Đánh giá hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam
14/07/2023 4.773 lượt xem
Tóm tắt: Phát triển một hệ thống tài chính toàn diện, đáp ứng nhu cầu của tất cả các cá nhân trong xã hội là mục tiêu mà bất kì nền kinh tế nào cũng muốn hướng tới. Chính vì vậy, vào khoảng thế kỉ thứ 17, tài chính vi mô được ra đời nhằm giúp người nghèo dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ tài chính. Mặc dù đã trải qua hơn ba thập kỉ hình thành và phát triển tại Việt Nam, hoạt động tài chính vi mô ở nước ta phát triển còn khá chậm, chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của các cơ quan quản lí nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, nhà tài trợ và các bên liên quan. Mục tiêu của bài viết là tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của các tổ chức này.
 
Từ khóa: Tổ chức tài chính vi mô, hoạt động kinh doanh tổ chức tài chính vi mô, Việt Nam.
 
ASSESSMENT OF BUSINESS ACTIVITIES OF OFFICIAL MICROFINANCE INSTITUTIONS IN VIETNAM
 
Abstract: Developing a comprehensive financial system that meets the needs of all individuals in society is a goal that any economies want to achieve. Therefore, around the 17th century, microfinance was born to help the poor easily access financial services. Despite more than three decades of establishment and development, microfinance activities in Vietnam still develop slowly and have not yet attracted much attention from management agencies, social organizations and individuals. The purpose of the article is to assess the current status of business activities of official microfinance institutions in Vietnam, thereby giving some suggestions to develop their business activities.
 
Keywords: Microfinance institutions, business activities of microfinance institutions, Vietnam.
 
1. Hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô
 
Khoản 5 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”.
 
Theo Ledgerwood (1998), tổ chức tài chính vi mô bên cạnh nhiệm vụ trung gian tài chính thì còn đảm nhận một vai trò vô cùng quan trọng là làm trung gian xã hội. Về khía cạnh kinh tế: Tổ chức tài chính vi mô giúp khách hàng có thu nhập thấp trong xã hội có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính cơ bản như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, qua đó, những người yếu thế có thêm cơ hội để tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, gia tăng thu nhập và giảm đói nghèo. Về khía cạnh xã hội: Tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ phi tài chính nhằm nâng cao sức khỏe, ý thức cũng như kĩ năng của người có thu nhập thấp nhằm giúp khách hàng tự tin hòa nhập tốt hơn vào các hoạt động kinh tế và xã hội trong cộng đồng.
 
Cũng theo Ledgerwood (1998), hoạt động tài chính vi mô được cung ứng bởi rất nhiều đơn vị khác nhau. Dựa vào khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực tài chính, có thể sắp xếp các đơn vị tham gia cung ứng dịch vụ tài chính vi mô thành ba khu vực: Khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực không (phi) chính thức. Tổ chức tài chính vi mô chính thức bao gồm: Các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép. Tổ chức tài chính vi mô bán chính thức bao gồm: Tổ chức tài chính vi mô chưa được cấp phép, các chương trình, dự án của tổ chức phi chính phủ (Non-governmental organization - NGO)… Tổ chức tài chính vi mô không chính thức là tổ chức do một nhóm người đứng ra tổ chức góp vốn cho vay luân phiên nhau để giải quyết khó khăn trong đời sống với mục tiêu tương trợ gọi là hụi, họ... Loại hình tín dụng này không quy định phải đăng kí tại bất kì cơ quan quản lí nhà nước nào và cũng không có cơ quan nào được giao trách nhiệm quản lí.
 
Các dịch vụ tài chính vi mô bao gồm: Dịch vụ tín dụng vi mô, dịch vụ tiết kiệm vi mô, bảo hiểm vi mô, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ phi tài chính khác. Dịch vụ tín dụng vi mô là hoạt động cung ứng tín dụng chủ yếu cho khách hàng tài chính vi mô dưới nhiều hình thức cho vay khác nhau: Cho vay cá thể, cho vay theo nhóm tương hỗ và cho vay gián tiếp theo nhóm tương hỗ qua trung gian thứ ba. Dịch vụ tiết kiệm vi mô nhằm huy động các nguồn vốn nhỏ, lẻ cho các tổ chức tài chính vi mô dưới góc độ đóng góp của khách hàng thông qua các hình thức tiết kiệm bắt buộc, tiết kiệm tự nguyện và tiết kiệm của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Dịch vụ bảo hiểm vi mô bao gồm bảo hiểm về cuộc sống, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm hỗn hợp. Dịch vụ thanh toán được các tổ chức tài chính vi mô đưa ra khi cung cấp dịch vụ tiết kiệm (tức là khách hàng có các tài khoản tại tổ chức tài chính vi mô để thực hiện các giao dịch thanh toán). Ngoài ra, các tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ phi tài chính cho khách hàng vi mô như dịch vụ tư vấn kĩ thuật nông nghiệp cho vùng nông thôn.
 
2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
 
Các tổ chức tài chính vi mô chính thức trong bài viết bao gồm các tổ chức tài chính vi mô được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cấp phép thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Tính đến hết quý I/2023, tại Việt Nam, đã có 04 tổ chức tài chính vi mô được cấp phép là: Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên (MTV) Tình thương (TYM); Tổ chức tài chính vi mô TNHH M7 (M7); Tổ chức tài chính vi mô TNHH Thanh Hóa (Thanh Hóa) và Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) với năm được cấp giấy phép thành lập lần lượt là 2010, 2012, 2014 và 2016. (Bảng 1)

Bảng 1: Thông tin về các tổ chức tài chính vi mô đã cấp phép
 
Nguồn: Website của NHNN cập nhật đến ngày 31/3/2023
 
Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu từ các báo cáo hoạt động về tài chính vi mô của các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô nhằm phân tích thực trạng phát triển hoạt động tài chính vi mô. Nguồn dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ Danh bạ các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam, được phát hành bởi Trung tâm Tư vấn nguồn lực Tài chính vi mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa (tiền thân là Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam) từ năm 2013 đến năm 2017 của 04 tổ chức M7, TYM, Thanh Hóa, CEP; báo cáo hoạt động hằng năm của TYM và CEP năm 2018 đến năm 2022; 02 tổ chức M7 và Thanh Hóa không công bố dữ liệu hoạt động kinh doanh.
 
3. Kết quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
 
Với mục tiêu toàn diện hơn hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô, nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là phân khúc người nghèo, người có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ được tiếp cận và sử dụng vốn an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp nhu cầu với chi phí hợp lí, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô như: Năm 2010, lần đầu tiên hoạt động tài chính vi mô được đưa vào phạm vi điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng. Ngày 06/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2195/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020. Tiếp đó, ngày 12/6/2017, Thủ tướng Chính phủ cũng đã kí ban hành Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg quy định về hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ. Ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 149/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Sự ra đời của các văn bản này được đánh giá là một bước tiến vượt bậc trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lí cho hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô chính thức.

Bảng 2: Dư nợ tín dụng của các tổ chức tài chính vi mô chính thức
Đơn vị tính: Tỉ đồng

Nguồn: Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam (2013 - 2017); CEP và TYM (2018 - 2022) 
 
Từ Bảng 2, có thể thấy, các tổ chức tài chính vi mô sau khi cấp phép có nhiều khả năng phát triển, mở rộng phạm vi hoạt động và khách hàng thông qua việc gia tăng nguồn vốn kinh doanh với hoạt động tín dụng là chủ yếu. Hoạt động tín dụng của các tổ chức tài chính vi mô chính thức có sự tăng trưởng về quy mô với giá trị dư nợ tín dụng năm sau cao hơn năm trước. Kết quả này đã phản ánh hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô chính thức dần đi vào ổn định. 
 
Theo quy định hiện hành, chỉ có những tổ chức tài chính vi mô chính thức mới được phép huy động tiền gửi tiết kiệm tự nguyện từ khách hàng (Bảng 3). Mặc dù là tổ chức chính thức được cấp phép muộn hơn các tổ chức khác, nhưng CEP lại là tổ chức có quy mô tiết kiệm cao nhất, đạt 1.554,6 tỉ đồng năm 2017, chiếm gần 60% tổng quy mô tiết kiệm của các tổ chức tài chính vi mô chính thức. Là một tổ chức có uy tín cao về thương hiệu với trọng tâm giảm nghèo mạnh mẽ, hơn nữa CEP là tổ chức có tính minh bạch cao và hoạt động theo các tiêu chuẩn quốc tế, tất cả các thông tin và các báo cáo đều được công khai trên trang web của CEP. Những điều này đã mang lại những lợi thế cho CEP trong huy động tiết kiệm tự nguyện từ khách hàng. Quy mô huy động vốn của TYM, M7, Thanh Hóa có sự tăng trưởng hằng năm nhưng có thể nhận thấy là quy mô tiết kiệm còn khá khiêm tốn, thấp hơn so với các loại hình tổ chức tín dụng khác. Trong điều kiện các nguồn vốn ủy thác hoặc vay ưu đãi ngày càng thu hẹp thì phát triển vốn huy động là một trong những thách thức đặt ra đối với các tổ chức tài chính vi mô chính thức. 
 
Bảng 3: Quy mô tiết kiệm của các tổ chức tài chính vi mô chính thức
Đơn vị tính: Tỉ đồng

Nguồn: Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam (2013 - 2017); CEP và TYM (2018 - 2022)
 
Chỉ số tự vững hoạt động (Operational Self-Sufficiency - OSS) thể hiện mối quan hệ giữa thu nhập hoạt động và tổng chi phí hoạt động (gồm cả khấu hao và dự phòng rủi ro) thường được các nhà quản lí của tổ chức tài chính vi mô và các nhà tài trợ dùng để đánh giá xem tổ chức tài chính vi mô đó đã tự trang trải được các chi phí hoạt động bằng thu nhập từ hoạt động hay chưa. Nếu OSS > 100%, tổ chức tài chính vi mô được đánh giá là đảm bảo bền vững về hoạt động. Tuy nhiên, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB), để đạt bền vững hoạt động lâu dài thì tổ chức tài chính vi mô được đánh giá là có mức độ bền vững về hoạt động khi OSS > 120%. 
 
Từ số liệu về chỉ số bền vững hoạt động của 04 tổ chức tài chính vi mô chính thức cho thấy, có sự đảm bảo bền vững hoạt động, chỉ số OSS đều lớn hơn 100% (Bảng 4). Kết quả này hàm ý rằng nguồn thu nhập từ các tổ chức này đã đủ để trang trải toàn bộ chi phí hoạt động và có nguồn lợi nhuận giữ lại để có thể gia tăng nguồn vốn hoạt động. Nếu đánh giá theo tiêu chí các tổ chức đạt được sự bền vững hoạt động trong dài hạn khi tỉ số OSS > 120%, thì trong số 04 tổ chức tài chính vi mô chính thức chỉ có TYM và CEP đạt được sự bền vững hoạt động trong dài hạn và đạt được sự ổn định.
 
Bên cạnh những kết quả đạt được như trên, các tổ chức tài chính vi mô chính thức còn một số hạn chế về hiệu quả hoạt động kinh doanh như: (i) Các tổ chức quy mô trung bình chưa đảm bảo khả năng tự vững hoạt động trong dài hạn theo tiêu chuẩn của WB; (ii) Địa bàn và quy mô hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô còn khiêm tốn, chưa mở rộng phạm vi ở miền Trung; (iii) Một số tổ chức tài chính vi mô chưa thực hiện việc minh bạch hóa thông tin bằng cách công bố các thông tin, báo cáo tài chính thường xuyên, chỉ có CEP là công bố đầy đủ báo cáo; (iv) Sản phẩm, dịch vụ chưa đa dạng, hầu như tập trung vào cho vay; (v) Nguồn vốn hoạt động còn hạn chế. 
 
Những tồn tại này xuất phát từ công tác quản trị, điều hành của tổ chức tài chính vi mô cũng như các nhân tố bên ngoài tổ chức tài chính vi mô như: Môi trường pháp lí vẫn chưa thật sự phù hợp với đặc trưng của loại hình đặc thù này, môi trường công nghệ đòi hỏi các tổ chức tài chính vi mô chính thức cần tăng cường ứng dụng công nghệ để đưa dịch vụ tài chính đến những vùng sâu, vùng xa; sự phát triển của hệ thống ngân hàng đã trở thành đối thủ cạnh tranh đáng kể của các tổ chức tài chính vi mô.
 
4. Một số khuyến nghị
 
Các tổ chức, chương trình, dự án tài chính vi mô đã cho thấy vai trò tích cực trong xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sức khỏe, giáo dục, nâng cao vai trò, vị thế của người có thu nhập thấp cũng như giảm thiểu tín dụng đen trong xã hội. Nhằm phát triển hoạt động tài chính vi mô để góp thêm một kênh cung cấp vốn sản xuất, kinh doanh cho khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, qua đó, đóng góp cho sự phát triển của tài chính toàn diện tại Việt Nam, một số khuyến nghị được đề xuất như sau:
 
Đối với các cơ quan quản lí Nhà nước
 
Sửa đổi các quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô, tạo điều kiện phát triển chương trình, dự án tài chính vi mô theo hướng bền vững hơn. Căn cứ theo khoản 5 Điều 32 Thông tư số 03/2018/TT-NHNN ngày 23/02/2018 của Thống đốc NHNN quy định về cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô thì tổng dư nợ cho vay của tổ chức tài chính vi mô đối với một khách hàng không được vượt quá 100 triệu đồng thì mức vay này được đánh giá còn khá khiêm tốn với mục tiêu toàn diện hóa đối tượng. Thông tư số 03/2018/TT-NHNN cũng không quy định đối tượng khách hàng tài chính vi mô bao gồm người “có thu nhập thấp” như quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 dẫn tới khó khăn cho các tổ chức tài chính vi mô trong mở rộng đối tượng phục vụ.
 
Cần sự hỗ trợ từ các bộ, ban, ngành để có các kế hoạch phân bổ ngân sách hằng năm cho hoạt động của các tổ chức, chương trình tài chính vi mô; cần có chính sách hấp dẫn kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào hoạt động tài chính vi mô; có chính sách vận động đầu tư cho phát triển xã hội từ các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm… nhằm nâng cao năng lực tài chính các tổ chức tài chính vi mô.
 
NHNN tạo điều kiện, cho phép các tổ chức tài chính vi mô mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, đặc biệt tổ chức tài chính vi mô có ứng dụng Core Banking nhằm mở rộng kênh phân phối dựa trên nền tảng công nghệ được phát huy hiệu quả. 
 
Đối với các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
 
Nên mở rộng phạm vi hoạt động để tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính vi mô cho người dân, đặc biệt tại các khu vực nông thôn và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện tại, chỉ có 04 tổ chức tài chính vi mô chính thức, các tổ chức tài chính vi mô này chủ yếu hoạt động ở miền Bắc và miền Nam. 
 
Cần nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm vi mô nhằm đáp ứng được nhiều nhu cầu của khách hàng. Các sản phẩm, dịch vụ hầu như tập trung vào cho vay với mục đích sử dụng chủ yếu cho sản xuất, kinh doanh mà chưa thật sự quan tâm nhiều đến phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng. Sản phẩm cho vay cần đa dạng về kì hạn, phương thức trả lãi, cách thức tính lãi có thể theo thời hạn dưới một tháng như hằng tuần hay nửa tháng. 
 
Các tổ chức tài chính vi mô chính thức có thể nghiên cứu để triển khai dịch vụ tài chính qua điện thoại di động, hợp tác với các tổ chức tín dụng và công ty Fintech để gia tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính cho người dân.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
 
1. CEP, Báo cáo hoạt động và Báo cáo tài chính năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022.
2. Ledgerwood, J., Microfinance handbook: An institutional and financial perspective, The World Bank, 1998.
3. Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam, Danh bạ tài chính vi mô Việt Nam, 2018.
4. Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam, Báo cáo hoạt động các năm 2019, 2020.
5. NHNN, Thông tư số 03/2018/TT-NHNN ngày 23/02/2018 quy định về cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô.
6. Quốc hội, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.  
7. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020.
8. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg ngày 12/6/2017 quy định về hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ.
9. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
10. TYM, Báo cáo hoạt động các năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022.


TS. Huỳnh Thị Hương Thảo
ThS. Võ Thị Thúy Hằng
ThS. Phan Thị Thu Hằng

Khoa Tài chính Kế toán - Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam
Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam
30/05/2024 225 lượt xem
Để đảm bảo phát triển bền vững kinh tế biển, cần có chiến lược khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường biển.
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho tài chính xanh, tín dụng xanh trong các ngân hàng tại Việt Nam
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho tài chính xanh, tín dụng xanh trong các ngân hàng tại Việt Nam
23/05/2024 626 lượt xem
Bài viết đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng tài chính tín dụng xanh tại Việt Nam. Đối với hệ thống pháp luật, các quy định, định nghĩa cụ thể về các danh mục, ngành, lĩnh vực xanh vẫn chưa được thống nhất để có thể áp dụng chung trên cả nước.
Bức tranh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024: Động lực bứt phá khỏi những giới hạn
Bức tranh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024: Động lực bứt phá khỏi những giới hạn
21/05/2024 635 lượt xem
Bối cảnh vĩ mô toàn cầu những tháng đầu năm 2024 là một bức tranh phức tạp, đan xen giữa những bất ổn còn dai dẳng và những triển vọng mới tích cực...
Các bước chuẩn bị để đàm phán hợp đồng trong kinh doanh
Các bước chuẩn bị để đàm phán hợp đồng trong kinh doanh
17/05/2024 951 lượt xem
Đàm phán hợp đồng trong hoạt động kinh doanh là một quy trình gồm nhiều bước trong đó có bước chuẩn bị đàm phán. Đây là một bước có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả của đàm phán trong nhiều trường hợp. Phạm vi các bước chuẩn bị khá rộng và có thể thay đổi theo từng hợp đồng cần đàm phán. Tuy nhiên, một số yếu tố liên quan đến giai đoạn này có thể áp dụng chung cho phần lớn các hợp đồng, trong đó có cả các hợp đồng được xác lập trong lĩnh vực ngân hàng.
Thúc đẩy tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
Thúc đẩy tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
15/05/2024 836 lượt xem
Tài chính toàn diện ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển, ổn định kinh tế của mỗi quốc gia. Nghiên cứu thực hiện phân tích thực trạng thúc đẩy tài chính toàn diện tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) trên các góc độ: Nhà cung cấp dịch vụ (NHCSXH); người sử dụng dịch vụ (khách hàng của NHCSXH) và một số nhân tố khác.
Lạm phát Việt Nam năm 2023 - 2024 và một số khuyến nghị
Lạm phát Việt Nam năm 2023 - 2024 và một số khuyến nghị
11/05/2024 3.739 lượt xem
Kinh tế Việt Nam năm 2023 và các tháng đầu năm 2024 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức, đã tác động tiêu cực tới quá trình phục hồi, phát triển kinh tế và ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
Thực tiễn báo cáo ESG của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Thực tiễn báo cáo ESG của hệ thống ngân hàng Việt Nam
06/05/2024 1.531 lượt xem
Bài viết này đánh giá thực trạng ngân hàng trong việc thực thi phát triển bền vững và công bố báo cáo ESG (môi trường, xã hội, quản trị), từ đó, đưa ra một số khuyến nghị điều chỉnh để hệ thống ngân hàng Việt Nam thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao trong hành trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 của Việt Nam.
Dự đoán rủi ro tín dụng sử dụng học sâu
Dự đoán rủi ro tín dụng sử dụng học sâu
03/05/2024 922 lượt xem
Việc đánh giá và dự đoán khả năng trả nợ của khách hàng là rất quan trọng để ngân hàng giảm thiểu rủi ro. Vì lí do này, các ngân hàng thường xây dựng hệ thống xử lí yêu cầu cho vay dựa trên tình trạng của khách hàng, chẳng hạn như tình trạng việc làm, lịch sử tín dụng...
Tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
01/05/2024 955 lượt xem
Một mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng là tìm kiếm lợi ích cho cổ đông. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng thương mại (NHTM) cũng là một nhân tố hình thành các hoạt động xã hội với những cá nhân và tổ chức liên quan, tạo nên mối liên kết với các chủ thể trong nền kinh tế.
Nâng cao hiệu quả quản lý gian lận số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nâng cao hiệu quả quản lý gian lận số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
24/04/2024 1.248 lượt xem
Thời gian qua, quá trình số hóa diễn ra liên tục và mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và đã mang lại những lợi ích đáng kể cho sự ổn định của khu vực tài chính nói riêng, sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Nhờ quá trình này mà các tổ chức tài chính có khả năng cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, ngân hàng với chi phí thấp hơn, giúp nâng cao trải nghiệm và khả năng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ của khách hàng, tăng cường minh bạch trong giao dịch tài chính và phản ứng nhanh chóng với các cuộc khủng hoảng.
Chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức, doanh nghiệp - định hướng  phát triển trong thời đại 4.0
Chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức, doanh nghiệp - định hướng phát triển trong thời đại 4.0
23/04/2024 931 lượt xem
Dữ liệu đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp. Việc chia sẻ dữ liệu mở ra những cơ hội mới, tạo thêm nhiều giá trị, đồng thời góp phần bồi đắp kho dữ liệu hiện có, khai phá tiềm năng tối ưu hóa và đổi mới mô hình kinh doanh.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đám bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đám bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
19/04/2024 0 lượt xem
Do nhu cầu tài chính phục vụ cho quá trình chuyển đổi của các doanh nghiệp ngày càng cao nên thị trường tín dụng liên kết bền vững toàn cầu tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Việt Nam cần nhanh chóng thúc đẩy và mở rộng hoạt động cho vay nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp ở đa dạng ngành, nghề thực hiện chiến lược phát triển bền vững.
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
Thực hiện tăng trưởng xanh - Tiền đề cho phát triển bền vững của Việt Nam
12/04/2024 2.205 lượt xem
Phát triển bền vững đang là mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai, theo đó tăng trưởng xanh với sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường chính là tiền đề để thực hiện mục tiêu này.
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
Thúc đẩy tín dụng liên kết bền vững đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và phát triển bền vững ở Việt Nam
10/04/2024 1.570 lượt xem
Bài viết đề xuất một số khuyến nghị về xây dựng, thực thi chính sách tín dụng liên kết bền vững để góp phần đảm bảo tiến độ thực hiện cam kết Net-Zero Carbon và chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam...
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thực tiễn triển khai ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
05/04/2024 1.933 lượt xem
Nghiên cứu trình bày về tầm quan trọng của ESG (Environmental - môi trường, Social - xã hội, Governance - quản trị) trong quá trình phát triển bền vững của ngân hàng, thực tiễn triển khai các hoạt động về ESG, các kết quả đạt được và thách thức, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy triển khai ESG trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

84.500

88.000

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

84.500

88.000

Vàng SJC 5c

84.500

88.020

Vàng nhẫn 9999

74.650

76.250

Vàng nữ trang 9999

74.750

75.650


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,251 25,481 26,917 28,392 31,612 32,956 157.54 166.74
BIDV 25,281 25,481 27,121 28,371 31,877 32,943 158.34 166.78
VietinBank 25,254 25,481 27,162 28,457 32,051 33,061 159.08 167.03
Agribank 25,300 25,481 27,086 28,384 31,759 32,919 158.56 166.34
Eximbank 25,230 25,481 27,167 28,089 31,959 32,944 159.71 165.13
ACB 25,250 25,481 27,142 28,073 31,994 32,958 159.03 165.3
Sacombank 25,250 25,481 27,300 28,124 32,176 32,894 160.4 165.41
Techcombank 25,245 25,481 27,003 28,366 31,649 32,987 155.77 168.19
LPBank 25,061 25,481 26,945 28,577 32,090 32,952 158.01 168.52
DongA Bank 25,290 25,481 27,160 28,070 31,890 33,010 157.30 165.50
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,30
3,60
4,30
4,40
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,10
2,10
2,30
3,40
3,45
4,30
4,30
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
2,90
3,10
3,20
4,00
4,00
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?