Chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19
01/11/2021 6.275 lượt xem
Dịch Covid-19 bùng phát kể từ đầu năm 2020 đã để lại nhiều hậu quả đối với nền kinh tế Việt Nam khi các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực đều bị ảnh hưởng bởi doanh thu sụt giảm và sự đứt gãy các chuỗi sản xuất, chuỗi phân phối do thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt...
 
Quan điểm về chính sách tín dụng đại trà
 
Dịch Covid-19 bùng phát kể từ đầu năm 2020 đã để lại nhiều hậu quả đối với nền kinh tế Việt Nam khi các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực đều bị ảnh hưởng bởi doanh thu sụt giảm và sự đứt gãy các chuỗi sản xuất, chuỗi phân phối do thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt. Trước tình hình đó, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều chính sách hỗ trợ nền kinh tế thông qua chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Trong đó, hệ thống ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế, đảm nhiệm vai trò luân chuyển dòng vốn, đáp ứng những nhu cầu sản xuất - kinh doanh hợp pháp đã chủ động, linh hoạt có nhiều giải pháp thiết thực để đồng hành cùng cả hệ thống chính trị vào cuộc, giảm thiểu những tác động của dịch bệnh tới các thành phần kinh tế khác nhau. Trong năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tiếp ba lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất với tổng mức giảm 1,5 - 2,0%/năm đối với lãi suất điều hành, giảm 0,6 - 1,0%/năm trần lãi suất tiền gửi các kỳ hạn dưới 6 tháng; giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (hiện ở mức 4,5%/năm). NHNN đã nhanh chóng ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; Thông tư số 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021, Thông tư số 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2020/ TT-NHNN. Động thái mới nhất, NHNN đã làm việc với các ngân hàng thương mại (NHTM) lớn, tạo đồng thuận trong việc giảm lãi suất thị trường, san sẻ những khó khăn với các doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp. Những điều chỉnh chính sách này đã đem lại những hiệu quả nhất định. Theo công bố của NHNN, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020 và lãi suất này vẫn tiếp tục giảm tính đến cuối tháng 9/2021 với mức giảm khoảng 0,55%/năm (tổng cộng giảm 1,55%/năm so với trước khi dịch bệnh). Đồng thời, NHNN cũng áp dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ khác nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo thanh khoản cho hệ thống các tổ chức tín dụng và ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối.
 
Cùng với đó, thời gian qua, các NHTM đã chung tay ủng hộ nhiệt thành cho công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 dưới nhiều hình thức như quyên góp tiền vào quỹ mua vaccine, ủng hộ tiền và vật tư y tế cho các địa phương chống dịch, ủng hộ chương trình mua máy tính bảng hỗ trợ việc dạy và học online… Trên phương diện kinh doanh, một số ngân hàng đã cam kết giảm lợi nhuận, nhanh chóng triển khai các biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ theo các Thông tư hướng dẫn của NHNN; đồng thuận cao với chủ trương kêu gọi giảm lãi suất để đồng hành cùng đất nước chống dịch với hơn 1,1 triệu khách hàng nhận được hỗ trợ từ các NHTM dưới nhiều hình thức. Những kết quả đó là sự ghi nhận về trách nhiệm xã hội của các NHTM, sẵn sàng hy sinh lợi ích của doanh nghiệp để tăng cường năng lực chống dịch của đất nước và hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn về tài chính.  
 

 
Để nền kinh tế có thể hồi phục thì điều kiện tiên quyết là các doanh nghiệp phải trở lại hoạt động với trạng thái sản xuất - kinh doanh bình thường, thậm chí còn phải hối hả hơn để bù đắp cho giai đoạn suy giảm. Tuy vậy, trải qua gần hai năm hoạt động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, tình hình tài chính của nhiều doanh nghiệp đã suy giảm nghiêm trọng. Nhiều luồng ý kiến cho rằng, các NHTM cần phải tiếp tục giảm mạnh lãi suất cho vay, thậm chí, nhiều ý kiến đưa ra quan điểm về chính sách lãi suất 0%, qua đó giảm chi phí tài chính của các doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn vốn mới. Tuy nhiên, cần xem xét đến một số khía cạnh khác bên cạnh câu chuyện hỗ trợ đại trà các doanh nghiệp thông qua chính sách lãi suất như sau:
 
Thứ nhất, các NHTM bản chất là các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Việc yêu cầu các NHTM cắt giảm một phần lợi nhuận để san sẻ cho những doanh nghiệp khác trong nền kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh khó khăn bước đầu là cần thiết và đúng đắn nhưng nếu lạm dụng sẽ đi ngược lại so với những quy luật của kinh tế thị trường nói chung. Thực tế các NHTM cũng hiểu rằng, cần phải chia sẻ những khó khăn tài chính với doanh nghiệp, vì đây là những điều kiện bất khả kháng, nằm ngoài khả năng dự báo của cả doanh nghiệp và ngân hàng. Mặt khác, nếu doanh nghiệp phá sản thì bản thân ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn với việc xử lý những khoản nợ xấu dẫn tới lợi nhuận sụt giảm. Do đó, các chính sách miễn, giảm lãi và cơ cấu nợ phù hợp với tình trạng hiện tại để đi đến một giải pháp tài chính linh hoạt hơn cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc tiếp tục tạo áp lực yêu cầu hệ thống ngân hàng phải giảm lãi suất (là trực tiếp làm giảm lợi nhuận) để hỗ trợ doanh nghiệp sẽ tạo ra những sự can thiệp hành chính vào hoạt động của ngân hàng, hạn chế động lực phát triển và tạo nên sự phân biệt đối xử không cần thiết trong hệ thống các doanh nghiệp. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, các NHTM hiện nay đã là những công ty đại chúng có sự góp vốn của nhiều cá nhân, doanh nghiệp khác, trong đó có cả những đối tác chiến lược nước ngoài. Nếu áp dụng quá nhiều các biện pháp hạn chế sự tự do kinh doanh của ngân hàng sẽ làm giảm sự hấp dẫn của lĩnh vực này ở những giai đoạn phát triển tiếp theo trong tương lai. 
 
Thứ hai, ngành Ngân hàng thực tế đang phải đối mặt với nhiều thách thức và cần chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng cho giai đoạn tiếp theo. Đầu tiên là, vấn đề về nợ xấu. Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng chắc chắn sẽ gia tăng do tình hình dịch bệnh đã làm trì trệ hoạt động kinh tế, khiến nhiều doanh nghiệp mất khả năng thanh toán toàn bộ hoặc một phần dư nợ tại ngân hàng. Theo các Thông tư hướng dẫn về cơ cấu nợ, các khoản nợ này chưa bị chuyển nhóm và các NHTM được hỗ trợ việc trích lập dự phòng rủi ro trải đều qua 3 năm. Dù vậy, chi phí trích lập dự phòng rủi ro của các NHTM cũng sẽ tăng lên nhanh chóng và lợi nhuận của hệ thống ngân hàng sẽ giảm mạnh. Tiếp đến là, về mức độ rủi ro của hoạt động ngân hàng sau khi dịch bệnh được kiểm soát. Với sức khỏe tài chính yếu hơn và những bất định ở cả thị trường trong và ngoài nước, các hoạt động cho vay của NHTM với doanh nghiệp sẽ trở nên rủi ro hơn nhiều so với giai đoạn trước dịch. Vẫn là cùng một doanh nghiệp đó nhưng những rủi ro về dịch bệnh có thể quay trở lại khiến những phương án kinh doanh của doanh nghiệp đó trở nên kém khả thi hơn so với thời điểm trước khi dịch bệnh. Ở Việt Nam, kênh dẫn vốn chính trong nền kinh tế vẫn là thông qua hệ thống ngân hàng (tỷ lệ tín dụng/GDP đạt khoảng 146% so với thị trường, 17% của thị trường trái phiếu doanh nghiệp và 110% của thị trường cổ phiếu). Hệ thống ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế giúp luân chuyển dòng vốn tới các doanh nghiệp và khi hệ thống mạch máu này không khỏe mạnh thì tốc độ chu chuyển vốn sẽ giảm, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn để khôi phục và mở rộng sản xuất - kinh doanh. Do đó, cần phải chuẩn bị cho hệ thống ngân hàng một bước đệm về tài chính tốt để hệ thống ngân hàng làm tốt vai trò dẫn vốn trong nền kinh tế. 
 
Thứ ba, nếu các NHTM chấp nhận giảm lãi suất cho vay nhưng mặt khác lại giảm lãi suất huy động để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận (giữ NIM ở mức các ngân hàng chấp nhận được trong bối cảnh doanh thu từ lãi vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu) cũng sẽ gây ra những vấn đề bất ổn đối với kinh tế vĩ mô. Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, huy động vốn từ người nhàn rỗi và cho vay đối với người có nhu cầu vốn. Bản thân ngân hàng không có đủ vốn tự có để đáp ứng nhu cầu của người vay mà nguồn tài trợ chính vẫn là tiền gửi. Điều quyết định tới hành vi gửi tiền chính là lãi suất nhưng là lãi suất thực, không phải lãi suất danh nghĩa niêm yết. Lãi suất thực được hiểu đơn giản là lãi suất danh nghĩa điều chỉnh cho tỷ lệ lạm phát. Có nhiều tranh cãi về lãi suất thực nhưng nếu để làm căn cứ đầu vào cho việc ra quyết định đầu tư tiền nhàn rỗi thì lãi suất thực cần xem xét là lãi suất danh nghĩa điều chỉnh cho tỷ lệ lạm phát kỳ vọng trong suốt kỳ hạn đang xem xét. NHNN đã thành công trong việc kiểm soát lạm phát giai đoạn 2016 - 2020 và hướng tới thành công trong việc giữ lạm phát năm 2021 ở mức mục tiêu dưới 4%. Tuy nhiên, lạm phát trong giai đoạn chịu nhiều rủi ro cả ở thị trường trong nước và quốc tế nên kỳ vọng lạm phát trong thời gian tới có thể sẽ xoay quanh mức mục tiêu 4% mà Quốc hội và Chính phủ giao cho NHNN. Nếu xét đến lãi suất huy động hiện tại khoảng 5 - 6% (trung bình khoảng 5,9%, thấp nhất 4,4%, cao nhất 6,8%) kỳ hạn 12 tháng thì nếu các NHTM giảm lãi suất huy động 2% tức là lãi suất huy động thực sẽ giảm về 0% thậm chí là âm, tác động trực tiếp tới quyết định gửi tiền của các chủ thể kinh tế. Khi lãi suất huy động thực âm, lãi tiền gửi không đủ bù đắp cho tỷ lệ lạm phát, người gửi tiền sẽ có xu hướng thay vì mua các tài sản tài chính (ví dụ như tiết kiệm tại ngân hàng) chuyển sang mua các tài sản hữu hình có tính tích trữ để phòng ngừa lạm phát như vàng, bất động sản hoặc chuyển qua các tài sản tài chính có mức sinh lời cao hơn (đi kèm rủi ro cao hơn) như trái phiếu doanh nghiệp hoặc cổ phiếu. Điều này dẫn tới hai vấn đề đối với nền kinh tế: Một là, hệ thống ngân hàng thiếu vốn để cho vay, ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp; hai là, các thị trường tài sản tăng trưởng quá nóng so với tăng trưởng kinh tế thực, tiềm ẩn nhiều rủi ro bong bóng tài sản. 
 
Chính sách tín dụng có chọn lọc
 
Chính phủ vẫn cần nhanh chóng đưa ra những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để chuẩn bị cho một giai đoạn phục hồi kinh tế có hiệu quả sau khi dịch bệnh được kiểm soát, nhưng việc yêu cầu hệ thống NHTM giảm lãi suất cho vay sâu và nhanh chóng một cách đại trà cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với hệ thống ngân hàng trong tương lai. Một trong những giải pháp thay thế là sử dụng chính sách tín dụng ưu đãi với 2 điểm khác biệt: có sự tham gia của ngân sách Nhà nước và có tính chọn lọc. Ở nhiều quốc gia, chính sách tài khóa nghịch chu kỳ là chính sách chủ yếu thông qua các biện pháp trực tiếp làm tăng chi tiêu và giảm nguồn thu của Chính phủ như hỗ trợ tiền mặt cho người dân hay giảm thuế và cả các biện pháp gián tiếp như các khoản cho vay hay bảo lãnh Chính phủ. Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam, tỷ lệ bội chi ngân sách sau khi điều chỉnh GDP vẫn còn dư địa và có thể được sử dụng vào mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua chính sách tín dụng. Tính chọn lọc của chính sách tín dụng được xây dựng nhằm tập trung vào một khu vực của nền kinh tế và lan tỏa tới các khu vực khác thông qua các liên kết kinh tế. Sử dụng một chính sách tín dụng chọn lọc có hiệu quả sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, dễ kiểm soát mục đích sử dụng vốn và tránh tình trạng trục lợi chính sách khi thực hiện đại trà. 
 
Lựa chọn đối tượng nhận được hỗ trợ từ chính sách tín dụng ưu đãi là một vấn đề cần phải được cân nhắc và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và đơn vị chức năng. Những doanh nghiệp được nhận hỗ trợ sẽ phải đáp ứng được các tiêu chí cả về quy mô và ngành nghề:
 
Một là, về tiêu chí quy mô, các doanh nghiệp được hỗ trợ cần phải là các doanh nghiệp lớn chứ không phải là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính sách cần phải hướng vào hỗ trợ doanh nghiệp lớn để tận dụng lợi thế kinh tế về quy mô, nguồn lực tài chính, công nghệ, khả năng lan tỏa của nhóm doanh nghiệp này dựa trên mạng lưới sẵn có. Khi doanh nghiệp lớn được hỗ trợ để hoạt động ổn định trở lại sẽ kéo theo các doanh nghiệp nhỏ và vừa là các doanh nghiệp vệ tinh. Các doanh nghiệp lớn cũng là những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động; hỗ trợ phục hồi sản xuất tại các doanh nghiệp lớn tức là gián tiếp hỗ trợ sinh kế cho hàng trăm ngàn lao động mất việc do dịch, đảm bảo cuộc sống cho nhiều người dân. Về mặt rủi ro, các doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp có hệ thống quản trị doanh nghiệp tốt hơn, có thị phần vững chắc và kế hoạch phục hồi kinh doanh cũng sẽ khả thi hơn những doanh nghiệp nhỏ giúp giảm bớt rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, việc tập trung vốn hỗ trợ các doanh nghiệp lớn cũng sẽ đảm bảo được nguồn lực của các bộ, ngành liên quan tham gia quản lý gói hỗ trợ để thẩm định, giám sát việc sử dụng vốn đúng mục đích, đảm bảo chính sách đúng và trúng với mục tiêu ban đầu. 
 
Hai là, về tiêu chí ngành nghề, các doanh nghiệp được hỗ trợ cần phải hoạt động trong những ngành có tính lan tỏa cao, có mối liên kết kinh tế với nhiều ngành nghề khác, đặc biệt là những ngành sản xuất trong nước. Thông qua những mối liên kết kinh tế đó, những doanh nghiệp được hỗ trợ có thể tái khởi động chuỗi sản xuất, phân phối và bán hàng mới, tạo ra nhu cầu đối với nhiều ngành nghề khác. Ví dụ như hỗ trợ doanh nghiệp logistic, qua đó, có thể phục hồi hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải, du lịch, xuất khẩu hay hỗ trợ doanh nghiệp dệt may có thể khơi thông nhu cầu cho ngành sản xuất bông, cơ khí, hóa chất…
 
Ba là, về tiêu chí thị trường, cần ưu tiên chọn các doanh nghiệp nằm trong chuỗi giá trị, đặc biệt là các doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong chuỗi và doanh nghiệp có thị phần xuất khẩu lớn, đảm bảo duy trì được đơn hàng và lợi thế cạnh tranh quốc gia. 
 
Bốn là, về tiêu chí khoa học công nghệ, cần ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp lớn có khả năng nghiên cứu và ứng dụng, triển khai đổi mới sáng tạo tốt hơn, tạo ra được lợi thế cạnh tranh đi đầu về năng lực sản xuất (hoặc rút ngắn khoảng cách) với các doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới. Từ đó, giúp nền kinh tế tăng tính tự chủ, giảm sự lệ thuộc vào thị trường quốc tế. 
 
Tùy vào khả năng cân đối của ngân sách Nhà nước mà NHNN, Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan thống nhất về bộ tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp được hỗ trợ, giao trách nhiệm giải ngân nhanh chóng và giám sát việc sử dụng vốn vay cho các NHTM và sớm có những đánh giá về hiệu quả chính sách để kịp thời có những điều chỉnh cần thiết. Thậm chí, nếu chính sách có hiệu quả tốt, có thể tăng quy mô, mở rộng đối tượng ra thêm những khu vực khác của nền kinh tế để thúc đẩy sự phục hồi kinh tế toàn diện, có chất lượng nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của cả giai đoạn 2021 - 2025.

Đào Minh Thắng

Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Fintech và những thách thức trong việc ban hành các quy định pháp lý
Fintech và những thách thức trong việc ban hành các quy định pháp lý
15/08/2022 77 lượt xem
Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, chúng ta chứng kiến hai sự kiện đã tác động đến hệ thống tài chính toàn cầu, đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống rửa tiền (sửa đổi)
Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống rửa tiền (sửa đổi)
05/08/2022 221 lượt xem
Ngày 4/8/2022, tại TP.Hồ Chí Minh, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức hội thảo “Tham vấn ý kiến về dự án Luật phòng, chống rửa tiền (sửa đổi)” trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 4 (tháng 10/2022).
Hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại huyện Sơn Động
Hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại huyện Sơn Động
20/07/2022 435 lượt xem
Ngày 18/7/2022, tại huyện Sơn Động (Bắc Giang), Đảng ủy cơ quan NHTW và Huyện ủy Sơn Động tổ chức Lễ ký kết văn bản ghi nhớ thực hiện Chương trình kết nối, hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Ban Bí thư trên địa bàn huyện.
Chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng - Cơ hội, thách thức và khuyến nghị hoàn thiện pháp lý
Chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng - Cơ hội, thách thức và khuyến nghị hoàn thiện pháp lý
11/07/2022 699 lượt xem
Chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống đang mang lại nhiều tác động, làm thay đổi cách chúng ta cung ứng và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cũng như cách khai thác sự tiến bộ của công nghệ, đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19.
Phát triển và bảo vệ hiệu quả cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
Phát triển và bảo vệ hiệu quả cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
04/07/2022 591 lượt xem
Đồng hành với công cuộc đổi mới của đất nước, cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng, lớn mạnh về chất lượng, mở rộng về phạm vi địa bàn, lĩnh vực và quy mô hoạt động, trưởng thành về bản lĩnh thị trường và nâng cao về vị thế trong nền kinh tế quốc gia, từng bước vươn xa, khẳng định tầm vóc và sức cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Bảo vệ người tiêu dùng tài chính: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
Bảo vệ người tiêu dùng tài chính: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
28/06/2022 703 lượt xem
Bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh, minh bạch của khu vực tài chính, thúc đẩy tài chính toàn diện và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Một khung khổ bảo vệ người tiêu dùng tài chính hiệu quả là điều kiện cần thiết để mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, mang lại lợi ích thiết thực, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có đầy đủ thông tin để đưa ra quyết định sử dụng các dịch vụ tài chính một cách tốt nhất.
Vướng mắc và kiến nghị khi thực hiện việc tổ chức, hoạt động của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra
Vướng mắc và kiến nghị khi thực hiện việc tổ chức, hoạt động của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra
28/06/2022 514 lượt xem
Thông tư số 06 thể hiện tính ưu việt thông qua việc đã tổng hợp nội dung của 4 văn bản trước đó mà Thanh tra Chính phủ đã ban hành, thể hiện tính tinh gọn, dễ hiểu, dễ thấy, dễ tìm để thực hiện nhiệm vụ thanh tra, quản lý công tác thanh tra nói chung, Đoàn thanh tra nói riêng: Từ công tác tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, đến công tác giám sát hoạt động Đoàn thanh tra, việc ghi sổ nhật ký Đoàn thanh tra, việc thực hiện Quy trình thẩm định dự thảo Kết luận thanh tra.
Sắp đưa vào thử nghiệm và quản lý chính thức hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam
Sắp đưa vào thử nghiệm và quản lý chính thức hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam
06/06/2022 1.714 lượt xem
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) mới đây đã công bố lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định quy định Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng. Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là một trong những lĩnh vực được phép thử nghiệm.
Khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với các gói hỗ trợ tài khóa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số khuyến nghị
Khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với các gói hỗ trợ tài khóa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số khuyến nghị
03/06/2022 1.391 lượt xem
Đại dịch Covid-19 được coi như một cú sốc phi truyền thống gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng cũng như nền kinh tế toàn cầu. Dưới tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế Việt Nam năm 2021 hứng chịu cú sốc kép từ phía cung do hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ngưng trệ, chuỗi cung ứng gián đoạn và phía cầu do người tiêu dùng cắt giảm mạnh chi tiêu.
Vận dụng thành quả cải cách hành chính nâng cao chất lượng điều hành và hỗ trợ nền kinh tế
Vận dụng thành quả cải cách hành chính nâng cao chất lượng điều hành và hỗ trợ nền kinh tế
31/05/2022 851 lượt xem
Ngày 25/5/2022, tại Hội nghị công bố Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2021 (SIPAS 2021) và Chỉ số cải cách hành chính năm 2021 (Par Index) của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ tổ chức, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đạt 90.37/100 điểm - nằm trong nhóm 3 Bộ dẫn đầu Par Index 2021. Sáu năm trước đó, giai đoạn 2015 - 2020, NHNN đã xếp vị trí thứ nhất trong số các bộ, ngành về chỉ số Par Index.
Ngành Ngân hàng nỗ lực triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP
Ngành Ngân hàng nỗ lực triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP
27/05/2022 793 lượt xem
Triển khai Kết luận số 24-KL/TW ngày 30/12/2021 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội, nhằm góp phần đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, phức tạp do dịch bệnh Covid-19 gây ra, góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và giai đoạn 5 năm 2021-2025, ngày 30/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình (Nghị quyết số 11/NQ-CP).
Hướng dẫn ngân hàng thương mại thực hiện hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
Hướng dẫn ngân hàng thương mại thực hiện hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
25/05/2022 973 lượt xem
Ngày 20/5/2022, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 03/2022/TT-NHNN hướng dẫn ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện hỗ trợ trợ lãi suất theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP ngày 20/5/2022 của Chính phủ về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước (NSNN) đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh (Thông tư số 03/2022/TT-NHNN). Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
Hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
23/05/2022 731 lượt xem
Ngày 20/5/2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2022/NĐ-CP về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ban hành.
Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong phát triển dịch vụ ngân hàng - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong phát triển dịch vụ ngân hàng - Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
28/04/2022 1.514 lượt xem
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) tác động mạnh mẽ lên mọi khía cạnh của đời sống và sự bùng phát đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới như một chất xúc tác, nhu cầu về sử dụng các dịch vụ trên nền tảng số đã và đang gia tăng một cách nhanh chóng.
Áp dụng chính sách tài chính hỗ trợ khởi nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Áp dụng chính sách tài chính hỗ trợ khởi nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
04/04/2022 2.380 lượt xem
Vốn kinh doanh là điều kiện cần quan trọng để doanh nghiệp có thể hoạt động và phát triển. Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN), từ khâu ý tưởng đến vận hành doanh nghiệp vốn đã là một chặng đường đầy thử thách. Song, có một vấn đề nan giải khác gần đây đã được nhiều học giả và doanh nhân nhấn mạnh, đó là làm cách nào để cải thiện tiếp cận vốn trong khởi nghiệp.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.000

67.020

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.000

67.000

Vàng SJC 5c

66.000

67.020

Vàng nhẫn 9999

52.350

53.250

Vàng nữ trang 9999

52.250

52.850


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?