Thứ Tư, ngày 05 tháng 08 năm 2020

Áp lực và động lực phát triển năm 2019

Ngày đăng:10:37 04/12/2019
Lượt xem: 879
Cỡ chữ
Biểu tượng cho sức bật mới của nền kinh tế là những nỗ lực khai thác động lực thể chế để vượt qua chính mình của ngành điện Việt Nam. Chỉ số tiếp cận điện năng năm 2018 của Việt Nam đã tăng hạng vượt bậc, đạt 87,94 điểm và đứng ở vị trí 27/190 quốc gia trên thế giới, tăng 37 bậc so với xếp hạng năm 2017 và tăng 129 bậc so với năm 2013; đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN về thủ tục và thời gian thực hiện cung cấp điện.
Đặc biệt, ngày 21/12/2018, EVN chính thức khai trương thực hiện dịch vụ điện cấp độ 4 (tức chỉ 1 năm sau khi đạt cấp độ 3 từ ngày 21/12/2017); Theo đó, EVN sẽ đáp ứng mọi yêu cầu dịch vụ điện hợp pháp của khách hàng, đúng chất lượng, nội dung và thời gian công bố; bảo đảm 100% thao tác từ khâu đăng ký, nhận kết quả, đến thanh toán đều thông qua “trực tuyến - 1 cửa” theo phương châm “Điện lực đến với khách hàng”. EVN đã được Hội đồng doanh nghiệp (DN) vì sự phát triển bền vững Việt Nam bình chọn là “Doanh nghiệp bền vững của Việt Nam năm 2018” và cũng được tổ chức Hướng tới sự minh bạch đánh giá là một trong các doanh nghiệp nhà nước hàng đầu về minh bạch thông tin.
 
Cũng bằng sức bật thể chế quản lý, tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, các đơn vị sản xuất, kinh doanh; tăng cường kiểm soát sản lượng và các chi phí liên quan, điều tiết cung - cầu, hướng tới sự hài hòa lợi ích giữa người chăn nuôi và người tiêu dùng, năm 2018, ngành chăn nuôi đã “được mùa được giá”, thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư lớn, trong nước và quốc tế, phát triển kênh xuất khẩu chính ngạch thịt lợn đông lạnh sạch, an toàn vệ sinh và có thể truy xuất được nguồn gốc; đã khai thông thị trường Myanmar (với mức giá cao hơn 15% so với giá thịt lợn thế giới) và từ năm 2019 sẽ xuất sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và các thị trường tiềm năng khác… Nhờ đó, đàn lợn cả nước tăng 2%; sản lượng thịt lợn đạt 3,8 triệu tấn. Ngành chăn nuôi lợn trị giá 10 tỷ USD, Việt Nam (đứng thứ 6 thế giới), hồi sinh chỉ sau một năm với giá thu mua thịt hơi từ mức 15.000 - 17.000 đồng/kg (tháng 4/2017), tăng lên mức 56.000 đồng/kg (tháng 10/2018) và duy trì ổn định 45.000 - 52.000 đồng/kg từ tháng 11/2018 cho tới nay. Hàng trăm nghìn hộ nông dân đã thoát khỏi cảnh thua lỗ, nợ nần…
 
Năm 2018, các bộ, ngành đã cắt giảm 6.776/9.956 thủ tục hành chính liên quan đến kiểm tra chuyên ngành, vượt 36% so với mục tiêu đặt ra ban đầu là 50%, cắt giảm 3.346/6.191 điều kiện kinh doanh. Qua đó, giảm hơn 17.500.000 ngày công, tiết kiệm hơn 6.279 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc cắt, giảm các điều kiện kinh doanh chưa thực chất theo yêu cầu Nghị quyết 19/NQ-CP năm 2018, còn chậm xây dựng các thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng, thương hiệu và tài sản của thành viên công ty tại Tòa án, thủ tục giải quyết phá sản DN, thủ tục giải quyết khiếu nại của DN. Luật Hỗ trợ DNNVV có hiệu lực và hiệu quả thực tế rất hạn chế do Luật Thuế chưa sửa đổi thích ứng và tiêu chí thế nào là DNNVV đổi mới, sáng tạo chưa có.
 
Theo Báo cáo năng suất doanh nghiệp và môi trường đầu tư của Ngân hàng Thế giới (WB) mới công bố cuối năm 2018, nhờ cải thiện thể chế và môi trường đầu tư, xuất khẩu của Việt Nam đang trở nên tinh hơn và ngày càng đa dạng hóa các mặt hàng chủ lực; với hàng chục sản phẩm nông sản đạt kim ngạch hàng tỷ USD; Tỷ trọng xuất khẩu dầu thô giảm từ gần 7% xuống còn khoảng 1,3%; Tỷ trọng các mặt hàng chế tạo, chế biến xuất khẩu giá trị cao (như điện thoại, máy tính, máy ảnh, hàng điện tử và linh kiện) tăng từ 5% trong năm 2010 lên đến khoảng 35% trong năm 2018; Các mặt hàng chế tạo, chế biến đã đóng góp khoảng 85% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2018, tăng so với 65% năm 2010. 
 
Tuy nhiên, Việt Nam đang mất dần lợi thế: Giá nhân công rẻ; Tiền công và tiền lương của doanh nghiệp trung vị Việt Nam ở mức khoảng 2.739 USD/lao động, tức cao gấp đôi so với Lào, Myanmar, Malaysia và hơn khoảng 30 - 45% so với Campuchia, Thái Lan, Philippines, dù vẫn thấp hơn các nước BRIC. Đồng thời, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có mức độ thâm dụng vốn tương đương, nhưng có năng suất thấp hơn nhiều so với các nền kinh tế khu vực và nhóm BRIC. Năng suất vốn của Thái Lan lên tới trên 700%, trong khi Việt Nam chỉ khoảng 160%, Trung Quốc và Ấn Độ là gần 300%, Nga là 300%… Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động tại Việt Nam hiện chỉ bằng 4,4% của Singapore và 17,4% của Malaysia, trong khi đó, tốc độ tăng lương bình quân lại đang vượt năng suất lao động. Theo một báo cáo gần đây của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khoảng 86% lao động ngành dệt may và da giày tại Việt Nam sẽ đứng trước nguy cơ mất việc làm do ảnh hưởng của làn sóng tự động hóa, công nghiệp hóa. 
 
Trong thời gian tới, đột phá thể chế kinh tế của Việt Nam sẽ đậm nét hơn khi triển khai các Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Điều này tạo cơ hội để Việt Nam nâng cao khả năng tiếp cận các thị trường xuất khẩu và có thêm các nguồn đầu tư nước ngoài mới, tức có các động lực tăng trưởng mới.
 
Sức bật mới cũng sẽ gia tăng từ kết quả nâng cao năng lực thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ và tình trạng nhũng nhiễu doanh nghiệp. Báo cáo môi trường kinh doanh 2018 của WB cho thấy, thời gian tuân thủ về chứng từ đối với các biện pháp phi thuế quan để nhập khẩu ở Việt Nam (76 giờ) cao hơn hai lần rưỡi so với mức bình quân của 4 quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN-4), bao gồm Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines (28 giờ). Tương tự, thời gian tuân thủ về chứng từ đối với các biện pháp phi thuế quan để xuất khẩu ở Việt Nam (50 giờ) cao gấp đôi với mức bình quân ASEAN-4 (24 giờ). Cải cách thủ tục hành chính chưa thực chất; sự minh bạch và kết nối các cơ quan nhà nước, kể cả công khai với DN và người dân còn hạn chế. Bởi vậy, năm 2019, Chính phủ cần tập cải cách để giảm gánh nặng thể chế và loại bỏ đi 10% tổng doanh thu mà các DN phải chi cho bôi trơn và chi phí không chính thức; tạo sức ép hành chính đủ mạnh và liên tục lên các bộ, ngành và địa phương để triển khai ngay từ những ngày đầu năm. Tổ chức đối thoại với doanh nghiệp là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của các hiệp hội DNNVV ở trung ương và các địa phương; tạo kênh theo dõi, đánh giá độc lập, thường xuyên về những công việc làm được và chưa được; sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó xác định mức thuế suất thông thường của DNNVV thấp hơn theo đúng tinh thần của Luật Hỗ trợ DNNVV; hướng dẫn ban hành chế độ kế toán, báo cáo thuế đơn giản cho DN nhỏ, siêu nhỏ. Các tỉnh, thành có chính sách tháo gỡ, xây dựng quỹ đất tập trung cho DNNVV, tạo khu làm việc tập trung, cơ sở ươm tạo cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Hình thành ban chỉ đạo về hỗ trợ DNNVV để có sự điều phối thống nhất, tập trung và tiếp tục nâng cao nhận thức của doanh nghiệp trong việc ứng phó với những biến đổi của khoa học công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để thúc đẩy sự thay đổi, chấp nhận sự thay đổi của doanh nghiệp tư nhân trong quản lý, sản xuất, kinh doanh; cung cấp thông tin về hội nhập, thông tin thuế quan và các cơ hội, thách thức đến từ Việt Nam là thành viên của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
 
Thực tế cũng cho thấy, động lực tăng trưởng 2019 sẽ hội tụ và lan tỏa từ tổ hợp các giải pháp của Chính phủ về đột phá thể chế để khai thông tiềm năng công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ;  hỗ trợ, nuôi dưỡng, giải phóng các nguồn lực sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân; tạo áp lực, nâng cao năng lực, trách nhiệm cá nhân và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ các bộ, ngành, địa phương; gia tăng tổng đầu tư xã hội và duy trì tổng cầu tiêu dùng trong nước cao; tiếp tục mở rộng xuất khẩu; kiểm soát lạm phát, giữ ổn định thị trường tài chính - tiền tệ nhờ chống thất thu, nợ đọng thuế và triệt để tiết kiệm chi NSNN; áp dụng chế độ tỷ giá trung tâm linh hoạt, lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế; giảm nợ xấu, cải thiện điều kiện tiếp cận tín dụng; ổn định thị trường ngoại hối và thu hẹp dần giãn cách giá vàng trong nước với thế giới; tăng trưởng tín dụng tích cực với nền lãi suất tương đối ổn định. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ có hiệu quả hơn cho tăng trưởng kinh tế.
 

Đặc biệt, động lực tăng trưởng năm 2019 được tiếp tục và lan tỏa từ sự cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính; làm tốt công tác bình ổn và lưu thông hàng hóa, mở rộng tự do hóa và quản lý cạnh tranh lành mạnh; giữ vững lòng tin thị trường, củng cố vị thế quốc tế và khai thác những cơ hội mới tới từ các kết quả đàm phán, ký kết và triển khai các cam kết và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam. 
 
Động lực tăng trưởng cũng đến từ những chuyển động tích cực về tái cơ cấu kinh tế, nhất là trong mua bán và chuyển nhượng dự án bất động sản; thu hồi các dự án chậm triển khai, dùng sai mục đích sử dụng đất; cổ phần hóa DNNN và đơn vị sự nghiệp công; tăng cường sử dụng giống mới, ứng dụng công nghệ bảo quản, chế biến nông sản hiện đại; mở rộng sự tham gia của DN đầu tư vào nông nghiệp theo mô hình liên kết chuỗi và quy mô công nghiệp; phát triển ngành chế biến, chế tạo; duy trì động lực tăng trưởng và xuất khẩu từ khu vực FDI và phát triển kinh tế đối ngoại…
 
Động lực tăng trưởng đang và cần được tiếp sức bởi sự chuyển động của cả bộ máy quản lý và hệ thống chính trị, tạo mọi điều kiện, tháo gỡ mọi rào cản cho sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp; phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo, gắn với các lợi thế về nguồn nguyên liệu nông, lâm nghiệp, thủy sản; Thực hiện tốt công tác dự báo thị trường, xúc tiến thương mại, tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu. Chủ động nhận diện và cập nhật các rào cản kỹ thuật để chủ động xây dựng các biện pháp khắc phục kịp thời; Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; bồi thường, hỗ trợ người dân ở các tỉnh bị thiệt hại do sự cố ô nhiễm môi trường biển, sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống.
 
Với những đột phá tư duy và thể chế tạo động lực mới và sức bật lớn, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa những chuyển biến lớn, đạt được mục tiêu kép, cả chất lượng và số lượng, có thể vừa đạt tăng trưởng cao và giữ được ổn định vĩ mô. Với phương châm “hành động, kỷ cương, liêm chính, sáng tạo, hiệu quả”, các bộ, ngành, địa phương cần quán triệt và tiếp tục ban hành các chương trình, kế hoạch hành động; xây dựng kịch bản tăng trưởng theo quý đối với từng ngành, lĩnh vực và thường xuyên kiểm tra, đánh giá thực hiện; tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế. 
 
Thực tiễn cũng cho thấy, đất nước đang và sẽ còn đối diện với nhiều thách thức và áp lực mới cho phát triển bền vững: Thâm hụt ngân sách và nợ công vẫn ở mức cao. Nợ xấu ngân hàng, nợ đọng xây dựng cơ bản còn lớn, chậm được xử lý căn bản và triệt để. Giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, nhất là vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA còn chậm, gặp nhiều trở ngại. Thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn đang là vấn đề bức xúc. Tình trạng nông dân bỏ ruộng, không muốn làm nông nghiệp, rời bỏ nông thôn, thiếu hợp tác trong sản xuất liên doanh liên kết còn là những vấn đề rất đáng quan ngại. Tệ nạn xã hội, tình trạng khô hạn kéo dài, xâm nhập mặn, bão lụt vi phạm về môi trường, an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông và tội phạm gian lận thương mại còn diễn biến phức tạp, nhất là ở các đô thị lớn. 
 
Nhiều khó khăn và hạn chế nêu trên có căn nguyên sâu xa từ nhận thức còn giản đơn, thiếu cụ thể và thống nhất, cũng như sự ngộ nhận và đồng nhất giữa mô hình tăng trưởng với phương thức phát triển; sự chậm trễ đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; thiếu đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển theo tín hiệu và cơ chế thị trường; sự lúng túng trong việc phát huy những thời cơ, thuận lợi, khắc phục những khó khăn, thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế; sự trì trệ trong cải cách căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học - công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ kết nối mạng; sự hạn chế về tích tụ, tập trung quyền sử dụng đất nông nghiệp và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn lực của khu vực kinh tế tư nhân; sự coi thường kỷ cương pháp luật đang có xu hướng lan rộng trong cả nước. Ngoài ra, công tác cán bộ đang bộc lộ những kẽ hở trong quy trình và lạm dụng trong thực tế triển khai, khiến chất lượng nhiều cán bộ được bổ nhiệm còn thấp, gây bất bình nội bộ và bức xúc xã hội…
 
Yêu cầu phát triển bền vững năm 2019 đòi hỏi mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương cần làm tốt những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:
 
Thứ nhất, tiếp tục nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường, quan hệ giữa phát triển nhanh và bền vững, giữa phát triển toàn diện và tập trung mũi nhọn, đổi mới toàn diện, nhất là mô hình tăng trưởng, bảo đảm nền kinh tế tự chủ, tự cường với xu hướng mở cửa nền kinh tế, hội nhập quốc tế; Tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo bỏ các thể chế kinh tế lạc hậu, cũ kỹ, phấn đấu có môi trường kinh doanh sớm vào nhóm các nước dẫn đầu ASEAN, hướng đến tiêu chuẩn của các nước phát triển (OECD); Đẩy mạnh cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện; sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế và đáp ứng các cam kết yêu cầu và lộ trình hội nhập quốc tế; Tập trung rà soát, hoàn thiện các cơ chế chính sách tạo đột phá mạnh mẽ hơn nữa, bảo hộ quyền tài sản, thí điểm các mô hình kinh doanh mới, hiệu quả, nhất là những ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên sử dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường, tiềm năng đóng góp, lan tỏa, gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ. Phát triển mạnh các thị trường vốn, chứng khoán, bất động sản, lao động và nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ; có cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực; Cơ cấu lại đầu tư công thực chất hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Quyết liệt đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập. Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, liên kết chuỗi giá trị, bảo đảm đầu ra, ổn định và tăng thu nhập cho người dân. Phát triển hiệu quả, bền vững với tầm nhìn dài hạn kinh tế rừng, kinh tế biển. Phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo, phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ thông tin; Khuyến khích ứng dụng công nghệ cao, loại bỏ công nghệ lạc hậu. Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch; Mở rộng áp dụng thị thực điện tử và đơn phương miễn thị thực cho một số địa bàn trọng điểm; Thúc đẩy và nâng cao hiệu quả cơ chế điều phối vùng; phát huy mạnh mẽ vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm kinh tế, thành phố lớn. Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai, tài nguyên, khoáng sản. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu. Phát huy tinh thần doanh nghiệp và đề cao trách nhiệm xã hội; chủ động và linh hoạt trong phản ứng hiệu quả với những biến động thị trường và chính sách; xây dựng và củng cố sự gắn kết cộng đồng, phát triển các chuỗi liên kết và cung ứng giá trị quốc gia và quốc tế; Tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0 là dựa trên niềm tin, sự sáng tạo mà không đánh mất bản sắc; Xử lý hài hòa các lợi ích và các khác biệt văn hóa trong kinh doanh, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững cả trong phạm vi quốc gia và khu vực… Coi trọng thu hút, đãi ngộ, trọng dụng nhân tài, nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo, ứng dụng công nghệ, thiết bị sản xuất và quản trị doanh nghiệp tiên tiến, để tinh thần cởi mở, sự hứng khởi và niềm tin của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, người dân lan tỏa trong xã hội và thị trường Việt Nam. Phối hợp hài hòa sử dụng bàn tay Nhà nước và bàn tay Thị trường trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách, nhằm đa dạng hóa và phối hợp hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế trong quản lý phát triển và vượt qua khủng hoảng. Tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường tài chính; đề cao yêu cầu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, hài hòa lợi ích và đặt lợi ích quốc gia là trên hết.
 
Thứ hai, chủ động theo dõi, bám sát và phản ứng chính sách, phản ứng thị trường kịp thời trước các diễn biến trong nước, quốc tế; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân, khởi nghiệp; đẩy mạnh tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả đầu tư công, hoạt động của các DNNN, các đơn vị sự nghiệp công và hệ thống các ngân hàng thương mại; phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ, tiếp tục cơ cấu lại thu - chi NSNN, cơ cấu lại nợ công, triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bảo đảm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô; Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra thuế, chống thất thu đối với các hoạt động chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại, thu hồi nợ đọng thuế; Quyết liệt cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém; tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn ngân hàng. Đẩy mạnh giải ngân vốn đối với các chương trình tín dụng, các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường thanh tra, kiểm tra, nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây chậm trễ trong việc thực hiện kế hoạch đầu tư công.
 
Theo dõi chặt chẽ tình hình nhập khẩu, xây dựng các biện pháp hàng rào kỹ thuật phù hợp với cam kết quốc tế để kiểm soát nhập khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước. Nâng cao năng lực khoa học, kỹ thuật sản xuất; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp; tăng cường kết nối doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài thông qua những chính sách phù hợp với các khu vực trọng điểm và đề cao vai trò của các doanh nghiệp đầu tàu, nhất là trong công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp hỗ trợ; phấn đấu đến năm 2020, công nghiệp hỗ trợ đáp ứng được 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng trong nội địa; chiếm khoảng 11% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp; có khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam. Đến năm 2030, các con số tương ứng là 70%, khoảng 14% và khoảng 2.000 doanh nghiệp.
 
Thúc đẩy tinh thần doanh nghiệp trong bối cảnh CMCN 4.0 là thúc đẩy quá trình kiến tạo và đổi mới, đột phá về công nghệ, ý tưởng và chính sách, phát huy các lợi thế và tận dụng các cơ hội, thích ứng với các thách thức mới, dũng cảm lựa chọn các định hướng mới và khai thác hiệu quả các động lực mới, ngày càng nhận thức rõ hơn về tương lai; không ngừng chủ động, sáng tạo và hoàn thiện mình để trở thành “Doanh nghiệp Thông minh” của “Quốc gia Thông minh” trên hành trình xây dựng một Tổ Quốc Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; góp phần xây dựng cộng đồng kinh tế - doanh nghiệp ASEAN tự cường, sáng tạo, ngày càng lớn mạnh, phồn vinh - đối tác lựa chọn hấp dẫn và đầy tiềm năng của những doanh nghiệp toàn cầu…!
 
Thứ ba, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách đối với người có công, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới; nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và dạy nghề, phát triển thị trường, giới thiệu việc làm, nhất là đối với thanh niên, sinh viên tốt nghiệp mới ra trường. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, gắn với tinh giản biên chế và cải cách hành chính, chống tham nhũng trong công tác cán bộ và thực sự cầu thị, trọng dụng nhân tài; củng cố tiềm lực quốc phòng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo an toàn, an ninh thông tin mạng; không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống; chủ động, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho báo chí định hướng dư luận, tạo đồng thuận xã hội; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân…
 
Đặc biệt, cần quán triệt diễn văn kết luận Hội nghị TW 9 khóa XII ngày 26-12-2018 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: “Cán bộ và công tác cán bộ có vị trí quan trọng hàng đầu, phải được tiến hành thận trọng, thường xuyên, có hiệu quả nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ được giao. Cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng… Mỗi người chúng ta cần luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng; và danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất đối với mỗi con người, trước hết là đối với mỗi cán bộ, đảng viên.

TS. Nguyễn Minh Phong
ThS. Nguyễn Trần Minh Trí


Nguồn: TCNH số 5/2019
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao