Giải pháp ổn định thị trường tài chính, ngân hàng Việt Nam dưới tác động tiêu cực do đại dịch Covid-19 gây ra
28/09/2021 21.732 lượt xem
Đại dịch Covid-19 trên thế giới hiện nay được gây ra bởi một loại virus có tên là SARS-CoV-2. Ca lây nhiễm đầu tiên được xác định ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào tháng 12/2019. Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức tuyên bố sự bùng phát của Covid-19 là đại dịch toàn cầu (pandemic). Đến nay, đại dịch Covid-19 lan rộng gây ra suy thoái kinh tế cho nhiều quốc gia trên thế giới. Bài viết phân tích những hệ lụy từ đại dịch Covid-19 đến thị trường tài chính, ngân hàng Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp chuẩn bị cho thời kỳ hậu Covid-19, góp phần phục hồi nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
 
Thị trường tài chính, ngân hàng chịu tác động bởi hệ lụy từ đại dịch Covid-19

Do tác động của đại dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực tài chính, ngân hàng nói riêng không tránh khỏi những tác động tiêu cực, mặc dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực đó. Đối với thị trường tài chính, ngân hàng, các tác động tiêu cực có thể kể đến như sau:

Thứ nhất: Trong tháng 8 đầu năm 2021, đợt dịch Covid-19 lần thứ tư (từ tháng 4/2021) vẫn diễn biến phức tạp khiến nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước phải tiếp tục thực hiện giãn cách, đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất nhập khẩu; thị trường hàng hóa, sản xuất tiêu dùng trong nước bị thu hẹp, thu nhập người dân giảm mạnh. Tín dụng tăng trưởng chậm do các ngân hàng thương mại (NHTM) thận trọng cho vay vì thị trường, doanh nghiệp biến động mạnh. Nợ xấu khu vực có tâm dịch, thành phố lớn tăng do khó khăn từ khối doanh nghiệp cầm cự với giãn cách xã hội và chống dịch theo chỉ đạo của Chính phủ và chính quyền địa phương. Khả năng thanh toán hạn chế do doanh nghiệp ứ đọng hàng hóa, bất động sản đóng băng… đã ảnh hưởng trực tiếp tới các NHTM.

Thứ hai: Các dòng vốn đầu tư biến động mạnh theo hướng tiêu cực, thị trường chứng khoán bị tác động do ảnh hưởng lớn từ việc các nhà đầu tư nước ngoài bán ròng, mặt khác, một lượng tiền mặt lớn đọng trong khối dân cư vì tâm lý tiêu cực do dịch bệnh nên nắm giữ tiền mặt. Hoạt động đầu tư các dòng vốn mua cổ phần giảm do chiến lược tăng vốn điều lệ của NHTM và ảnh hưởng của quá trình hiện đại hóa hoạt động sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Tuy chỉ là tác động tạm thời nhưng đã ảnh hưởng đến quản trị chiến lược của các NHTM.

Thứ ba: Hoạt động liên kết chuỗi kinh doanh các sản phẩm của NHTM bị gián đoạn, đứt gãy hoạt động tạm thời, làm giảm đi đáng kể lượng khách hàng cũ và mới.

Thứ tư: Lãi suất, giá vàng và ngoại tệ mạnh trên thị trường quốc tế biến động khó lường, tạo ra bất lợi cho thị trường kinh doanh ngoại hối.

Thứ năm: Với việc hoạt động sản xuất ngưng trệ, các doanh nghiệp có thể tạm thời ngừng hoạt động. Theo Tổng cục Thống kê, trong 8 tháng đầu năm 2021, có 85,5 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2020, bao gồm: 43,2 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước; 30,1 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 24,5%; 12,2 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 17,8%. Trung bình mỗi tháng có gần 10,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Theo đó, một số lượng lớn người lao động ngưng việc hay thậm chí rơi vào trạng thái thất nghiệp. Sự mất mát trong thu nhập sẽ khiến cho cầu của đối tượng này giảm mạnh. Ảnh hưởng kể trên sẽ đặc biệt nghiêm trọng đối với những người nằm ngoài vùng phủ của bảo hiểm thất nghiệp. Một số ngành chịu ảnh hưởng nặng nề, các doanh nghiệp (thuộc các lĩnh vực hàng không, du lịch, thương mại, dịch vụ) có khả năng phá sản hàng loạt hậu Covid-19 sẽ ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế nói chung, lĩnh vực ngân hàng nói riêng.

Thứ sáu: Do biện pháp chống dịch được áp dụng chủ yếu là giải pháp cách ly xã hội khiến nguồn cung lao động giảm mạnh, đặc biệt trong những khu vực đòi hỏi sự cách ly trực tiếp lao động vào quá trình sản xuất. Ngoài ra, với những vùng tâm dịch, việc đóng cửa những hoạt động không thiết yếu, thực thi những quy tắc hạn chế đi lại, khiến cho nhiều hoạt động sản xuất bị ngưng trệ, tác động gián tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng.

Thứ bảy: Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát rồi lại bùng phát ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, dịch bệnh khó có thể được kiểm soát một cách triệt để trên bình diện rộng, hoạt động sản xuất có thể rơi vào trạng thái “tắt/bật” (on/off) trước những diễn tiến cụ thể của tình hình dịch bệnh. Điều này gây bị động trong kế hoạch sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến nhu cầu vốn, do đó, ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động ngân hàng ít nhất 2 đến 3 năm nữa.

Thứ tám: Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 gây ra tâm lý tiêu cực trong và sau đại dịch khiến cho khách hàng tiêu dùng và nhà đầu tư có trạng thái tâm lý trì hoãn tiêu dùng, không có nhu cầu vay vốn và đầu tư, điều này ảnh hưởng gián tiếp đến các dịch vụ ngân hàng như Internet banking, giao dịch các sản phẩm ngân hàng… ảnh hưởng lợi nhuận ròng từ tín dụng và phi tín dụng của ngân hàng.

Thứ chín: Sau đại dịch Covid-19, sự phá sản của các doanh nghiệp có thể tạo ra khủng hoảng nợ, là tiền đề cho nợ xấu ngân hàng tăng và hệ lụy ảnh hưởng những “đổ vỡ” trong hệ thống tài chính.

Giải pháp ổn định thị trường tài chính, ngân hàng thời kỳ hậu Covid-19

Để chuẩn bị cho thời kỳ trong và hậu Covid-19, góp phần phục hồi nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới, tác giả đưa ra một số khuyến nghị như sau:

Một là, trong giai đoạn hiện nay, vai trò chủ yếu của NHNN là đưa ra chính sách tiền tệ đảm bảo hệ thống tài chính vận hành thông suốt, duy trì khả năng thanh khoản của các tổ chức tài chính, hỗ trợ khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (giải ngân vốn dự án) cần tham mưu Chính phủ có các biện pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp, các giải pháp dân sinh thời kỳ trong và hậu Covid-19. Mặt khác, NHNN tiếp tục thường xuyên nghiên cứu, dự báo, đánh giá tác động của dịch bệnh đối với nền kinh tế; bám sát diễn biến thị trường để cập nhật, điều chỉnh các kịch bản điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng; chủ động điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, điều tiết nghiệp vụ thị trường mở với kỳ hạn, khối lượng, lãi suất hợp lý và chuẩn bị các phương án hỗ trợ khi cần thiết để đảm bảo thanh khoản thị trường thông suốt, cung ứng vốn kịp thời, giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra của Chính phủ.

Ngày 24/8/2021, tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới công bố Báo cáo Điểm lại cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam ấn bản tháng 8/2021. Theo báo cáo, trong tháng 7, doanh số bán lẻ giảm 19,8% so cùng kỳ năm trước, là mức giảm lớn nhất kể từ tháng 4/2020, trong khi Chỉ số sức mua hàng (PMI) cũng giảm đáng kể. Các chuỗi cung ứng và các khu công nghiệp bị gián đoạn do đại dịch Covid-19 tái bùng phát diện rộng đã buộc các đơn vị xuất khẩu phải tạm thời đóng cửa nhà máy hoặc đình hoãn sản xuất... Báo cáo nhận định, GDP Việt Nam dự kiến tăng trưởng khoảng 4,8% cho cả năm 2021, dự báo này thấp hơn hai điểm phần trăm so với dự báo do Ngân hàng Thế giới đưa ra vào tháng 12/2020, có xét đến tác động tiêu cực của các đợt dịch Covid-19 đến hoạt động kinh tế. Do vậy, nước ta sẽ phải đương đầu với các chỉ số tài chính “ốm yếu” thời gian tới, do đó, các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ, NHNN là cần thiết sao cho không bị đổ vỡ hệ thống tài chính, ngân hàng với những hệ lụy trên.

Hai là, các NHTM tiếp tục chủ động cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; căn cứ tình hình thực tiễn để kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí đối với khách hàng khó khăn. Nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19 đang phải đối mặt với việc sụt giảm nguồn thu để bù đắp cho các chi phí khác hay hoạt động sản xuất kinh doanh vận hành dưới mức bình thường. Bên cạnh đó, 43,4% doanh nghiệp trong số này gặp khó khăn do không có nguồn thu; 39,4% không thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh, chẳng hạn, phải đóng cửa trường học, cơ sở sản xuất kinh doanh theo quy định để phòng, chống dịch. Ngoài ra, 31,2% doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng hóa sản xuất trong nước; 17,20% không xuất khẩu được. Các vấn đề về thiếu hụt vốn, thiếu hụt nguyên liệu sản xuất cũng là một khó khăn lớn, đặc biệt nguồn nguyên liệu từ nhập khẩu.

Ba là, theo Quyết định số 32/2020/QĐ-TTg ngày 19/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; trên tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ban, ngành đã khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo cụ thể trong từng lĩnh vực mà mình phụ trách, các NHTM tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp kết hợp Tổng cục Thuế gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch; miễn, giảm thuế, phí, lệ phí cho các đối tượng bị ảnh hưởng, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội. Các cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi đại dịch, không tính lãi phạt chậm nộp theo thẩm quyền và quy định của pháp luật; xem xét thời điểm đóng phí công đoàn phù hợp, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tổ chức.

Bốn là, cơ quan chức năng cần tiếp tục hỗ trợ thị trường chứng khoán, củng cố niềm tin cho các bên tham gia thị trường. Theo đó, cần có hướng dẫn, quy định để cụ thể hóa nhiệm vụ theo cơ chế tác động san sẻ rủi ro giữa các thành phần kinh tế. Ðiều đó sẽ tạo cơ sở cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và nhà đầu tư tin vào nội lực của nền kinh tế, vào các giải pháp của Chính phủ cũng như sức bền của thị trường.

Năm là, tích cực, chủ động tháo gỡ các rào cản, đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong đại dịch, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam bị ảnh hưởng lớn. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tổng số vốn FDI đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/7/2021 đạt 16,7 tỷ USD, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận khía cạnh tích cực từ bối cảnh hiện tại, khi Việt Nam vẫn đang được coi là đất nước an toàn. Một số nhà đầu tư vẫn chuyển hướng đầu tư sang Việt Nam, trong 7 tháng đầu năm 2021, Việt Nam vẫn thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào một số dự án lớn như: Dự án nhà máy điện LNG Long An I và II (Singapore); dự án nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản); dự án LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc)...

Sáu là, các NHTM phát huy tối đa các kênh thanh toán, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, người dân thực hiện dịch vụ liên kết với Bảo hiểm xã hội như tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, thanh toán phí điện, nước bên cạnh việc Chính phủ chỉ đạo không tăng chi phí điện, nước và rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Đây cũng là những chính sách rất cần thiết giúp giảm chi phí hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khắc phục những hậu quả do đại dịch Covid-19 gây ra.

Bảy là, kinh tế Việt Nam đang đứng trước một đợt suy giảm lớn sau khi dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, xuất phát từ một nguyên nhân phi kinh tế. Trong bối cảnh này, các NHTM cần thực hiện nhanh, nhạy, đúng các chính sách điều hành vĩ mô của Chính phủ và NHNN có ảnh hưởng quan trọng tới sức đề kháng của nền kinh tế, giảm thiểu các tác động tiêu cực của dịch bệnh để lại. Đặc biệt, các chính sách hỗ trợ vốn là yếu tố quyết định nền kinh tế có khả năng phục hồi nhanh chóng hay không một khi bệnh dịch đã được kiểm soát. Phân tích được tác động của dịch bệnh tới các ngành kinh tế có sự khác biệt rất lớn để kiến nghị với NHNN.

Một số ngành chịu ảnh hưởng nặng nề, các doanh nghiệp có khả năng phá sản hàng loạt như hàng không, du lịch, dịch vụ nếu vay vốn ngân hàng thì Chính phủ cần có biện pháp hỗ trợ lãi suất phù hợp. Một số ngành vẫn có cơ hội phát triển tốt như cung cấp nông sản, thực phẩm, dược phẩm… thì tiếp tục hỗ trợ vốn bên cạnh việc khơi nguồn các thị trường ngoài nước để tăng GDP. Do vậy, NHNN cần lựa chọn hợp lý các chính sách, cũng như đối tượng để hỗ trợ. Bổ sung thêm danh mục về các đối tượng được hưởng ưu tiên về lãi suất trần trong khoản 2, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Việc kích thích tổng cầu nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay hầu như không có tác dụng trong ngắn hạn do sức mua ở những ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp sẽ không thể tăng do sau dịch bệnh doanh nghiệp, người dân đã kiệt sức. Do đó, các chính sách lãi suất là liều thuốc kháng sinh cho doanh nghiệp và người dân phục hồi sản xuất, đầu tư và mua sắm trở lại, dòng tiền khơi thông sẽ sớm khôi phục nền kinh tế. Lãi suất có thể cắt giảm thêm 1 - 2 điểm phần trăm. Khi chính sách tiền tệ hay tài khóa truyền thống không đủ hỗ trợ khả năng thanh toán của doanh nghiệp, thì cần có các can thiệp tài khóa trực tiếp từ Chính phủ như mua lại nợ, tăng sở hữu vốn Nhà nước… ở một số lĩnh vực đặc biệt quan trọng; tránh tối đa sự đổ vỡ của các tập đoàn lớn sau đại dịch Covid-19. Bên cạnh đó, giải cứu thị trường chứng khoán, tăng cường các biện pháp ổn định tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn. Các NHTM tận dụng cơ hội để phát triển thị trường, sản phẩm, kênh phân phối mới, tăng cường phát triển thanh toán Internet banking và Mobile banking.

Tám là, kiểm định lại tính hiệu quả của các chính sách đã xây dựng về quản trị rủi ro, trong đó có rủi ro hoạt động. Đây là cơ hội tốt để các tổ chức tín dụng đánh giá quy trình hoạt động và hệ thống nhân sự hiện tại có vận hành hiệu quả không, có chỗ nào có thể điều chỉnh để tối ưu hóa. Các tổ chức tín dụng cũng xác định được nhân sự tốt và nhân sự có thể cắt giảm, từ đó tối ưu hóa được chi phí hoạt động. Ngoài ra, dịch bệnh còn là thời cơ giúp lãnh đạo các tổ chức tín dụng nhìn nhận lại các chính sách đối phó với các loại rủi ro, chủ động điều chỉnh hoặc xây dựng lại các kịch bản có thể gặp phải, từ đó hình thành các phương án đối phó hiệu quả hơn hậu Covid-19.

 
Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2021. Tổng cục Thống kê.

2. https://www.gso.gov.vn

3. https://www.pwc.com/gx/en/industries/financial-services/publications/future-of-financial-services.html
 
ThS. Đỗ Văn Hữu

Ban Kiểm soát - Agribank
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 1.550 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.731 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 1.565 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 2.674 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.859 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.565 lượt xem
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.639 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 3.164 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 2.183 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 2.525 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 7.943 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.782 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.578 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 2.213 lượt xem
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 2.084 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?