021), Tài chính xanh và biến đổi khí hậu. Nhịp cầu Đầu tư,https://nhipcaudautu.vn/MegaStory/tai-chinh-xanh-vs-bien-doi-khi-hau-738.html

8. Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị COP26. https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/toan-van-bai-phat-bieu-cua-thu-tuong-chinh-phu-pham-minh-chinh-tai-hoi-nghi-cop26-676116.

9. Trần Thị Xuân Anh, Trần Thị Thu Hương (2021), Phát triển tín dụng xanh góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam. Tạp chí Tài chính, kỳ 1, tháng 8/2021.

10. Viên Thế Giang, Võ Thị Mỹ Hương (2019), Chính sách phát triển tín dụng xanh và những vấn đề đặt ra trong các quy định pháp luật về cấp tín dụng. Tạp chí Ngân hàng, số 23/2019.
 
TS. Nguyễn Đình Đáp

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Kinh tế toàn cầu với rủi ro đình lạm và suy thoái
Kinh tế toàn cầu với rủi ro đình lạm và suy thoái
23/11/2022 228 lượt xem
Kể từ đầu năm 2022, tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới giảm mạnh cùng với tình trạng lạm phát liên tục gia tăng, đạt kỷ lục tại nhiều quốc gia và điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt hơn đã tạo ra nhiều cuộc tranh luận về khả năng kinh tế toàn cầu có thực sự rơi vào suy thoái hay không? Bài viết tập trung phân tích những đặc điểm của hoạt động kinh tế hiện nay, phản ứng chính sách và các dự báo kinh tế để từ đó, so sánh, đối chiếu với những cuộc suy thoái kinh tế đã từng xảy ra trong quá khứ
Ứng dụng phương pháp phân tích biệt số phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: Trường hợp nghiên cứu tại VietinBank Chi nhánh Quảng Trị
Ứng dụng phương pháp phân tích biệt số phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: Trường hợp nghiên cứu tại VietinBank Chi nhánh Quảng Trị
07/11/2022 418 lượt xem
Việt Nam được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng, cơ hội cho phát triển ngân hàng điện tử với 98,51 triệu dân (năm 2021), cơ cấu dân số trẻ (người trưởng thành chiếm khoảng 70%), đồng thời 72% dân số sở hữu điện thoại thông minh, 130 triệu thuê bao di động, 64 triệu người dùng Internet (chiếm 67% dân số).
Vai trò phát triển vốn trí tuệ đối với tăng trưởng cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò phát triển vốn trí tuệ đối với tăng trưởng cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam
03/11/2022 460 lượt xem
Trong những năm qua, tài sản vô hình nói chung và vốn trí tuệ (Intellectual Capital - IC) nói riêng đã và đang được các chuyên gia quốc tế thừa nhận như là động lực quan trọng cho sự phát triển bền vững về kinh tế và xã hội. Điều này chủ yếu đến từ sự đóng góp ngày càng tăng của tài sản vô hình đối với tiềm năng tăng trưởng và phát triển kinh tế trong bối cảnh kỷ nguyên kỹ thuật số.
Phát triển tài khoản thanh toán cá nhân nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện ở Việt Nam hiện nay
Phát triển tài khoản thanh toán cá nhân nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện ở Việt Nam hiện nay
28/10/2022 511 lượt xem
Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, dịch vụ thanh toán (hay còn gọi là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt) được hiểu là việc cung ứng phương tiện thanh toán và thực hiện giao dịch thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ và các dịch vụ thanh toán khác.
Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong cho vay thông qua Tổ tiết kiệm và vay vốn ở các xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong cho vay thông qua Tổ tiết kiệm và vay vốn ở các xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
18/10/2022 597 lượt xem
Xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển quốc gia. Với mục đích chính là hỗ trợ vốn để tạo sinh kế cho người nghèo, Ngân hàng Chính sách xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện chủ trương trên.
Phương pháp phát hiện dữ liệu bất thường trong giám sát trực tuyến an toàn thông tin tài chính, ngân hàng
Phương pháp phát hiện dữ liệu bất thường trong giám sát trực tuyến an toàn thông tin tài chính, ngân hàng
14/10/2022 741 lượt xem
Hoạt động của ngành tài chính, ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập sự ổn định tài chính của mỗi quốc gia. Hơn nữa, sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế và công nghệ đã đẩy mạnh nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng, tài chính của người dân một cách an toàn, hiệu quả.
Mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả tài chính các ngân hàng thương mại Việt Nam
Mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả tài chính các ngân hàng thương mại Việt Nam
13/10/2022 1.284 lượt xem
Bằng phương pháp thống kê, phân tích thực trạng quy mô tổng tài sản và tương quan cặp giữa quy mô và hiệu quả tài chính, đại diện bởi tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA), kết hợp lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về lợi ích kinh tế theo quy mô và phạm vi, kết quả thống kê cho thấy các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước đạt lợi nhuận cao nhờ lợi thế kinh tế theo quy mô trong giai đoạn 2011 - 2021.
Một số khuyến nghị trong triển khai nghiệp vụ UPAS L/C của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay
Một số khuyến nghị trong triển khai nghiệp vụ UPAS L/C của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay
07/10/2022 1.491 lượt xem
UPAS L/C là L/C trả chậm cho phép thanh toán ngay được bắt nguồn từ các loại L/C tiêu chuẩn. UPAS L/C là sự kết hợp giữa L/C trả ngay và L/C trả chậm, là phương thức thanh toán giúp cho người thụ hưởng ở nước ngoài nhận được tiền thanh toán ngay trong khi người đề nghị mở L/C chỉ phải nộp tiền thanh toán cho ngân hàng phát hành vào thời điểm đến hạn thanh toán trả chậm theo L/C.
Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/10/2022 776 lượt xem
Quyết định chính sách cổ tức là một trong các quyết định quan trọng trong hoạt động quản trị tài chính của doanh nghiệp nói chung, của NHTM nói riêng. Chính sách cổ tức có những tác động đến quá trình hoạt động, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên nhiều phương diện. Đối với NHTM, chính sách cổ tức được sử dụng như một công cụ điều tiết giữa chia lợi nhuận và lợi nhuận giữ lại sao cho đáp ứng được nhu cầu tăng vốn đầu tư nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông.
Tiền kỹ thuật số do ngân hàng Trung ương phát hành: Lợi ích và động thái của các quốc gia
Tiền kỹ thuật số do ngân hàng Trung ương phát hành: Lợi ích và động thái của các quốc gia
20/09/2022 2.276 lượt xem
Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới đã, đang tiến hành nghiên cứu và phát triển tiền kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương (NHTW) phát hành (CBDC), nắm bắt xu thế này, Việt Nam cũng cần nghiên cứu xây dựng khuôn khổ pháp luật, thiết lập các quy chuẩn để đưa vào quản lý CBDC khi NHTW phát hành.
Pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong nền kinh tế số - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong nền kinh tế số - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
15/09/2022 2.338 lượt xem
Rửa tiền là một hành vi phạm tội nguy hiểm, phá hoại nghiêm trọng nền kinh tế và đẩy lùi sự phát triển của quốc gia. Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các hành vi rửa tiền càng trở nên tinh vi và phức tạp. Điều này đòi hỏi cần phải có những biện pháp hiệu quả, đặc biệt là các biện pháp pháp lý để kiểm soát, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi rửa tiền.
Kinh tế vĩ mô Việt Nam 8 tháng đầu năm 2022 và một số khuyến nghị về giải pháp điều hành vượt qua khó khăn, thách thức
Kinh tế vĩ mô Việt Nam 8 tháng đầu năm 2022 và một số khuyến nghị về giải pháp điều hành vượt qua khó khăn, thách thức
14/09/2022 3.370 lượt xem
Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, các căng thẳng địa chính trị và triển vọng tăng trưởng đang có xu hướng chậm lại trên toàn cầu, kinh tế vĩ mô Việt Nam trong tháng 8/2022 và 8 tháng đầu năm 2022 vẫn thể hiện rõ sự cải thiện ở hầu hết các ngành, lĩnh vực.
Nhận định một số rủi ro trong thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Nhận định một số rủi ro trong thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
12/09/2022 3.177 lượt xem
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranh mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng, nhận thấy được lợi ích, tiềm năng trong việc phát triển đối tượng khách hàng bán lẻ, các ngân hàng đã dần mở rộng đối tượng khách hàng, nâng cao tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với khách hàng cá nhân.
Thặng dư cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam và một số khuyến nghị
Thặng dư cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam và một số khuyến nghị
12/09/2022 7.274 lượt xem
Cán cân thanh toán quốc tế (Balance of Payment - BoP) là một chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng phản ánh bức tranh kinh tế quốc tế tổng thể của một quốc gia. Theo Điều 3, Nghị định số 16/2014/NĐ-CP ngày 03/3/2014 của Chính phủ về quản lý BoP của Việt Nam, BoP của Việt Nam là báo cáo thống kê tổng hợp các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.520

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.500

Vàng SJC 5c

66.500

67.520

Vàng nhẫn 9999

53.000

54.000

Vàng nữ trang 9999

52.800

53.600


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.627 24.857 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.655 24.855 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.645 24.856 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.855 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.855 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.620 24.857 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.700 24.853 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.855 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.857 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?