Phát triển bền vững Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
30/10/2017 3.455 lượt xem
TS. Hà Thị Sáu
 

Bền vững trong phát triển là mục tiêu của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp và thậm chí là mỗi cá nhân, gia đình,… Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) Việt Nam là một loại hình tổ chức tín dụng (TCTD), hình thành trong nền kinh tế thị trường, tồn tại song song với các ngân hàng thương mại (NHTM) và TCTD phi ngân hàng khác cũng không nằm ngoài mục tiêu đó.
Vậy phát triển bền vững của NHCSXH là gì?
NHCSXH là một định chế tài chính của Nhà nước, hoạt động với mục đích phi lợi nhuận, tức là không vì mục tiêu kinh doanh, song phải bảo toàn được vốn và phải đảm bảo được các mục tiêu xã hội mà Quốc hội hay Chính phủ đề ra. Mục tiêu xã hội đó, thường là: giảm nghèo, tạo việc làm, bảo vệ môi trường, khắc phục thiên tai, cải thiện đời sống cho các vùng khó khăn và đồng bào thiểu số, di dân, hồi hương, tái hòa nhập cộng đồng,... Tùy theo điều kiện từng nước mà nhấn mạnh nhóm mục tiêu, song thường là có tính chất tổng hợp các yêu cầu an sinh xã hội. Cụ thể là, NHCSXH phải tham gia tích cực, đóng vai trò tích cực trong việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững của một quốc gia, một vùng lãnh thổ.
Từ những phân tích ở trên, tác giả cho rằng, một NHCSXH bền vững là ngân hàng đạt được các mục tiêu hoạt động, phát triển liên tục, bảo toàn và gia tăng vốn, đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý và có hiệu quả của khách hàng, góp phần giải quyết các chính sách xã hội của quốc gia.
Vậy có những tiêu chí nào đánh giá sự phát triển bền vững của NHCSXH?
Về mặt định tính, một NHCSXH phát triển bền vững không chỉ tính đến các yêu cầu phát triển riêng của bản thân ngân hàng. Nếu như khách hàng vay vốn không nâng cao được năng lực, nâng cao hay cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt, làm ăn,... sau một hay một số chu kỳ vay vốn thì chưa phải là sự phát triển bền vững của NHCSXH. Hơn thế nữa, các mục tiêu xã hội của nền kinh tế, như: giảm nghèo, tạo việc làm mới và nâng cao thu nhập, bảo vệ môi trường,... không đạt được thì hoạt động của NHCSXH hầu như không có ý nghĩa. Như vậy, sự phát triển bền vững của một NHCSXH đó là đáp ứng được các yêu cầu tồn tại và phát triển của bản thân ngân hàng, của khách hàng và yêu cầu chính sách xã hội của quốc gia.
Về mặt định lượng, có các tiêu chí cơ bản sau đây:
1- Đối với ngân hàng: sự tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước về: quy mô nguồn vốn hoạt động, dư nợ cho vay, số lượng khách hàng; tỷ lệ nợ xấu trong giới hạn cho phép.
2- Đối với người vay vốn: cải thiện được điều kiện làm ăn, điều kiện sống, thu nhập, việc làm, dân trí, tay nghề,... hoàn trả vốn vay và các yêu cầu tài chính khác theo cam kết.
3- Đối với nền kinh tế: tỷ lệ giảm nghèo hàng năm, tỷ lệ việc làm mới gia tăng hay tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm; điều kiện của người dân ở vùng thiên tai, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa,... được cải thiện. Vấn đề bảo vệ môi trường có chuyển biến.
Một số tiêu chí đối với nền kinh tế cần phải đánh giá trong trạng thái động, cụ thể như: tiêu chí hộ nghèo được nâng lên so với mặt bằng chung về phát triển kinh tế, thu nhập quốc dân bình quân đầu người; việc làm mới tạo ra gắn liền với tốc độ tăng dân số,....
Một số liên hệ thực tiễn với NHCSXH Việt Nam
Một là, nhóm chỉ tiêu thuộc về ngân hàng
- Trước khi thành lập NHCSXH Việt Nam, tức là trước tháng 10/2002, có 3 mảng tín dụng chính sách thuộc về 3 tổ chức khác nhau giải ngân cho vay: i) NHNo&PTNT Việt Nam nhận ủy thác cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Phục vụ người nghèo, thực hiện từ năm 1995: quy mô dư nợ của lĩnh vực xã hội này là lớn nhất. ii) Ngân hàng Công thương Việt Nam cho học sinh sinh viên vay vốn học tập: kết quả khiêm tốn; iii) Kho bạc Nhà nước cho vay giải quyết việc làm: kết quả rất khiêm tốn, tỷ lệ nợ quá hạn khi bàn giao cho NHCSXH cao.

NHCSXH bền vững là ngân hàng đạt được các mục tiêu hoạt động, phát triển liên tục, bảo toàn và gia tăng vốn,
đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý và có hiệu quả của khách hàng, góp phần giải quyết các chính sách xã hội của quốc gia

 
Do những hạn chế của 3 kênh nói trên, đồng thời yêu cầu tái cơ cấu TCTD cũng như đáp ứng yêu cầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, NHCSXH được thành lập, tập trung 3 chương trình tín dụng nói trên, đồng thời liên tục phát triển các chương trình, dự án mới. Từ 3 chương trình ban đầu, đến nay, đã lên tới 24 chương trình, dự án; dư nợ cho vay tăng trưởng bình quân khoảng trên 10%/năm. Tổng dư nợ các chương trình tín dụng đến 30/6/2017 đạt 166.426 tỷ đồng, tăng 5,8% so với cuối năm 2016; trong đó, dư nợ tín dụng thực hiện theo chỉ tiêu kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đạt 148.960 tỷ đồng, hoàn thành 71% kế hoạch, với gần 6,8 triệu người nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ, dư nợ bình quân 25 triệu đồng/hộ.  Như vậy, xét về góc độ này rõ ràng NHCSXH đảm bảo được yêu cầu về phát triển liên tục và phát triển ổn định của sự phát triển bền vững.
- Tỷ lệ nợ xấu thấp. Chất lượng tín dụng chính sách không ngừng được củng cố, nâng cao. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh hiện nay chỉ chiếm 0,82% tổng dư nợ, trong đó nợ quá hạn chiếm tỷ lệ 0,43%. Các khoản nợ xấu này hầu hết rơi vào nguyên nhân bất khả kháng, nguyên nhân khách quan, người vay đã mất, người vay đi khỏi nơi cư trú không còn thông tin, người đi xuất khẩu lao động phải về nước trước thời hạn, tai nạn, ốm đau kéo dài, thiên tai,... Nguyên nhân chủ quan hầu như không có, tất nhiên là không thể tuyệt đối vấn đề này.
- Nguồn vốn của NHCSXH cũng đang khá đa dạng và tăng trưởng ổn định. Đến ngày 30/6/2017, tổng nguồn vốn đạt trên 173.000 tỷ đồng, tăng 13.816 tỷ đồng so với cuối năm 2016. Trong đó, nguồn vốn nhận ủy thác từ địa phương đạt 8.112 tỷ đồng, chiếm 4,6% tổng nguồn vốn; huy động vốn của các tổ chức kinh tế, cá nhân và dân cư là 8.335 tỷ đồng, tiền gửi tiết kiệm thông qua tổ tiết kiệm và vay vốn 6.101 tỷ đồng.
Hai là, nhóm chỉ tiêu thuộc về người vay
Thực tế về số liệu kế toán của NHCSXH nói trên cũng chứng tỏ trình độ dân trí, nhận thức của người dân về sử dụng vốn tín dụng chính sách, về dịch vụ tài chính chính thức của nhà nước đã được nâng cao, nếu có nguồn thu nhập họ sẵn sàng trả nợ trước hạn. Nếu sử dụng vốn không hiệu quả, không có khả năng đầu tư để thu hồi vốn và có lãi trả nợ thì họ không vay, mặc dù mức cho vay đã được nâng lên. Người vay sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, có nguồn thu nhập, tạo được việc làm tại chỗ, trả nợ đúng hạn cho NHCSXH để quay vòng tiếp tục cho vay.
Ba là, nhóm chỉ tiêu về nền kinh tế
 Báo cáo chính thức quốc gia, báo cáo của Hội đồng Nhân dân các tỉnh, thành phố,... đều cho thấy tỷ lệ hộ nghèo giảm, số người được tạo việc làm mới có chuyển biến, hay ngăn chặn được số người thất nghiệp trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Một số báo cáo chính thức khác cũng ghi nhận số lượng sinh viên, học sinh được vay vốn, những chuyển biến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn,... Đánh giá của một số tổ chức quốc tế cũng ghi nhận những thành công trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề an sinh xã hội của Việt Nam.
Kết quả đó có những đóng góp không thể phủ nhận của NHCSXH Việt Nam mà nhiều bài viết và nhiều tài liệu đã đề cập. Tuy nhiên, trong xu hướng hội nhập cũng như xu hướng vận động của nền kinh tế, còn nhiều vấn đề cần được giải quyết một cách bền vững, mà trọng tâm là giải pháp tín dụng chính sách xã hội, đặ trọng trách lớn cho NHCSXH Việt Nam trong ngắn hạn cũng như trung, dài hạn.
Một số kiến nghị đề xuất
Theo tác giả bài viết, vấn đề đầu tiên là phải giải quyết một cách cơ bản, ổn định nguồn vốn hoạt động của NHCSXH Việt Nam, bởi vì, Ngân hàng này không thể cạnh tranh bình đẳng huy động vốn trên thị trường như các NHTM khác. Chính phủ nên giao cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính cần khẩn trương hoạch định chính sách tạo lập nguồn vốn ổn định, bền vững, cơ chế xử lý nợ rủi ro khách quan, cơ chế tài chính Ngành theo hướng nâng cao tính tự chủ, giảm dần tính thụ động, chắp vá trong tổ chức chỉ đạo, điều hành. Nguồn vốn theo kế hoạch hàng năm phải được ghi vào danh mục chi ngân sách nhà nước được Quốc hội phê chuẩn. Có quy định cụ thể về tỷ lệ đóng góp thống nhất trong toàn quốc đối với nguồn vốn tăng thu, tiết kiệm chi thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương để lập quỹ cho vay ưu đãi thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi của địa phương. Đồng thời, nghiên cứu, ban hành cụ thể hơn nữa chính sách đa dạng hoá các nguồn vốn để huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tài chính, ngân hàng, nguồn đóng góp tự nguyện của cộng đồng dân cư, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; có cơ chế cho phép NHCSXH được trực tiếp nhận nguồn vốn ODA. Về góc độ nguồn vốn, bài viết xin đề xuất các giải pháp cụ thể sau:
Một là, tiếp nhận tiền gửi 2% của các TCTD trong nước
Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ quy định: “Các TCTD nhà nước có trách nhiệm duy trì số dư tiền gửi tại NHCSXH bằng 2% số dư nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam tại thời điểm 31/12 năm trước. Việc thay đổi tỷ lệ số dư tiền gửi nói trên do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Tiền gửi của các TCTD nhà nước tại NHCSXH được trả lãi bằng lãi suất tính trên cơ sở bình quân lãi suất huy động các nguồn vốn hàng năm của TCTD + phí huy động hợp lý do hai bên thỏa thuận”.
Tác giả bài viết đề xuất, thay cho tỷ lệ 2% nói trên với cơ chế lãi suất như trên, bằng tỷ lệ 2% tổng số dư tiền gửi nội tệ, áp dụng cho tất cả các NHTM Việt Nam (không tính ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài) và tỷ lệ 2% đó được tính vào tỷ lệ tiền gửi bắt buộc của NHTM tại NHNN. Về lãi suất, tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng gửi tại NHTM. Do đó, nếu tính 2% thì NHCSXH ước tính sẽ có khoảng 50.000 - 65.000 tỷ đồng, có tính chất tăng trưởng ổn định theo tốc độ tăng tiền gửi nội tệ tại các NHTM Việt Nam.
Hai là, nguồn vốn vay NHNN
NHCSXH thực hiện vay từ NHNN trên cơ sở kế hoạch nguồn vốn hàng năm của NHCSXH đã được Bộ Tài chính thông qua. Vì NHNN là ngân hàng của các ngân hàng, do vậy, NHCSXH khi cần thiết cũng có thể vay từ NHNN.
Đây là nguồn vốn quan trọng của NHCSXH, cần được tổng kết, đánh giá kênh nguồn vốn này trong thời gian qua để có thể đảm bảo ổn định trong thời gian tới. Hay, tính toán trên cơ sở kế hoạch nguồn vốn hàng năm của NHCSXH trừ đi các nguồn vốn khác, thì còn lại được cân đối từ nguồn này.
Ba là, nguồn vốn vay các tổ chức tài chính tín dụng trong nước
Cũng như các ngân hàng khác, việc NHCSXH vay các tổ chức tài chính, tín dụng khác trong nước được quy định trong điều lệ, việc vay vốn thực hiện khi có nhu cầu, vay từng lần và phải đưa vào kế hoạch huy động vốn hàng năm của NHCSXH đã được Bộ Tài chính phê duyệt.
Việc vay vốn trên cơ sở thỏa thuận, lãi suất trả cho khoản vốn vay này trên nguyên tắc thỏa thuận nhưng theo quy định của Bộ Tài chính: lãi suất vay không vượt quá lãi suất tối đa cùng kỳ hạn của các NHTM Nhà nước trên địa bàn.
Thực tế cho thấy, kênh vay vốn này cũng có những khó khăn nhất định và không thể trông chờ có tính chất ổn định lâu dài được.
Bốn là, nguồn vốn vay từ Bảo hiểm Xã hội: Lãi suất tiền vay do Bộ Tài chính quy định từng lần.
Hiện nay, vay từ kênh Bảo hiểm xã hội cần được đánh giá và cân đối chủ động hàng năm. Đồng thời, nên tính toán vay mới từ kênh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Đây là nguồn vốn khá quan trọng.
Năm là, ngồn vốn vay các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài
NHCSXH được thực hiện vay vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài. Việc vay vốn được Chính phủ bảo lãnh. Lãi suất vay vốn trong trường hợp này phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
Kênh vay vốn này không phải dễ dàng vì tùy thuộc vào kết quả đàm phán và tạo lòng tin của các nhà tài trợ quốc tế vào NHCSXH, đồng thời, NHCSXH phải chủ động xây dựng đề án, dự án có tính thuyết phục theo thông lệ quốc tế và theo yêu cầu quốc tế.
Sáu là, nguồn vốn huy động của dân cư
Nguồn vốn này NHCSXH tự tổ chức huy động trên thị trường, theo nguyên tắc thương mại, có sự cạnh tranh của các TCTD khác trên địa bàn.
Như phần trên đã đề cập, giải pháp này không có tính khả thi, không hiệu quả.
Bảy là, nguồn vốn huy động của người nghèo vay vốn
Đối với đối tượng là người nghèo vay vốn, NHCSXH không cho vay từng cá nhân, hộ nghèo riêng lẻ mà thực hiện cho vay trực tiếp đến hộ thông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn, có nghĩa là hộ nghèo muốn vay vốn phải tham gia vào tổ tiết kiệm và vay vốn tại địa phương. Các tổ do cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương, được UBND xã (phường) cho phép thành lập và hoạt động.
Nguồn vốn này tỷ trọng nhỏ, nên không phải kênh huy động vốn chủ đạo.
Tám là, nguồn vốn nhận ủy thác:
 Ngoài việc thực hiện huy động vốn, NHCSXH còn tiếp nhận các nguồn vốn từ Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dưới hình thức vốn nhận ủy thác. Việc nhận vốn ủy thác thường thực hiện thông qua ký kết các văn bản thỏa thuận trong đó nêu rõ: số tiền ủy thác, địa bàn cho vay, đối tượng cho vay, lãi suất và điều kiện cho vay, mức phí ủy thác, thời gian ủy thác, xử lý rủi ro.
Về bản chất, đây là nguồn vốn mà NHCSXH nhận ủy thác cho vay, hưởng phí dịch vụ. Do vậy, nó mang tính tự nguyện giữa hai bên, tùy thuộc vào chính sách và điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, mỗi tổ chức, nên không có tính chất ổn định, cần được đánh giá hoạt động nhận ủy thác thời gian qua của NHCSXH để có đề xuất mới, hiệu quả cho thời gian tới.
Trước mắt, trong thời điểm hiện nay, NHCSXH cần chủ động tiếp tục tổ chức tốt việc huy động vốn; theo dõi, bám sát thị trường; phối hợp chặt chẽ với các Vụ, Cục chức năng của NHNN và Bộ Tài chính để đẩy mạnh phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh theo hạn mức đã được Thủ tướng phê duyệt; Tiếp tục tham mưu cho các cấp, các ngành, địa phương tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 401/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tranh thủ nguồn lực từ ngân sách địa phương để bổ sung nguồn vốn cho vay trên
địa bàn.
NHCSXH Việt Nam cũng tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đề nghị Quốc hội, Chính phủ phê chuẩn, giao kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020; xem xét nâng mức cho vay chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; đồng thời rà soát, đánh giá chính sách tín dụng để kiến nghị Chính phủ hoạch định cơ chế phù hợp cho công tác giảm nghèo đối với từng vùng.
Hiện nay, có rất nhiều chương trình, dự án, do các Bộ, ngành khác nhau phụ trách, triển khai từ nguồn vốn ngân sách đầu tư cho người nghèo, đối tượng chính sách, đồng bào thiểu số, vùng thiên tai,… như: chương trình dạy nghề nông thôn, Ủy ban Dân tộc, Hội nông dân,… cần có sự đánh giá tổng thể, tránh chồng chéo, chuyển dần và chuyển từng phần qua kênh tín dụng chính sách.
Xây dựng các chương trình, dự án mới, mở ra các đối tượng mới hưởng thụ tín dụng chính sách, nhất là các chương trình về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hộ gia đình chính sách ở đô thị, gia đình công nhân thiếu nhà ở trong các khu công nghiệp, khu chế xuất; nhà ở cho giáo viên miền núi,…; các doanh nghiệp thực hiện các dự án xã hội, dự án chính sách, dự án ở vùng thiên tai.
Hệ thống NHCSXH cần tiếp tục tham mưu cho các cấp, các ngành tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số
40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 401/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chủ động tranh thủ nguồn lực từ ngân sách địa phương để bổ sung nguồn vốn cho vay trên địa bàn; Tiếp tục làm tốt công tác kiểm tra kiểm soát.
Được biết, hiện nay, NHCSXH Việt Nam cũng đang tập trung chỉ đạo việc củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng trong toàn hệ thống, đặc biệt, đối với các chi nhánh có chất lượng tín dụng còn thấp hoặc chưa ổn định, gắn liền với việc làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát. Đây là một biện pháp thiết thực góp phần giảm tỷ lệ nợ khoanh, giảm tỷ lệ nợ quá hạn. Bên cạnh đó, NHCSXH cũng tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội, tăng cường công tác chỉ đạo, tập huấn nghiệp vụ cho các cán bộ tham gia công tác ủy thác, nhằm đảm bảo sự tham gia ổn định, tích cực của các tổ chức này vào các chương trình tín dụng chính sách xã hội, trong điều kiện năm 2017, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức Đại hội các cấp, nên có nhiều sự thay đổi nhân sự, nhất là ở cấp cơ sở. Đây cũng là những giải pháp góp phần phát triển bền vững của NHCSXH trong giai đoạn hiện nay.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Báo cáo NHCSXH Việt Nam.
- Một số nguồn khác.
 
(Tạp chí Ngân hàng số 20, tháng 10/2017)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Thực trạng tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Thực trạng tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
25/04/2024 144 lượt xem
Tín dụng chính sách xã hội là một chủ trương mang tính nhân văn sâu sắc, đồng thời cũng là một trong những trụ cột trong hệ thống các chính sách giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới. Đây là chính sách hết sức thiết thực, hiệu quả, đã thực sự đi vào cuộc sống và được người dân đồng tình ủng hộ.
Agribank - Ngân hàng thương mại hàng đầu, chủ lực đầu tư phát triển kinh tế “Tam nông”
Agribank - Ngân hàng thương mại hàng đầu, chủ lực đầu tư phát triển kinh tế “Tam nông”
25/04/2024 322 lượt xem
Với hành trình 36 năm xây dựng và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) luôn đồng hành cùng nền kinh tế của đất nước, vượt qua bao gian khó, không ngừng trưởng thành, khẳng định vai trò là công cụ hữu hiệu của Đảng, Nhà nước trong việc phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Tạo lập nguồn vốn qua kênh tín dụng ngân hàng góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An
Tạo lập nguồn vốn qua kênh tín dụng ngân hàng góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An
19/04/2024 405 lượt xem
Tỉnh Long An là địa phương có vị trí thuận lợi, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giáp ranh với Thành phố Hồ Chí Minh và là cửa ngõ đi về các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Cùng với đó, điều kiện tự nhiên của tỉnh Long An cũng rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp.
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hưng Yên: Phát huy vai trò trụ cột giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội ở địa phương
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hưng Yên: Phát huy vai trò trụ cột giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội ở địa phương
09/04/2024 946 lượt xem
Xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên hôm nay đã là địa danh nổi tiếng với nhiều loại cây ăn quả, nơi cung cấp cây giống, cây cảnh ra toàn quốc và xuất khẩu sang nhiều nước láng giềng.
Đảm bảo an ninh, an toàn trong lĩnh vực thanh toán trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Đảm bảo an ninh, an toàn trong lĩnh vực thanh toán trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
29/03/2024 1.622 lượt xem
Thời gian qua, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã có những đóng góp tích cực vào phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương; trong đó, việc quản lí và đảm bảo an ninh, an toàn trong lĩnh vực thanh toán luôn được lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh tỉnh Quảng Trị chú trọng, quan tâm chỉ đạo sát sao.
Agribank cùng ngành Ngân hàng đóng góp quan trọng vào sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế đất nước
Agribank cùng ngành Ngân hàng đóng góp quan trọng vào sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế đất nước
26/03/2024 1.834 lượt xem
Ngay từ những tháng đầu năm 2024, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đã nỗ lực quyết liệt triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cùng ngành Ngân hàng thúc đẩy các động lực tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.
Phát huy lực lượng và tiềm năng của thế hệ trẻ từ nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội
Phát huy lực lượng và tiềm năng của thế hệ trẻ từ nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội
25/03/2024 1.827 lượt xem
Đảng ta xác định “thanh niên giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người”. Nghị quyết số 04-NQ/HNTW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kì mới...
Tín dụng chính sách: Nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ
Tín dụng chính sách: Nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ
12/03/2024 2.509 lượt xem
Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác phụ nữ; ban hành nhiều văn kiện, nghị quyết, chính sách, pháp luật, nghị định...
Agribank Chi nhánh tỉnh Quảng Trị dành nhiều ưu đãi hỗ trợ các đối tượng hưởng chính sách thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt
Agribank Chi nhánh tỉnh Quảng Trị dành nhiều ưu đãi hỗ trợ các đối tượng hưởng chính sách thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt
11/03/2024 2.772 lượt xem
Thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/11/2022 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy chuyển đổi số trong chi trả an sinh xã hội (ASXH) không dùng tiền mặt và Công văn số 123/UBND-KGVX ngày 08/01/2024 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Trị về tăng cường thực hiện chi trả ASXH không dùng tiền mặt trên địa bàn tỉnh...
Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền - mục tiêu quan trọng và xuyên suốt của chính sách bảo hiểm tiền gửi
Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền - mục tiêu quan trọng và xuyên suốt của chính sách bảo hiểm tiền gửi
27/02/2024 2.614 lượt xem
Năm 2023 qua đi với những dấu ấn quan trọng của ngành Ngân hàng vào quá trình phục hồi kinh tế - xã hội, đảm bảo thanh khoản và sự phát triển an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Cư M’gar đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Cư M’gar đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
26/02/2024 3.994 lượt xem
Qua hơn 20 năm hoạt động tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn, đến nay, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện cho vay 16 chương trình tín dụng chính sách...
Tổ vay vốn - cầu nối gắn kết giữa Agribank và khách hàng
Tổ vay vốn - cầu nối gắn kết giữa Agribank và khách hàng
26/02/2024 2.796 lượt xem
Thực hiện chính sách tín dụng theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ giai đoạn 2016 - 2020, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Thỏa thuận liên ngành giai đoạn 2021 - 2025, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)...
Tăng cường xây dựng khuôn khổ pháp lý trong công tác phòng, chống rửa tiền
Tăng cường xây dựng khuôn khổ pháp lý trong công tác phòng, chống rửa tiền
19/02/2024 2.619 lượt xem
Xây dựng khuôn khổ pháp lý trong công tác phòng, chống rửa tiền (PCRT) luôn được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đặc biệt quan tâm trong quá trình thực hiện công tác PCRT ở Việt Nam. Trong năm 2023, nhiều văn bản hướng dẫn Luật PCRT năm 2022 được ban hành, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức báo cáo triển khai hiệu quả công tác PCRT.
Phát triển tín dụng xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long: Kết quả, thách thức và một số khuyến nghị
Phát triển tín dụng xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long: Kết quả, thách thức và một số khuyến nghị
16/02/2024 2.836 lượt xem
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trên thế giới về các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đổi mới hoạt động, tích cực chăm lo đời sống đoàn viên, người lao động
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đổi mới hoạt động, tích cực chăm lo đời sống đoàn viên, người lao động
14/02/2024 2.133 lượt xem
Năm 2023 là năm ghi dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển của Công đoàn Ngân hàng Việt Nam (NHVN) với các hoạt động, sự kiện nổi bật kỷ niệm 30 năm thành lập và đặc biệt đã tổ chức thành công Đại hội Công đoàn NHVN lần thứ VII, nhiệm kỳ 2023 - 2028.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

81.000

83.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

81.000

83.500

Vàng SJC 5c

81.000

83.520

Vàng nhẫn 9999

74.200

76.100

Vàng nữ trang 9999

74.000

75.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,145 25,485 26,411 27,860 30,670 31,974 159.56 168.87
BIDV 25,185 25,485 26,528 27,748 30,697 31,977 159.6 168
VietinBank 25,160 25,485 26,651 27,946 31,096 32,106 161.07 169.02
Agribank 25,180 25,485 26,599 27,900 30,846 32,001 160.64 168.67
Eximbank 25,160 25,485 26,632 27,531 30,915 31,959 161.35 166.79
ACB 25,190 25,485 26,768 27,476 31,178 31,876 161.53 166.97
Sacombank 25,250 25,485 26,880 27,440 31,315 31,817 162.5 167.51
Techcombank 25,228 25,485 26,523 27,869 30,720 32,037 157.83 170.27
LPBank 24,943 25,485 26,344 27,844 31,044 31,948 159.37 170.59
DongA Bank 25,250 25,485 26,760 27,440 31,070 31,920 159.80 166.90
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,30
2,40
2,60
3,50
3,70
4,50
4,50
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,20
2,20
2,30
3,40
3,45
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,30
3,80
3,80
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?