Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của các nước trên thế giới nhằm ứng phó với đại dịch Covid-19 và hàm ý chính sách
26/11/2021 10.040 lượt xem
Đại dịch Covid-19 đã tác động rất lớn đến nền kinh tế và xã hội các nước vào năm 2020 và năm 2021...
 
Tóm tắt: Đại dịch Covid-19 đã tác động rất lớn đến nền kinh tế và xã hội các nước vào năm 2020 và năm 2021. Kinh nghiệm rút ra từ kết quả nghiên cứu 87 nước trên thế giới, gồm 39 nước thu nhập cao (nước phát triển), trong đó 24 nước ở châu Âu và 15 nước ngoài châu Âu (châu Á, châu Mỹ, châu Đại Dương) và 48 nước thu nhập trung bình ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, đóng góp hơn 95% vào kinh tế thế giới và chiếm hơn 80% dân số thế giới, được trình bày trong bài viết về việc thực hiện các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để đối phó với đại dịch Covid-19 có ý nghĩa tham khảo tốt cho Việt Nam. 
 
1. Hậu quả của đại dịch Covid-19 với kinh tế thế giới
 
Tác động của đại dịch Covid-19 đối với tăng trưởng thế giới là rất nặng nề. Theo số liệu của IMF, GDP thế giới năm 2019 là 87.345 tỷ USD. Năm 2020, khi đại dịch Covid-19 xuất hiện, GDP thế giới đã giảm xuống còn 84.537 tỷ USD, mức giảm là -3,21%GDP, lớn hơn toàn bộ GDP của Ấn Độ so với thế giới năm 2020 là 3,1%. Liên hợp quốc dự báo, đại dịch Covid-19 sẽ đẩy số lượng người thất nghiệp trên toàn thế giới lên hơn 200 triệu người vào năm 2022. Tác động của đại dịch Covid-19 được dự báo sẽ kéo dài chứ không dừng lại ở năm 2022. Theo dự báo của IMF, GDP thế giới năm 2024 sẽ thấp hơn 3% (6% đối với các quốc gia thu nhập thấp) so với trường hợp không có đại dịch Covid-19.
 
2. Các nước đã ứng phó với đại dịch Covid-19 bằng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ như thế nào?
 
Khi đại dịch Covid-19 xảy ra, các biện pháp y tế đã được triển khai đầu tiên: Xét nghiệm, cách ly, điều trị với quy mô ngày càng tăng. Đồng thời, các biện pháp phòng dịch cũng được triển khai với nhiều mức độ khác nhau: đeo khẩu trang, khử khuẩn, giãn cách xã hội, hạn chế đi lại, cách ly xã hội, tiêm vắc-xin. Việc thực hiện các biện pháp như hạn chế đi lại, cách ly xã hội, cấm xuất nhập cảnh, đóng cửa các cơ sở dịch vụ đã làm hàng tỷ người trên thế giới bị giảm hoặc mất thu nhập, hàng trăm triệu người thiếu ăn, hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ngừng trệ, các chuỗi cung ứng nội địa và toàn cầu bị đứt gãy, kinh tế của đại đa số các nước bị suy giảm tăng trưởng rồi rơi vào suy thoái, kinh tế toàn cầu cũng suy giảm.
 
Nghiên cứu của chúng tôi tại 87 nước thu nhập cao và trung bình chiếm hơn 95% GDP thế giới và 80% dân số thế giới cho thấy, mức tăng trưởng kinh tế trung bình năm 2020 của những quốc gia này là -7%. Khi dự báo kinh tế sẽ suy giảm mạnh bởi đại dịch Covid-19 với các hậu quả về kinh tế và xã hội, Chính phủ các nước này lập tức triển khai các giải pháp tiền tệ và tài chính công với quy mô rất lớn, để đảm bảo đời sống cho người dân, giúp doanh nghiệp tránh phá sản, duy trì hệ thống y tế, giáo dục phù hợp với tình hình dịch. 
 
Những biện pháp về chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của các nước để đối phó với đại dịch Covid-19 thể hiện nhiều sự tương đồng và một số khác biệt đặc thù có thể được minh họa bởi 4 nước: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh như trong Bảng 1.

 
Thông qua chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của các nước, có thể thấy rõ trong điều kiện suy giảm kinh tế kéo dài, doanh nghiệp phải ngừng sản xuất, kinh doanh, người lao động mất việc làm, mất thu nhập, các giải pháp tiền tệ và tài khóa của các Chính phủ có nhiều nét tương đồng, mặc dù, quy mô và tính chất có khác nhau, tập trung vào hỗ trợ 07 đối tượng sau:
 
Thứ nhất, hỗ trợ người lao động bị mất và giảm việc làm, để họ có thể sống được và tiếp tục gắn bó với các doanh nghiệp mà họ đang làm việc.
 
Thứ hai, hỗ trợ các doanh nghiệp, từ quy mô lớn (Hàng không) đến các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (người tự kinh doanh, hộ nông dân) để họ không bị phá sản (không có khả năng trả nợ đến hạn, không trả được tiền thuê đất, thuê mặt bằng, không trả được tiền cho người lao động nghỉ ốm vì Covid-19, không có tiền để duy trì hoạt động vì không trả được tiền lương cho người lao động…) có đủ điều kiện tiếp tục sản xuất kinh doanh khi dịch bệnh giảm và kết thúc.
 
Thứ ba, hỗ trợ người dân (người đã nghỉ hưu, trẻ em, người không đi làm việc, người vô gia cư, người nuôi con nhỏ) có được thu nhập cần thiết để duy trì cuộc sống, nuôi dạy trẻ em, không bị tống ra khỏi nhà đang thuê vì không có khả năng trả tiền nhà.
 
Thứ tư, hỗ trợ ngành y tế và các nhân viên y tế để có thể mua sắm thiết bị, thuốc men, vật tư phục vụ chống dịch, hỗ trợ người trực tiếp làm công tác chống dịch.
 
Thứ năm, hỗ trợ các trường học để có kinh phí mua thiết bị, vật tư để phòng, chống dịch ở các nhà trường và tiền lương cho các giáo viên.
 
Thứ sáu, hỗ trợ các cơ sở văn hóa, các tổ chức hoạt động phúc lợi xã hội.
 
Thứ bảy, hỗ trợ chính quyền các bang, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có đủ ngân sách để phòng, chống dịch và duy trì các hoạt động khi thu ngân sách không đạt kế hoạch vì các đơn vị sản xuất kinh doanh phải ngừng hoạt động, người lao động không có lương đóng thuế thu nhập như bình thường. 
 
Nghiên cứu ứng xử của Chính phủ 87 nước có thu nhập cao ở châu Âu, ngoài châu Âu và có thu nhập trung bình trên thế giới trong việc sử dụng nợ công để đối phó với đại dịch Covid-19 cho thấy, họ đều hành động theo cùng một nguyên tắc có thể diễn đạt thành mô hình sử dụng nợ công làm nguồn lực tài chính công chủ yếu để khắc phục thiệt hại kinh tế, xã hội và phục hồi tăng trưởng như sau: (xem Hình 1)
 
Hình 1: Mô hình sử dụng nợ công làm nguồn lực tài chính công chủ yếu để ứng phó với đại dịch Covid- 9 của 87 nước
 

 
Trong mô hình này, khi tăng trưởng kinh tế của một nước giảm từ mức tăng trưởng TT2019 của năm 2019 xuống mức TT2020 của năm 2020 thì Chính phủ gia tăng nợ công rất mạnh, từ mức nợ công NC2019 của năm 2019 lên mức nợ công NC2020 của năm 2020, và năm 2021 có thể lên mức NC2021 cao hơn mức nợ công NC2020, để có nguồn lực cho các chính sách tài khóa, ngăn chặn suy giảm kinh tế năm 2020 và phục hồi tăng trưởng kinh tế năm 2021.
 
Trong 87 nước mà chúng tôi nghiên cứu có 24 nước (27,4%) chỉ tăng nợ công trong năm 2020, còn có đến 52 nước (chiếm gần 60%) tăng nợ công trong 2 năm liên tiếp, năm 2020 và năm 2021, để có đủ nguồn lực cho chính sách tài khóa của họ. Có 11 nước (12,6%) do kinh tế của họ đã suy giảm từ năm 2019 nên họ đã tăng nợ công từ năm 2019, sau đó tiếp tục tăng trong năm 2020, thậm chí có nước cả trong năm 2021 để khắc phục suy giảm và phục hồi tăng trưởng kinh tế. 
 
Số liệu tổng hợp 87 nước đã sử dụng nợ công thế nào để đối phó với đại dịch Covid-19, phục hồi tăng trưởng kinh tế, thể hiện ở Bảng 2.
Bảng 2: Suy giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng nợ công của 87 nước để ứng phó với đại dịch Covid-19 
 
 
3.  Kết luận và hàm ý chính sách 
 
Một là, 87 nước mà chúng tôi đã khảo sát gồm 39 nước thu nhập cao (nước phát triển), trong đó 24 nước ở châu Âu và 15 nước ngoài châu Âu (châu Á, châu Mỹ, châu Đại dương) và 48 nước thu nhập trung bình ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, đóng góp hơn 95% vào kinh tế thế giới và chiếm hơn 80% dân số thế giới. Vì vậy, hành vi ứng xử của 87 nước này đối với đại dịch Covid-19 về cách họ huy động nguồn lực chủ yếu của chính sách tài khóa từ nợ công có thể coi là có tính phổ biến, được sự đồng thuận cao của Chính phủ 87 nước là động lực kinh tế chủ yếu của thế giới. 
 
Hai là, khi xảy ra suy thoái kinh tế gây ra bởi đại dịch Covid-19 tất cả 87 nước đều tăng mạnh nợ công để có nguồn lực tài chính công cần thiết khắc phục suy giảm tăng trưởng, chăm lo cho người dân, doanh nghiệp, người lao động, chính quyền các địa phương và phục hồi tăng trưởng kinh tế, theo cùng một mô hình cơ bản. 
 
Ba là, mặc dù mức độ suy giảm tăng trưởng kinh tế năm 2020 của các nước là khác nhau, từ thấp nhất là -2,3% đến cao nhất là -15,6%; và mức độ gia tăng nợ công của các nước là khác nhau, từ nước thấp nhất là 4,5% GDP đến mức cao nhất là 20,4% GDP (xem Bảng 2), nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra: Hệ số tương quan giữa 1% giảm tăng trưởng kinh tế vì Covid-19 và gia tăng nợ công tính bằng % GDP, chúng tôi gọi là hệ số chi phí nợ công để khắc phục suy giảm tăng trưởng kinh tế, của các nước là khác nhau, song khá hội tụ quanh giá trị trung bình của mỗi nhóm nước, các giá trị này có tính đặc trưng cho mỗi nhóm nước. Việc khảo sát mối quan hệ của hệ số chi phí nợ công với dân số của mỗi nước sẽ cho ta các nhận xét sâu sắc hơn. Các giá trị này có thể được dùng để tham khảo khi quyết định sử dụng nợ công để ứng phó với các dịch bệnh lớn hoặc khủng hoảng kinh tế trong tương lai. Đối với đại dịch Covid-19, bình quân hệ số chi phí nợ công để khắc phục suy giảm tăng trưởng kinh tế của 87 nước trong mẫu nghiên cứu là 2. Tức là khi tăng trưởng kinh tế giảm 1% (năm 2020) thì nợ công được tăng với giá trị bằng 2% GDP để có nguồn lực tài chính công xử lý đại dịch Covid-19.
 
Bốn là, đối với Việt Nam, đại dịch Covid-19 khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 chỉ đạt 2,91% so với năm 2019, giảm 4,1% so với tăng trưởng kinh tế năm 2019, song, do quy định của Luật số 20/2017/QH14 (Luật Quản lý nợ công), Việt Nam không sử dụng nợ công để tạo nguồn lực tài chính công đối phó với suy giảm kinh tế và các vấn đề xã hội phát sinh do đại dịch. Tổng các nguồn kinh phí dự kiến được sử dụng cho phòng dịch và phục hồi tăng trưởng kinh tế là khoảng 2% GDP, giá trị đã giải ngân thực tế chỉ hơn 1% GDP. Theo kinh nghiệm của 87 nước trên thế giới trong mẫu khảo sát, trong đó có 48 nước thu nhập trung bình, thì Việt Nam là nước duy nhất trong 88 nước không sử dụng tăng nợ công để có thêm nguồn lực tài chính hỗ trợ khắc phục hậu quả của Covid-19. Giá trị mức hỗ trợ từ các nguồn khác bằng 2% GDP là rất nhỏ so với bình quân các nước thu nhập trung bình. Với suy giảm tăng trưởng khoảng 4% năm 2020 so với năm 2019, trước khi dịch bệnh xuất hiện như của Việt Nam, thì các nước sẽ tăng nợ công khoảng 6,76% GDP (hệ số chi phí nợ công trung bình là 1,69%) để có nguồn ngân sách chi hỗ trợ cho 07 loại đối tượng nêu trên (đối tượng được hỗ trợ ở Việt Nam hẹp hơn đáng kể so với các nước). Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2020 là 2,91%, dự kiến năm 2021 khoảng 2 - 2,5%, trong khi tất cả 87 nước chúng tôi đã khảo sát thì dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2021 đều cao hơn nhiều so với năm 2020, thậm chí khoảng 1/3 trong số đó cao hơn cả tăng trưởng kinh tế năm 2019, tức là trước khi có đại dịch Covid-19.
Tài liệu tham khảo:
 
1. Statista. “Global gross domestic product (GDP) at current prices from 1985 to 2026 https://www.statista.com/statistics/268750/global-gross-domestic-product-gdp/” Truy cập 18.10.2021.
 
2. United Nation. “COVID crisis to push global unemployment over 200 million mark in 2022 https://news.un.org/en/story/2021/06/1093182”. Truy cập 18.10.2021.
 
3. Brookings. “Social and economic impact of Covid-19 https://www.brookings.edu/research/social-and-economic-impact-of-covid-19/”. Truy cập 18.10.2021.
 
4. Investopedia. “International Covid-19 Stimulus and Relief https://www.investopedia.com/government-stimulus-and-relief-efforts-to-fight-the-covid-19-crisis-5113980” Truy cập 18.10.2021.
 
5. GS., TS. Nguyễn Thiện Nhân. “Đề xuất tăng 22 tỷ USD nợ công để đối phó đại dịch, phục hồi kinh tế, https://zingnews.vn/de-xuat-tang-22-ty-usd-no-cong-de-doi-pho-dai-dich-phuc-hoi-kinh-te-post1268643.html”. Truy cập 18.10.2021.

ThS. Nguyễn Thiện Đức 
Nghiên cứu sinh tại Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Hoạt động kinh doanh quốc tế tại Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả
Hoạt động kinh doanh quốc tế tại Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả
08/07/2024 1.295 lượt xem
Bài viết tập trung nghiên cứu, làm rõ thực trạng của hoạt động kinh doanh quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, trình bày những khó khăn và đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy hoạt động kinh doanh quốc tế tại Việt Nam trong thời gian tới.
Kinh nghiệm một số quốc gia về cơ chế giao dịch và hoạt động công bố thông tin trong giao dịch bán khống
Kinh nghiệm một số quốc gia về cơ chế giao dịch và hoạt động công bố thông tin trong giao dịch bán khống
03/07/2024 1.831 lượt xem
Mục tiêu của bài viết nhằm xem xét cơ chế giao dịch và hoạt động công bố thông tin trong giao dịch bán khống thông qua những quy định hiện hành tại một số quốc gia; qua đó, đưa ra các hàm ý đối với Việt Nam.
Thực trạng phát triển sản phẩm và dịch vụ tài chính số tại các quốc gia châu Á
Thực trạng phát triển sản phẩm và dịch vụ tài chính số tại các quốc gia châu Á
19/06/2024 2.459 lượt xem
Dựa trên dữ liệu được thu thập từ các báo cáo về tài chính toàn diện của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng tiếp cận các dịch vụ tài chính số tại 19 quốc gia châu Á từ phía chủ thể cung cấp và chủ thể tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ tài chính.
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tiền mã hóa của thế hệ Gen Z trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tiền mã hóa của thế hệ Gen Z trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
06/06/2024 3.318 lượt xem
Trong kỉ nguyên của công nghệ số, sự xuất hiện của một hình thức tiền tệ số hay tiền mã hóa là hoàn toàn cần thiết để đáp ứng sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ (Milutinovic, 2018). Tiền mã hóa sử dụng công nghệ mã hóa và chuỗi khối (Blockchain) để bảo đảm tính an toàn và bảo mật cho các giao dịch tài chính.
Các yếu tố mang lại thành công của một số ngân hàng phát triển nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam
Các yếu tố mang lại thành công của một số ngân hàng phát triển nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam
24/05/2024 4.188 lượt xem
Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) và Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB) là những định chế tài chính phát triển lớn, thành công trên thế giới...
Quốc tế hóa Nhân dân tệ và hợp tác tiền tệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN
Quốc tế hóa Nhân dân tệ và hợp tác tiền tệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN
20/05/2024 4.289 lượt xem
Đi đôi với phát triển kinh tế, Trung Quốc dần hình thành và triển khai chiến lược bài bản xây dựng và củng cố sức mạnh tài chính - tiền tệ với trọng tâm là phát triển CNY trở thành đồng tiền quốc tế...
Quản lí tiền mã hóa ở một số quốc gia - Kinh nghiệm và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam
Quản lí tiền mã hóa ở một số quốc gia - Kinh nghiệm và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam
16/05/2024 5.860 lượt xem
Trong kỉ nguyên của nền công nghiệp 4.0, tiền mã hóa là một ứng dụng tiêu biểu của công nghệ số Blockchain. Các loại tiền mã hóa xuất hiện là tất yếu trong quá trình phát triển của các hình thái tiền tệ, đem đến sự phát triển vượt bậc về thương mại điện tử và mở ra cho thị trường tài chính một trang mới.
Tác động của thực thi ESG đến hệ thống ngân hàng: Góc nhìn từ Việt Nam và tham chiếu thế giới
Tác động của thực thi ESG đến hệ thống ngân hàng: Góc nhìn từ Việt Nam và tham chiếu thế giới
08/05/2024 4.929 lượt xem
Trong những năm qua, đại dịch Covid-19 đã gây rất nhiều khó khăn, tổn thất về người, kinh tế cho các doanh nghiệp nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Tuy nhiên, thống kê cho thấy, doanh nghiệp nào theo đuổi chiến lược phát triển bền vững, công bố các chỉ tiêu ESG (Enviromental - môi trường, Social - xã hội, Governance - quản trị) trong nhiều năm qua luôn thu hút được sự đồng hành của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thực thi chính sách tín dụng nông thôn - Kinh nghiệm của Brazil
Thực thi chính sách tín dụng nông thôn - Kinh nghiệm của Brazil
16/04/2024 5.719 lượt xem
Chính sách tín dụng nông thôn (tín dụng nông thôn) ở Brazil là các chương trình cho vay nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, năng suất và đầu tư; nâng cao thu nhập của các trang trại và doanh nghiệp; nâng cao mức sống của người dân nông thôn.
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
04/04/2024 7.398 lượt xem
Bài viết phân tích, đánh giá một số kinh nghiệm quốc tế về cơ cấu thu NSNN bền vững thông qua bốn loại thuế, gồm: Thuế TNDN, thuế TNCN, thuế GTGT, thuế TTĐB. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị để hoàn thiện cơ cấu thu NSNN bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Phát triển Quỹ hưu trí tự nguyện tại doanh nghiệp - Một số kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Phát triển Quỹ hưu trí tự nguyện tại doanh nghiệp - Một số kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
21/03/2024 9.039 lượt xem
Hệ thống hưu trí là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội với hai hệ thống hưu trí bắt buộc và hệ thống hưu trí tự nguyện. Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển quỹ hưu trí tự nguyện tại doanh nghiệp ở các nước trên thế giới rất quan trọng nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Dự báo kinh tế thế giới năm 2024 vẫn còn nhiều khó khăn
Dự báo kinh tế thế giới năm 2024 vẫn còn nhiều khó khăn
19/03/2024 27.711 lượt xem
Năm 2023, kinh tế thế giới phục hồi yếu và không đồng đều giữa các nền kinh tế chủ chốt. Hoạt động sản xuất, từ sản lượng công nghiệp đến hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế đều giảm.
Ứng phó với các thách thức nhân khẩu học: Chiến lược thích ứng của ngành Ngân hàng và gợi ý đối với Việt Nam
Ứng phó với các thách thức nhân khẩu học: Chiến lược thích ứng của ngành Ngân hàng và gợi ý đối với Việt Nam
07/03/2024 10.149 lượt xem
Những thay đổi về nhân khẩu học toàn cầu, đặc biệt là xu hướng già hóa dân số đang đặt ra những thách thức và rủi ro lớn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Chính sách tiền tệ của Fed năm 2024 và một số khuyến nghị đối với Việt Nam
Chính sách tiền tệ của Fed năm 2024 và một số khuyến nghị đối với Việt Nam
03/03/2024 14.751 lượt xem
Sau gần hai năm thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát và đưa lạm phát của nền kinh tế Hoa Kỳ về gần lạm phát mục tiêu là 2%, trong năm 2024, dự kiến Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ có những thay đổi lớn trong điều hành chính sách tiền tệ.
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chương trình đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
15/02/2024 10.279 lượt xem
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng trong việc tăng cường và bảo vệ giá trị của tổ chức thông qua chức năng cung cấp sự đảm bảo, tư vấn khách quan, chuyên sâu và theo định hướng rủi ro.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

75.600

77.000

Vàng nữ trang 9999

75.500

76.600


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,127 25,477 26,885 28,360 31,917 33,274 156.80 165.96
BIDV 25,157 25,477 27,090 28,390 32,186 33,429 157.71 166.56
VietinBank 25,157 25,477 27,180 28,380 32,396 33,406 158.36 166.11
Agribank 25,160 25,477 27,065 28,310 32,089 33,255 157.73 165.80
Eximbank 25,130 25,476 27,140 27,981 32,273 33,175 158.91 163.85
ACB 25,140 25,477 27,136 28,068 32,329 33,306 158.59 164.86
Sacombank 25,190 25,477 27,338 28,340 32,507 33,217 159.66 164.69
Techcombank 25,132 25,477 27,000 28,353 31,994 33,324 155.51 167.92
LPBank 24,937 25,477 26,998 28,670 32,415 33,421 157.95 169.10
DongA Bank 25,180 25,477 27,140 28,010 32,200 33,300 156.60 164.60
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,30
3,60
4,30
4,40
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,60
2,60
2,90
3,80
3,80
4,50
4,50
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
2,00
2,00
2,30
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
2,90
3,10
3,20
4,00
4,00
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?