Điểm nhấn phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 2015, triển vọng 2016
20/02/2017 2.610 lượt xem
Dù đối diện với nhiều khó khăn và áp lực về diễn biến tiền tệ, giá dầu, cạnh tranh thị trường, cùng các xung đột khu vực và quốc tế đa dạng khác, năm 2015, Việt Nam ghi nhận nhiều khởi sắc nhất trong 5 năm qua về phát triển kinh tế - xã hội, chuẩn bị cho năm 2016 với nhiều kỳ vọng lớn lao và tự tin hơn... Theo Ngân hàng ANZ, năm 2015, Việt Nam được đánh giá là “ánh sáng hiếm hoi” trong bức tranh ảm đạm của hầu hết các nền kinh tế mới nổi và là một trong ba nền kinh tế hứa hẹn về tăng trưởng ở châu Á.

TS. Nguyễn Minh Phong, Nguyễn Trần Minh Trí
 

1. Những điểm nhấn phát triển kinh tế - xã hội năm 2015
Thứ nhất, GDP vượt mức kế hoạch cả năm và cao nhất 5 năm qua
Năm 2015, ghi nhận 4 điểm nhấn tích cực nổi bật về tăng trưởng kinh tế:
Thứ nhất, GDP ước tăng 6,68%, mức cao nhất 5 năm qua (so với mức tăng  5,89% năm 2011; 5,03 % năm 2012; 5,42% năm 2013 và 5,98 % năm 2014);
Thứ hai, lần đầu tiên trong 5 năm qua vượt kế hoạch đặt ra (6,2%);
Thứ ba, năm thứ tư liên tiếp có mức tăng GDP quý sau luôn cao hơn quý trước (năm 2015: quý I tăng 6,12%, quý II tăng 6,47%, quý III tăng 6,87%; quý IV tăng 7,01%; Năm 2014: quý I tăng 5,06%, quý II tăng 5,34%, quý III tăng 6,07% và quý IV tăng 6,96%;  Năm 2013: quý I tăng 4,76%, quý II tăng 5,00%, quý III tăng 5,54% và quý IV tăng 6,04%; Năm 2012: quý I tăng 4,64%, quý II tăng 4,80%, quý III tăng 5,05% và quý IV tăng 5,44%).
Thứ tư, đây là năm tiếp tục xu hướng cải thiện hiệu quả đầu tư, với tốc độ tăng GDP nhanh hơn tốc độ tăng vốn đầu tư xã hội hàng năm, cụ thể: tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2015 theo giá hiện hành ước đạt 1367,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2014 và bằng 32,6% GDP, trong khi tốc độ tăng GDP là 6,68%, so với con số tương ứng năm 2014 là bằng 31% GDP và 5,98% GDP; năm 2013 là 30,4% GDP và 5,42% GDP; năm 2012 là 33,5% GDP và 5,03% GDP...
Những điểm trên cho thấy, xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, ổn định và hiệu quả hơn của Việt Nam, dù tăng GDP không phải là mục tiêu quan trọng nhất và chỉ tiêu duy nhất đánh giá quá trình phát triển kinh tế của nước ta trong nhiều năm qua.
Năm 2015, với quy mô dân số là 91,7 triêu người, GDP bình quân theo giá hiện hành tương đương 2109 USD/người, tăng 57 USD so với năm 2014. Vì yếu tố giá cả, thời tiết và sâu bệnh, năm nay, nông nghiệp chỉ tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm 2014, trong khi công nghiệp và xây dựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước, còn dịch vụ tăng 6,33%.
Thứ hai, lạm phát thấp, nợ xấu giảm nhanh và thị trường ngoại hối tương đối ổn định
Lạm phát cơ bản năm 2015 là 2,01%. CPI tháng 12-2015 tăng 0,02% so với tháng trước. Ðặc biệt, cả hai chỉ số CPI so với cùng kỳ năm 2014 (tăng 0,6% ) và CPI bình quân năm 2015 so với bình quân năm 2014 (tăng 0,63% so với mục tiêu tăng 5%) đều là mức thấp nhất trong 14 năm trở lại đây. Cần nhấn mạnh rằng, lạm phát năm nay thấp, dù tăng trưởng tín dụng khoảng 17,02% so với cuối năm 2014 (mức tăng cao nhất kể từ năm 2011) và tổng bán lẻ hàng hóa và dịch vụ (tổng cầu tiêu dùng trong nước) cả năm 2015 tiếp tục tăng cao hơn năm trước. Ðây là thành tích đáng ghi nhận như là hệ quả tích cực của việc kiểm soát đầu tư công và phát hành công cụ thanh toán; giảm thuế, lãi suất, giảm giá nguyên, nhiên liệu và chi phí kinh doanh đầu vào (so với năm trước xăng dầu giảm 40,4%; sắt thép giảm 15,6%; chất dẻo giảm 13%; phân bón giảm 14,1%); công tác bình ổn và lưu thông hàng hóa tốt; thị trường ngoại hối cả năm khá ổn định.  Chỉ số giá vàng bình quân năm 2015 giảm 4,73% so với năm 2014. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân năm 2015 tăng 3,16% so với năm 2014 do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chủ động điều chỉnh tỷ giá trước biến động tiền tệ thế giới...
Lạm phát thấp giúp huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2015 tăng 13,49%, mặc dù lãi suất trong năm tiếp tục giảm, còn khoảng 40% so với mặt bằng lãi suất năm 2011.
Nợ xấu năm 2015 được cải thiện, giảm nhanh còn khoảng 2,93% tổng dư nợ toàn ngành vào cuối quý III/2015, so với mức trên 17% năm 2011. Ðây là kết quả nỗ lực chung, nhờ những giải pháp đồng bộ: Phân loại nợ; cơ cấu lại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; nâng cao chất lượng tín dụng và thông tin tín dụng, kiểm soát nợ xấu mới phát sinh; nhận diện nợ chính xác, đầy đủ hơn và quá trình xử lý nợ trở lên minh bạch hơn và mang tính thị trường đậm nét hơn; tăng trần dư nợ tín dụng mới; nới “room” sở hữu và điều kiện kinh doanh trên thị trường tài chính - tiền tệ và bất động sản cho người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tăng kiểm soát giảm thiểu quy mô, mặt trái của tình trạng sở hữu chéo và tình trạng sở hữu cổ phần vượt tỷ lệ cho phép; tăng sự minh bạch trong hoạt động kinh doanh ngân hàng; thúc đẩy các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD trên nguyên tắc tự nguyện và bắt buộc theo quy định của pháp luật, trong đó có cả việc NHNN mua lại 3 ngân hàng thương mại (NHTM) với giá 0 đồng; khuyến khích mua bán nợ và công cụ nợ phái sinh trên thị trường thứ cấp theo đúng giá trị và cơ chế thị trường; cho phép khoanh nợ, giãn nợ và xóa một số khoản nợ xấu, mở rộng cho vay và nới lỏng hơn điều kiện vay...
Theo Bộ Tài chính, dự kiến tổng thu NSNN năm 2015 sẽ vẫn đạt và vượt kế hoạch (tính đến 15 - 12 đã đạt 884,8 nghìn tỷ đồng, bằng 97,1% dự toán cả năm), dù giá dầu thô cuối năm 2015 tiếp tục sụt giảm còn bằng 30% so với giá giữa năm 2014, khiến xuất khẩu dầu thô giảm 0,5% về lượng và trên 47% về kim ngạch và tổng thu ngân sách từ dầu tính đến 15 - 12 năm 2015 là 62,4 nghìn tỷ đồng, bằng 67,1% dự toán, chiếm 6% trong tổng thu NSNN. Năm 2015, khai thác dầu thô tăng 7,5%, nhưng xuất khẩu dầu thô giảm 0,5% về lượng so với năm 2014, cho thấy Việt Nam đã linh hoạt hơn trong điều hành dự trữ và gia tăng chế biến dầu thô trong nước...
Năm 2015, cán cân thanh toán quốc tế tiếp tục thặng dư khá cao. Dự trữ ngoại hối đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Fitch Ratings tháng 11/2015 công bố đánh giá tín nhiệm nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ và nội tệ (IDRs) của Việt Nam ở mức BB - với triển vọng ổn định.
Thứ ba, môi trường kinh doanh, chỉ số cạnh tranh và kinh tế đối ngoại có nhiều khởi sắc rõ rệt
Năm 2015, môi trường và cơ hội kinh doanh có sự cải thiện đáng kể cùng với sự cải thiện cung - cầu và các giao dịch thành công trên thị trường bất động sản (nhất là phân nhà ở xã hội); tăng sức mua thị trường và giảm nhẹ chi phí kinh doanh trong nước nhờ giảm thuế, giảm mặt bằng lãi suất cho vay và tăng tự do hóa đầu tư. Ðặc biệt, từ 1/7/2015, khi Luật Ðầu tư 2014 chính thức có hiệu lực, đã giảm từ 49 còn 6 lĩnh vực hạn chế đầu tư và bãi bỏ tới 3.299 điều kiện kinh doanh trong số 6.475 điều kiện kinh doanh thuộc các cấp độ khác nhau. Từ nay, chỉ có Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ mới có quyền ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh.
Năm 2015, ngành Thuế đã giảm thêm 50 giờ nộp thuế của doanh nghiệp, khiến tổng thời gian giảm trong 2 năm 2014 và 2015 là 420 giờ (từ 537
giờ/năm xuống còn 117 giờ/năm, tức 78% số giờ thực tế). Hiện hơn 98% các doanh nghiệp đã kê khai thuế qua mạng; trên 80% doanh nghiệp đã nộp thuế theo phương thức điện tử; hơn 98% kim ngạch xuất nhập khẩu đã được thông quan điện tử.
Những cải thiện môi trường đầu tư Việt Nam đã được thế giới ghi nhận. Việt Nam tăng 3 bậc so với năm trước, xếp thứ 90/189 quốc gia, trong Báo cáo chỉ số Môi trường kinh doanh (Doing Bussiness 2016) do WB công bố ngày 28/10/2015. Ðáng ấn tượng hơn, Việt Nam tăng 12 bậc (xếp thứ 56) so với năm ngoái (xếp thứ 68) trong cáo báo cáo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) về năng lực cạnh tranh (GCR) 2015 - 2016 công bố hôm 29.9.2015. 
Theo Báo cáo Tổng cục Thống kê, Chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) giai đoạn 2011 - 2015 của Việt Nam đạt bình quân 28,94%/năm. Năng suất lao động tăng bình quân
3,8%/năm. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2015 tăng 19 bậc so với năm 2010.
Năm 2015, chứng kiến những sự kiện lớn về kinh tế đối ngoại của Việt Nam, như ký FTA Việt Nam - Liên minh hải quan Nga - Belarus - Kazaxtan; kết thúc đàm phán FTA Việt Nam EU và TPP; FTA Việt Nam - Hàn Quốc có hiệu lực từ 20/12; và cuối năm 2015 chính thức hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Ðến nay, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thị trường thương mại tự do với 55 quốc gia và nền kinh tế, trong đó có 15 quốc gia trong Nhóm G-20. Việt Nam cũng đã được 59 quốc gia công nhận có nền kinh tế thị trường; Việt Nam đang tiếp tục đàm phán,  cũng như khởi động đàm phán mới với nhiều nước trong một số FTA khác...
Năm 2015, thu hút FDI tiếp tục cải thiện cả về tổng vốn đăng ký mới và vốn mở rộng, cũng như vốn thực hiện. Tính đến 15-12, cả nước có tổng vốn FDI đăng ký mới và vốn bổ sung đạt 22,76 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2014. FDI thực hiện năm 2015 ước đạt 14,5 tỷ USD, tăng 17,4% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút FDI lớn nhất, chiếm 66,9% tổng vốn FDI đăng ký. TP.Hồ Chí Minh dẫn đầu với 18% tổng vốn FDI đăng ký cấp mới. Từ tháng 10-2015, Hàn Quốc cũng đã vượt Nhật Bản, trở thành nước có dòng FDI  dẫn đầu vào Việt Nam, với lũy kế 4.777 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đạt 43,6 tỷ USD.
Năm 2015, khu vực doanh nghiệp trong nước ghi nhận sự cải thiện khá đậm nét so với năm trước ở sự gia tăng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (94.754 doanh nghiệp, tăng 26,6%); số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (21.506 doanh nghiệp, tăng 39,5%); số vốn đăng ký (601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 39,1% ); số vốn tăng thêm (851 nghìn tỷ đồng, vượt khoảng 27% số vốn mới đăng ký) và số việc làm mới tạo ra của các doanh nghiệp... Trong khi, số doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm 2015 là 9.467 doanh nghiệp, giảm 0,4% so với năm trước. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 71.391 doanh nghiệp, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước (riêng tháng 12 tăng tới 80% so với tháng trước). Dù vì nhiều lý do khác nhau, song điều này cũng cho thấy bức tranh khu vực doanh nghiệp trong nước không chỉ có màu hồng.
Năm 2015, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 7943,7 nghìn lượt người, giảm 0,2% so với năm trước. Ðây là năm đầu tiên ghi nhận mức giảm kể từ năm 2009, với 13 tháng liên tiếp giảm và chỉ tăng trở lại liên tục trong 6 tháng cuối năm 2015; một phần nhờ Việt Nam mở rộng diện miễn Visa cho du khách thêm 5 nước, nâng tổng số lên 22 nước được miễn visa cho du khách.
Theo chỉ đạo của chính phủ, năm 2016, Việt Nam tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô


Thứ tư, tái cơ cấu kinh tế được tăng cường, cân đối thương mại hàng hóa và dịch vụ tiếp tục xuất siêu
Năm 2015, chứng kiến những chuyển động tích cực về tái cơ cấu kinh tế, nhất là trong mua bán, sáp nhập các ngân hàng và chuyển nhượng dự án bất động sản; thu hồi các dự án chậm triển khai, dùng sai mục đích sử dụng đất; cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp (bệnh viện) công và sắp xếp, cổ phần hóa các DNNN; đặc biệt, tăng cường sử dụng giống mới, ứng dụng công nghệ bảo quản, chế biến nông sản hiện đại; mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp theo mô hình liên kết chuỗi và quy mô công nghiệp); tăng cường hoạt động M&A trong nhiều lĩnh vực.
Năm 2015, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 162,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2014, mức tăng thấp nhất trong 5 năm qua. Một số mặt hàng nông sản và khoáng sản giảm khá mạnh cả về lượng và giá trị như: Cà phê giảm 24,3% về lượng và giảm 27,8% về giá trị; chè giảm 6% và giảm 7%; dầu thô giảm 0,6% và giảm 47,3%; than đá giảm 76,1% và giảm 66,7%; khẩu thủy sản giảm 15,6% về giá trị. Riêng cao su tăng 7,2% về lượng, nhưng giảm 13,6% kim ngạch. Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, với kim ngạch 33,5 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2014 và chiếm tỷ trọng 20,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tính chung cả năm 2015, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 165,6 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước (tăng 18,9% nếu loại trừ yếu tố giá), trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 98 tỷ USD, tăng 16,4%; khu vực kinh tế trong nước đạt 67,6 tỷ USD, tăng 6,3%.
Năm 2015, Việt Nam xuất siêu 25,5 tỷ USD sang Mỹ và 20,6 tỷ USD sang FU; nhập siêu từ Trung Quốc ước tính 32,3 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm trước; Hàn Quốc ước tính 18,7 tỷ USD, tăng 28%; ASEAN ước tính 5,5 tỷ USD, tăng 44,7%; từ Nhật Bản hơn 300 triệu USD sau nhiều năm xuất siêu. Tổng nhập siêu cả nước 3,2 tỷ USD, trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,3 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 17,1 tỷ USD.
Với kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu cùng tính theo giá FOB (Loại trừ 9 tỷ USD phí vận tải và bảo hiểm hàng nhập khẩu được tính vào nhập khẩu dịch vụ) thì cân đối thương mại hàng hóa năm 2015 ước xuất siêu 5,8 tỷ USD, giảm 44% so với năm 2014. Cân đối thương mại hàng hóa và dịch vụ năm 2015 ước tính xuất siêu 1,5 tỷ USD, giảm 77% so với năm 2014, trong đó hàng hóa xuất siêu 5,8 tỷ USD, dịch vụ nhập siêu 4,3 tỷ USD.
Thứ năm, công tác an sinh xã hội đạt nhiều kết quả 
Năm 2015, ghi nhận sự giảm tiếp tỷ lệ nghèo (còn 4,5%) theo chuẩn cũ. Cả nước có 227,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 27,8% so với năm trước, tương ứng với 944 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 29,6%. Ðặc biệt, chương trình “Bò giống giúp người nghèo biên giới” trao tặng 24.000 con bò giống (trị giá 360 tỷ đồng) cho đồng bào nghèo 11 tỉnh biên giới đã hoàn thành chỉ sau một năm rưỡi triển khai, sớm hơn 1 năm so với dự kiến.
Năm 2015, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động là 1,82% (thấp hơn mức 2,40% năm 2014). Ước tính trong năm 2015 cả nước có 56% lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản có việc làm phi chính thức, giảm nhẹ so với năm trước. Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2015 ước tính tăng 6,4% so với năm 2014.
 
2. Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội năm 2016
Năm 2016, kinh tế đối ngoại có nhiều cơ hội phát triển tốt, vừa là điều kiện vừa là điểm sáng cho nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới. Nhiều cơ hội kinh doanh và triển vọng thị trường xuất khẩu sẽ khởi sắc hơn, nhất là khu vực kinh tế tư nhân và FDI. Nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và kinh tế biển sẽ tiếp tục là hướng đầu tư khai thác hiệu quả. Du lịch và một số ngành dịch vụ chất lượng cao cũng kỳ vọng sẽ tiếp tục được cải thiện và tăng trưởng tốt, gắn với tiến trình thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Tuy nhiên, năm 2016 có thể có sự tăng áp lực kiểm soát cân đối NSNN, nợ công, lãi suất và tỷ giá, dù thanh khoản của hệ thống vẫn được giữ vững…
Ðặc biệt, từ 01/012016, việc đo lường nghèo ở Việt Nam chính thức chuyển từ đơn chiều - thu nhập sang đa chiều, tức sử dụng cả tiêu chí thu nhập và 10 tiêu chí về tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin). Trước mắt, áp dụng chuẩn nghèo mới sẽ làm tăng tỷ lệ nghèo (năm 2015 nếu tính theo chuẩn mới tỷ lệ nghèo sẽ là 12% và cận nghèo là 6%) và khiến quá trình giảm nghèo chậm (do yêu cầu đa dạng và cao hơn); nhưng tạo cơ hội bình đẳng và thuận lợi hơn (vì không chỉ trông vào tăng thu nhập) trong nhận diện hộ nghèo; góp phần cải thiện tình trạng cưỡng bức thoát nghèo hay “chạy công nhận hộ nghèo”, tăng động lực giảm nghèo lành mạnh, thực chất và bền vững hơn, đáp ứng được nhu cầu người dân và mang tính hội nhập với các chuẩn mực chung của khu vực và thế giới cao hơn…
 

(Tạp chí Ngân hàng số 1, tháng 1/2016)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 752 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.017 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 891 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 1.436 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.181 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.077 lượt xem
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.120 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 2.578 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 1.693 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 1.979 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 5.757 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.274 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.136 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 1.766 lượt xem
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 1.663 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

74.500

77.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

74.500

77.500

Vàng SJC 5c

74.500

77.520

Vàng nhẫn 9999

63.400

64.700

Vàng nữ trang 9999

63.100

64.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,330 24,700 25,777 27,192 30,165 31,449 158.62 167.89
BIDV 24,380 24,690 25,962 27,169 30,297 31,455 159.71 168.14
VietinBank 24,290 24,710 26,000 27,195 30,584 31,594 160.24 168.19
Agribank 24,320 24,670 25,943 26,957 30,363 31,342 160.38 165.98
Eximbank 24,300 24,690 26,040 26,870 30,446 31,417 160.82 165.95
ACB 24,330 24,680 26,090 26,742 30,662 31,302 160.72 165.89
Sacombank 24,330 24,795 26,208 26,773 30,767 31,257 161.56 166.6
Techcombank 24,358 24,704 25,849 27,190 30,175 31,503 156.87 169.29
LPBank 24,120 25,030 25,976 27,305 30,612 31,554 159.02 170.51
DongA Bank 24,370 24,670 26,070 26,720 30,520 31,320 158.80 165.80
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?