Sử dụng vốn ngân sách Nhà nước chi hỗ trợ chính sách đất đai - Thực trạng và giải pháp
08/03/2022 1.081 lượt xem
Nguồn lực đất đai của Việt Nam vào loại thấp nhất trên thế giới nếu tính theo đầu người. Với hơn 33,1 triệu ha đất tự nhiên, trong đó có gần 28 triệu ha đất nông nghiệp (bao gồm cả 13,2 triệu ha đất rừng phòng hộ và đất rừng có mục đích sử dụng đặc biệt), Việt Nam đứng thứ 156 trên thế giới và thứ 9 trong số các quốc gia ASEAN về diện tích đất theo đầu người. Ngày 31/10/2012, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (gọi tắt là Nghị quyết 19-NQ/TW).
 
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là công cụ tài chính của Nhà nước, phục vụ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trong từng thời kỳ, trong đó có thực hiện chính sách về đất đai. Nhằm hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai, Nhà nước thực hiện các chính sách: Thu thuế, chi NSNN trong các hoạt động như bồi thường giải phóng mặt bằng và các chính sách khác nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị thu hồi đất. Trong bài viết này, tác giả xin đề cập đến khía cạnh chi hỗ trợ từ NSNN trong công tác giải phóng mặt bằng; tái định cư; hỗ trợ vốn tái sản xuất; chuyển đổi, đào tạo việc làm mới và các khoản chi khác trong chính sách đất đai ở Việt Nam, đánh giá kết quả đạt được và những bất cập, hạn chế cần hoàn thiện, trên cơ sở đó, đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả vốn NSNN chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai hiện nay. 
 


Cần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn NSNN hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất
 
1. Kết quả đạt được của việc sử dụng vốn NSNN chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai tại Việt Nam
 
Sử dụng vốn NSNN chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai là quá trình sử dụng vốn NSNN đã được dự toán để thực hiện chính sách đất đai một cách hiệu quả.
 
Thực tế, thời gian qua, việc sử dụng vốn NSNN chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai đã đóng góp vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng có hiệu quả, đúng quy định pháp luật. Cụ thể: 
 
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng được nhiều tỉnh, thành phố xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Việc tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng trên địa bàn các tỉnh, thành phố có hiệu quả, đúng quy định pháp luật. Các văn bản pháp luật, chính sách về đất đai và thị trường bất động sản được ban hành đã từng bước xây dựng, hình thành và quản lý được thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất. Cơ chế xây dựng và quản lý giá trị quyền sử dụng đất, giá trị bất động sản gắn liền với đất được ban hành đã tạo hành lang pháp lý, môi trường kinh tế cho chi giải phòng mặt bằng và hỗ trợ người dân sau thu hồi đất.
 
Theo báo cáo công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại 42 tỉnh (Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau), sau triển khai thi hành Luật Đất đai, tổng diện tích đất đã thu hồi thực hiện các dự án đầu tư là trên 2,1 triệu ha (trong đó, khoảng 1.594.485,38 ha đất nông nghiệp, 591.787,73 ha đất phi nông nghiệp và 2.304,11 ha đất chưa sử dụng); thực hiện bồi thường bằng đất với diện tích 13 nghìn ha (trong đó, bồi thường bằng đất ở là 250,50 ha, bằng đất nông nghiệp là 12.636,63 ha và bằng đất phi nông nghiệp là 135,71 ha). 
 
Việc bồi thường tại các địa phương cho người có đất thu hồi chủ yếu được thực hiện theo hình thức chi trả bằng tiền. Đến nay, các tỉnh đã thực hiện chi trả bằng tiền với tổng số tiền hơn 46 nghìn tỷ đồng (trong đó, tiền bồi thường đất ở là 16.344,63 tỷ đồng, tiền bồi thường đất nông nghiệp là 25.282,70 tỷ đồng và tiền bồi thường đất phi nông nghiệp là 4.377,26 tỷ đồng). Đối với bồi thường tài sản gắn liền với đất có tổng số tiền gần 51,5 nghìn tỷ đồng (trong đó, tiền bồi thường nhà ở và công trình gắn liền với đất là 44.708,79 tỷ đồng), tiền hỗ trợ là 43.075,63 tỷ đồng (trong đó, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất là 9.069,47 tỷ đồng; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm gần 33.666 tỷ đồng; hỗ trợ tái định cư là 820,24,83 tỷ đồng và hỗ trợ khác là 3.279,64 tỷ đồng). Việc bố trí tái định cư tại các địa phương được thực hiện bằng việc giao đất ở hoặc nhà ở với tổng diện tích đất ở để bố trí tái định cư khoảng 567,40 ha cho 25.770 hộ gia đình, cá nhân (bình quân 220,18 m2/hộ) và diện tích nhà để bố trí tái định cư là 29.745 m2 cho 347 hộ gia đình, cá nhân. Đối với các hộ gia đình, cá nhân tự lo chỗ ở thì được Nhà nước hỗ trợ tiền để tự tìm chỗ ở tái định cư.
 
2. Những bất cập, hạn chế trong việc sử dụng vốn NSNN chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai tại Việt Nam
 
Bên cạnh kết quả đạt được nêu trên, thực tế công tác chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần hoàn thiện để đáp ứng được yêu cầu quản lý, đảm bảo quyền lợi và sự công bằng cho các đối tượng liên quan trong công tác quản lý đất đai, đặc biệt là công tác thu hồi đất, đền bù, giải phóng, mặt bằng,... thể hiện trên các khía cạnh sau:  
 
Thứ nhất, mức bồi thường bằng tiền khi Nhà nước thu hồi đất chưa thực sự phù hợp.
 
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, việc định giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xác định trên cơ sở “giá đất phổ biến trên thị trường”, tuy nhiên, để xác định một cách đầy đủ giá đất phổ biến trên thị trường trong điều kiện bình thường là việc rất khó khăn khi thị trường bất động sản chưa thực sự hoạt động công khai, minh bạch; các cơ quan quản lý Nhà nước gặp nhiều khó khăn trong thực hiện việc theo dõi, giám sát và tổng hợp được đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông tin giao dịch về quyền sử dụng đất trên từng địa bàn, nhất là đối với đất ở. Vấn đề thu hồi và đền bù giá đất không thỏa đáng cũng là nguyên nhân nảy sinh các “nhóm lợi ích” tiêu cực, khiến dư luận bức xúc. Dù việc xác định giá đất cụ thể được quy định do một tổ chức tư vấn độc lập đưa ra về giá đất thực hiện, nhưng hội đồng thẩm định giá lại do ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, là cơ quan có thẩm quyền xem xét và trình lên ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định. Đây chính là tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, khi ủy ban nhân dân cấp tỉnh vừa có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất, lại quyết định về giá đất cụ thể làm căn cứ tính tiền bồi thường về đất, đồng thời vừa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người bị thu hồi đất; như thế, ở mức độ nhất định, không bảo đảm tính khách quan. 
 
Thứ hai, về các chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
 
Luật Đất đai (Điều 83) đã quy định rõ về các chính sách hỗ trợ cho người sử dụng đất có đất bị thu hồi, nhưng trên thực tế, việc thực hiện được rất khó khăn, đặc biệt là trong chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Cụ thể, theo phản ánh của nhiều địa phương, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách cho người dân có đất bị thu hồi còn phát sinh vướng mắc như về chính sách hỗ trợ cho người dân để xác định, lựa chọn việc làm, lựa chọn hướng chuyển đổi nghề nghiệp, việc tổ chức đào tạo nghề đối với người dân bị thu hồi đất là rất khó; trên thực tế, nhiều hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất sản xuất không thực hiện được việc chuyển đổi ngành nghề, nhiều hộ gia đình, địa phương còn lúng túng trong việc xác định, lựa chọn ngành nghề để chuyển đổi.
 
Trong khi các cơ sở sản xuất kinh doanh nhiều địa bàn còn rất hạn chế trong việc tiếp nhận, tuyển dụng lao động của địa phương, nhất là các đối tượng bị thu hồi đất để thực hiện dự án khi dự án đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, số người trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất phần lớn là lao động phổ thông, trình độ kỹ thuật thấp, không đáp ứng được nhu cầu lao động trong môi trường công nghiệp hoặc lao động kỹ thuật cao.
 
Vấn đề tái định cư còn chậm, chưa được quan tâm. Khi thực hiện thu hồi đất ở, việc bố trí tái định cư còn nhiều hạn chế, chưa đảm bảo kịp thời chỗ ở cho người có đất bị thu hồi, các khu nhà ở tái định cư còn kém về chất lượng và hạn hẹp về diện tích. 
 
 Cơ chế hỗ trợ tiền thuê nhà ở (cho hộ kinh doanh, buôn bán), đơn giá bồi thường và cơ chế bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp vẫn còn thấp, nhất là khu vực đô thị; chưa có cơ chế hỗ trợ tích cực khi thu hồi đất nông nghiệp, đất ở của hộ gia đình có diện tích lớn, một bộ phận người dân chưa đồng thuận cao trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
 
Thứ ba, việc triển khai tổ chức chi đền bù giải phóng mặt bằng chưa có sự thống nhất, tạo sơ hở cho việc lợi dụng trong áp dụng chính sách giá đền bù giải phóng mặt bằng.
 
Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định cụ thể về công tác thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng, tuy nhiên, trên thực tế, công tác này khi thực hiện vẫn chưa tuân thủ được hoàn toàn theo quy định. Có nơi, có lúc còn xảy ra tình trạng cơ quan chức năng mập mờ trong quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện đã gây ra nhiều khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời gây ra nhiều bức xúc trong dư luận nhân dân. Công tác giải phóng mặt bằng vẫn là công việc có rất nhiều khó khăn, phức tạp và còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém, trong đó có việc triển khai tổ chức chi đền bù giải phóng mặt bằng chưa có sự thống nhất, tạo sơ hở cho việc lợi dụng việc áp dụng chính sách giá đền bù giải phóng mặt bằng. 
 
Thứ tư, trong triển khai tổ chức giải ngân đầu tư công còn chậm trễ gây bức xúc cho người dân trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng.
 
Về thu hồi đất, hiện nay, vướng mắc lớn nhất liên quan đến giải ngân đầu tư công. Thực tiễn cho thấy, nguyên nhân chủ yếu do khâu quản lý Nhà nước ở địa phương về đất đai; không có cơ sở dữ liệu; xác định giá trị đền bù giải phóng mặt bằng không hết; định giá không thống nhất… Theo quy định hiện nay, các doanh nghiệp đứng ra tự thỏa thuận đền bù là rất khó khăn; phải nghiên cứu vấn đề này nếu không sẽ rất vướng, kể cả trong đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài thì giải phóng mặt bằng, thu hồi đất rất khó.
 
Thứ năm, chưa quy định nguyên tắc thống nhất trong chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ.
 
Điều 93 Luật Đất đai năm 2013 là một quy định mới, đảm bảo quyền lợi của người có đất thu hồi trong nhận tiền bồi thường, hỗ trợ: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi”. Tuy nhiên, quy định chưa xác định rõ trách nhiệm hoàn tất việc chi trả trong thời gian trên hay có thể chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ thành nhiều đợt. 
 
Thứ sáu, chi giải phóng mặt bằng chưa đảm bảo lợi ích của Nhà nước, người dân và chủ đầu tư
 
Luật Đất đai cho phép áp dụng hai cơ chế thu hồi đất: Một là, Nhà nước thu hồi đất (chuyển dịch đất đai bắt buộc); hai là, tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất (chuyển dịch đất đai tự nguyện). 
 
Điều này tạo ra sự chênh lệch lớn về giá đất khi thu hồi và đền bù, tạo ra sự bất bình đẳng trong việc bồi thường cho người sử dụng đất, gây nên nhiều tranh chấp, khiếu kiện về đất đai. Đối với chuyển dịch đất đai bắt buộc, hệ quả tiêu cực là sự xung đột lợi ích dẫn đến tình trạng khiếu nại, khiếu kiện đông người ở mức độ cao (chiếm tới 70% tổng lượng khiếu nại, khiếu kiện).


Công khai và tuyên truyền sâu rộng cho người dân kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư phù hợp với từng địa phương, từng khu vực nhằm tạo sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ của người dân trong tổ chức thực hiện bồi thường, đền bù, giải phóng mặt bằng.
 
 
3. Một số giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả vốn NSNN chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai tại Việt Nam
 
3.1. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN chi bồi thường giải phóng mặt bằng
 
Nâng cao hiệu quả quản lý chặt chẽ quy trình chi NSNN cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất, bao gồm:
 
Thứ nhất, chi tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với khung giá đất phù hợp với nguyên tắc thị trường, đảm bảo quyền lợi và sinh kế của người dân sau thu hồi đất; áp dụng nguyên tắc đồng thuận theo đa số.
 
Chi bồi thường đền bù đất đai khi Nhà nước thu hồi đất cần đảm bảo và tuân thủ nguyên tắc khi Nhà nước lấy đất thì bồi thường bằng đất cùng loại, nếu không có đất cùng loại thì bồi thường bằng tiền với giá trị tương đương (coi đất đai là tài sản có thể được trả thay bằng tiền bồi thường để mua được một thửa đất tương đương) để đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cho người có đất bị thu hồi; hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi, nhà đầu tư thực hiện các dự án; hạn chế khiếu nại, tố cáo trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. 
 
Thứ hai, xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư phù hợp với từng địa phương, từng khu vực, nâng cao hiệu quả chi tổ chức thực hiện bồi thường, đền bù, giải phóng mặt bằng.
 
Để công tác chi tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, bao gồm Nhà nước, nhà đầu tư và người dân thì cần xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư phù hợp với từng địa phương, từng khu vực và tiếp cận quan điểm ngoài ý nghĩa là tài sản, đất đai còn là tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất và nguồn sống của con người. 
 
Bên cạnh đó, cần có một số cơ chế hỗ trợ tích cực khi thu hồi đất nông nghiệp, đất ở của hộ gia đình có diện tích lớn, một bộ phận người dân chưa đồng thuận cao trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Cần xây dựng giá đất tại khu tái định cư tương đối phù hợp so với giá đất bồi thường, nhất là khu vực nông thôn để đảm bảo công tác bố trí tái định cư, đảm bảo cho người dân ổn định cuộc sống. Đồng thời, có cơ chế hỗ trợ tiền thuê nhà ở (cho hộ kinh doanh, buôn bán), đơn giá bồi thường và cơ chế bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp phù hợp với giá thị trường, nhất là khu vực đô thị. 
 
Thứ ba, đẩy mạnh việc triển khai, rút ngắn thời gian thực hiện quy trình chi tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
 
Chi tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm ba giai đoạn: Lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất. Nhằm đẩy mạnh việc triển khai, rút ngắn thời gian thực hiện quy trình chi, tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì công tác lập dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; công tác cấp, phát, chi trả kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần được triển khai nhanh. 
 
Thứ tư, công khai và tuyên truyền sâu rộng cho người dân kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư phù hợp với từng địa phương, từng khu vực nhằm tạo sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ của người dân trong tổ chức thực hiện bồi thường, đền bù, giải phóng mặt bằng. 
 
Trong quá trình tham vấn lấy ý kiến của người bị thu hồi đất tại một số địa phương, Tổ chức Liên minh đất đai (LANDA) cho biết: Hầu hết ý kiến của người dân tại các địa phương tổ chức lấy ý kiến đều cho rằng, quá trình thực hiện thu hồi đất luôn thiếu minh bạch, người dân luôn bị đặt vào thế bị động, thậm chí là ép buộc di dời và mất chỗ ở. Số tiền mà có người được đền bù bồi thường, thậm chí không đủ để mua một suất ở tái định cư. Họ cũng mất cả sinh kế từ nông nghiệp mà gần như không có cơ hội tìm sinh kế mới. Do đó, cần công khai và tuyên truyền sâu rộng cho người dân kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư phù hợp với từng địa phương, từng khu vực nhằm tạo sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ của người dân trong tổ chức thực hiện bồi thường, đền bù, giải phóng mặt bằng. Đồng thời, cần thực hiện khảo sát lấy ý kiến của toàn bộ cộng đồng dân cư địa phương, không chỉ lấy ý kiến của người bị thu hồi đất để đảm bảo quyền lợi cho tất cả mọi người dân trên địa bàn. 
 
3.2. Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn NSNN hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất
 
Cần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn NSNN hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng. Cần bố trí đủ nguồn vốn để khi thực hiện thu hồi đất ở, việc bố trí tái định cư đảm bảo kịp thời chỗ ở cho người có đất bị thu hồi, các khu nhà ở tái định cư đảm bảo điều kiện sống ổn định. Đối với hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp, cần chi hỗ trợ cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp; các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp. Đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh thì chi hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền với mức cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó.
 
3.3. Sử dụng hiệu quả vốn NSNN hỗ trợ đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm
 
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng đối với người dân. Do đó, khi bị thu hồi đất thì việc hỗ trợ chuyển đổi việc làm là thực sự quan trọng. Giải quyết tốt được công tác này chính là ổn định tâm lý, xóa bỏ những bức xúc trong dư luận xã hội và tình trạng khiếu kiện kéo dài đối với công tác quản lý đất đai ở nhiều địa phương thời gian qua. 
 
Để thực hiện được mục tiêu hỗ trợ đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm cho người dân bị thu hồi đất thì nguồn vốn NSNN hỗ trợ cho hoạt động này cần được sử dụng hiệu quả, trong đó, cần chú trọng một số biện pháp 
như sau: 
 
- Cần có sự rà soát về trình độ tiếp cận nghề nghiệp mới, nhu cầu lao động của địa phương, lựa chọn và đưa ra yêu cầu đối với các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng để thực sự gắn công tác đào tạo nghề sát đúng với nhu cầu, yêu cầu về lao động của các đơn vị tuyển dụng, đảm bảo hiệu quả chi của các khoản hỗ trợ từ NSNN cho hỗ trợ đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm cho người dân bị thu hồi đất.
 
- Có cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả các khoản chi hỗ trợ đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm, đảm bảo người dân bị thu hồi đất có được một nghề đảm bảo cuộc sống của mình.
 
3.4. Xây dựng, quản lý, khai thác, vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu đất tại địa phương, cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tổng thể của quốc gia, theo vùng và theo yêu cầu quản lý 
 
Cùng với sự phát triển của công nghệ, trong thời đại công nghiệp 4.0 và kinh tế số, cũng như thực tiễn yêu cầu quản lý, hoàn thiện đối với công tác quản lý đất đai từ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN đối với chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai thì cơ sở dữ liệu đất tại địa phương, cơ sở dữ liệu quản lý đất đai có vai trò thực sự quan trọng. Đây có thể coi là yếu tố nền tảng để thực hiện nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý đất đai nói chung và sử dụng hiệu quả vốn NSNN nói riêng. Để thực hiện được yêu cầu nêu trên, cần xây dựng, quản lý, khai thác, vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu đất tại địa phương, cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tổng thể của quốc gia, theo vùng. Cụ thể:
 
- Các địa phương cần thực hiện thống kê, rà soát, đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai ở địa phương, sau khi hoàn thành phải đưa ngay vào vận hành khai thác để phục vụ công tác quản lý Nhà nước về đất đai; cung cấp dịch vụ thông tin, dữ liệu đất đai cho người dân, doanh nghiệp; sẵn sàng tích hợp, cập nhật vào cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, tránh lãng phí, đảm bảo hiệu quả đầu tư.
 
- Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đã và đang triển khai tại địa phương, các loại tài liệu phải đảm bảo chính xác phù hợp với hiện trạng đang sử dụng để tránh chồng chéo, lãng phí. Đồng thời, tổ chức rà soát, đánh giá, đảm bảo tính đầy đủ, tính pháp lý, tính chính xác của thông tin, tài liệu, dữ liệu đầu vào, tuân thủ đúng quy trình thu thập, phân loại, lựa chọn loại tài liệu, dữ liệu có thời điểm lập mới nhất, có đầy đủ thông tin nhất, có giá trị pháp lý cao nhất để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo quy định tại sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án, không vì khối lượng mà sử dụng các tài liệu không phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các địa phương. 
 
- Xây dựng hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu trên cơ sở kiến trúc hệ thống, hạ tầng đồng bộ, phần mềm thống nhất trên toàn quốc. Hoàn thiện và vận hành cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia (gồm dữ liệu địa chính, dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai) phục vụ công tác quản lý đất đai, cung cấp dịch vụ công về đất đai và chia sẻ thông tin đất đai với các ngành có liên quan như thuế, công chứng, ngân hàng,… đồng bộ việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, trang bị hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu cấp tỉnh, hiện đại hóa tổ chức cung cấp dịch vụ công về đất đai.
 
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và sự ổn định đời sống của người dân. Với cách tiếp cận và nhìn nhận từ góc độ chi NSNN hỗ trợ thực hiện các chính sách đất đai và đề xuất các giải pháp cụ thể nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN chi hỗ trợ thực hiện chính sách đất đai, tác giả bài viết mong muốn được góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện các chính sách thực thi quản lý đất đai nói chung và chính sách tài chính đất đai nói riêng, góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Luật Đất đai năm 2013.
2. Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2020, Báo cáo công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của 42 tỉnh, thành phố.
4. World Bank, B2013, Báo cáo Cải thiện quản trị đất đai tại Việt Nam.

PGS., TS. Phạm Ngọc Dũng
Học viện Tài chính

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Sắp đưa vào thử nghiệm và quản lý chính thức hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam
Sắp đưa vào thử nghiệm và quản lý chính thức hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam
06/06/2022 756 lượt xem
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) mới đây đã công bố lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định quy định Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng. Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là một trong những lĩnh vực được phép thử nghiệm.
Khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với các gói hỗ trợ tài khóa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số khuyến nghị
Khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với các gói hỗ trợ tài khóa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số khuyến nghị
03/06/2022 308 lượt xem
Đại dịch Covid-19 được coi như một cú sốc phi truyền thống gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng cũng như nền kinh tế toàn cầu. Dưới tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế Việt Nam năm 2021 hứng chịu cú sốc kép từ phía cung do hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ngưng trệ, chuỗi cung ứng gián đoạn và phía cầu do người tiêu dùng cắt giảm mạnh chi tiêu.
Vận dụng thành quả cải cách hành chính nâng cao chất lượng điều hành và hỗ trợ nền kinh tế
Vận dụng thành quả cải cách hành chính nâng cao chất lượng điều hành và hỗ trợ nền kinh tế
31/05/2022 223 lượt xem
Ngày 25/5/2022, tại Hội nghị công bố Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2021 (SIPAS 2021) và Chỉ số cải cách hành chính năm 2021 (Par Index) của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ tổ chức, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đạt 90.37/100 điểm - nằm trong nhóm 3 Bộ dẫn đầu Par Index 2021. Sáu năm trước đó, giai đoạn 2015 - 2020, NHNN đã xếp vị trí thứ nhất trong số các bộ, ngành về chỉ số Par Index.
Ngành Ngân hàng nỗ lực triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP
Ngành Ngân hàng nỗ lực triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP
27/05/2022 255 lượt xem
Triển khai Kết luận số 24-KL/TW ngày 30/12/2021 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội, nhằm góp phần đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, phức tạp do dịch bệnh Covid-19 gây ra, góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và giai đoạn 5 năm 2021-2025, ngày 30/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình (Nghị quyết số 11/NQ-CP).
Hướng dẫn ngân hàng thương mại thực hiện hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
Hướng dẫn ngân hàng thương mại thực hiện hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
25/05/2022 366 lượt xem
Ngày 20/5/2022, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 03/2022/TT-NHNN hướng dẫn ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện hỗ trợ trợ lãi suất theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP ngày 20/5/2022 của Chính phủ về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước (NSNN) đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh (Thông tư số 03/2022/TT-NHNN). Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
Hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
23/05/2022 241 lượt xem
Ngày 20/5/2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2022/NĐ-CP về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ban hành.
Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong phát triển dịch vụ ngân hàng - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong phát triển dịch vụ ngân hàng - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
28/04/2022 779 lượt xem
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) tác động mạnh mẽ lên mọi khía cạnh của đời sống và sự bùng phát đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới như một chất xúc tác, nhu cầu về sử dụng các dịch vụ trên nền tảng số đã và đang gia tăng một cách nhanh chóng.
Áp dụng chính sách tài chính hỗ trợ khởi nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Áp dụng chính sách tài chính hỗ trợ khởi nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
04/04/2022 1.317 lượt xem
Vốn kinh doanh là điều kiện cần quan trọng để doanh nghiệp có thể hoạt động và phát triển. Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN), từ khâu ý tưởng đến vận hành doanh nghiệp vốn đã là một chặng đường đầy thử thách. Song, có một vấn đề nan giải khác gần đây đã được nhiều học giả và doanh nhân nhấn mạnh, đó là làm cách nào để cải thiện tiếp cận vốn trong khởi nghiệp.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phục hồi sản xuất kinh doanh trong bối cảnh “bình thường mới
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phục hồi sản xuất kinh doanh trong bối cảnh “bình thường mới"
31/03/2022 1.460 lượt xem
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm số lượng lớn trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, nhưng cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trước dịch bệnh Covid-19. Do đó, DNNVV rất cần sự trợ giúp nhằm nhanh chóng trở lại trạng thái “bình thường mới”, xây dựng kế hoạch vừa chống dịch, vừa yên tâm sản xuất, kinh doanh.
Đảm bảo an ninh, an toàn trong cung ứng dịch vụ ngân hàng trên môi trường số
Đảm bảo an ninh, an toàn trong cung ứng dịch vụ ngân hàng trên môi trường số
22/03/2022 824 lượt xem
Hướng đến mô hình ngân hàng số toàn diện và đúng nghĩa là mục tiêu của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Khi các quy trình, nghiệp vụ ngân hàng được số hóa thì hiệu quả hoạt động ngân hàng tăng lên, đồng thời gia tăng trải nghiệm và tiện ích cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện đại...
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và vấn đề hoàn thiện khung pháp lý  về Fintech ở Việt Nam
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và vấn đề hoàn thiện khung pháp lý về Fintech ở Việt Nam
22/02/2022 1.525 lượt xem
Ngày 06/9/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 100/NQ-CP thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng...
Điều hành chính sách tiền tệ: Sẻ chia khó khăn, vượt qua thách thức nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát
Điều hành chính sách tiền tệ: Sẻ chia khó khăn, vượt qua thách thức nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát
30/01/2022 8.320 lượt xem
NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo hệ thống ngân hàng hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân, đồng thời chủ động, linh hoạt phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
Giải pháp điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2021 và định hướng năm 2022
Giải pháp điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2021 và định hướng năm 2022
28/01/2022 3.234 lượt xem
Năm 2021, kinh tế trong nước tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn chưa từng có do tác động liên tiếp của đại dịch Covid-19 lên đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã kịp thời đưa ra các quyết sách hỗ trợ nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng
Đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng
21/01/2022 2.372 lượt xem
Ngày 13/01/2022, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN về việc đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

68.650

69.570

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

68.650

69.500

Vàng SJC 5c

68.650

69.570

Vàng nhẫn 9999

53.900

54.850

Vàng nữ trang 9999

53.650

54.450


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.025 23.335 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.050 23.330 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.032 23.332 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.040 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.070 23.280 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.080 23.290 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.042 23.560 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.046 23.332 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.070 23.310 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.100 23.290 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?