Hiệp định RCEP: Vấn đề và triển vọng
10/09/2020 5.628 lượt xem
Trong bối cảnh xu hướng bảo hộ mậu dịch đang nổi lên cản trở toàn cầu hóa, việc kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác toàn diện khu vực RCEP (Regional Comprehensive Economic Partnership) lần thứ 28 (9/2019 tại Đà Nẵng) để triển khai ký kết trong năm 2020 đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của tất cả các nước tham gia RCEP (trừ Ấn Độ). Hiệp định RCEP sẽ góp phần tạo lập cấu trúc thương mại mới trong khu vực, thúc đẩy toàn cầu hóa theo hướng tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại một cách bền vững.
 
1. Tầm quan trọng của RCEP
 
RCEP là hiệp định thương mại tự do chất lượng cao kết nối khu vực kinh tế năng động và phát triển nhất hiện nay, bao gồm 10 nước ASEAN và Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), châu Đại Dương (Australia, New Zealand) và Ấn Độ. Mục tiêu của RCEP là phá vỡ các rào cản thương mại, thúc đẩy đầu tư nhằm hỗ trợ các thị trường, các nền kinh tế mới nổi bắt kịp với phần còn lại của thế giới. Hiệp định RCEP quan trọng chủ yếu bởi vì RCEP không bao gồm Mỹ và được hậu thuẫn bởi Bắc Kinh. Các nước thành viên RCEP có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các nền kinh tế Mỹ và châu Âu. Nhiều quốc gia RCEP có dân số trẻ. Vì vậy, RCEP được coi là động lực tăng trưởng mới cho thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, RCEP hội tụ những yếu tố cơ bản sau:
 


Tham gia RCEP, Việt Nam có cơ hội tăng thêm từ 2-4% GDP năm 2020 
 
Một là, RCEP là FTA duy nhất hội tụ đa dạng, không đồng nhất từ các nền kinh tế lớn nhất thế giới (Trung Quốc và Nhật Bản), các nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người cao (Singapore, New Zealand, Brunei, Australia), các nền kinh tế công nghiệp hóa (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc), các nền kinh tế có thu nhập trung bình với nguồn tài nguyên thiên nhiên rộng lớn (Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Việt Nam) và các nền kinh tế có thu nhập thấp, kém phát triển (Campuchia, Lào, Myanmar). 
 
Hai là, ASEAN là trung tâm của RCEP. Trong khi các thành viên không thuộc ASEAN của RCEP được kết nối với ASEAN thông qua các FTA ASEAN + 1. Tương lai, RCEP ​​sẽ thay thế tất cả các FTA ASEAN+1.  RCEP là triển vọng sáng sủa đối với ASEAN và Trung Quốc. Hiện ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc. Khi RCEP được ký kết vào năm 2020, ​​thương mại và đầu tư giữa ASEAN - Trung Quốc sẽ tăng nhanh và ảnh hưởng tích cực đến chuỗi giá trị khu vực.
 
Ba là, RCEP có phạm vi mở rộng hơn. So với các FTA ASEAN + 1, thì RCEP có khả năng tiếp cận lớn hơn nhiều. RCEP loại bỏ thuế quan đối với gần 90% hàng hóa giao dịch; quy tắc xuất xứ có giá trị trong toàn bộ khu vực địa lý RCEP; quy định rõ ràng hơn về thương mại dịch vụ và đầu tư nước ngoài xuyên biên giới; nhiều quy tắc mới về tạo thuận lợi cho thương mại điện tử.
 
Hiệp định RCEP kết thúc đàm phán tháng 9/2019 và dự định ký kết năm 2020. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), việc ký kết thành công hiệp định RCEP sẽ cung cấp lợi ích thu nhập toàn cầu khoảng 260 tỷ USD1. Khi RCEP được thực thi sẽ tạo ra một thị trường với quy mô khoảng 3,5 tỷ người tiêu dùng và GDP xấp xỉ 49.000 tỷ USD, chiếm khoảng 39% GDP toàn cầu và sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất trên thế giới với các cam kết về mở cửa thị trường trong lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hải quan, quy tắc xuất xứ tạo thuận lợi cho thương mại.
 
Hiệp định RCEP hướng tới mục tiêu hình thành quan hệ đối tác toàn diện giữa khối ASEAN với 6 đối tác (ASEAN + 6).  RCEP do ASEAN lãnh đạo và được Trung Quốc hỗ trợ tích cực bởi với Trung Quốc, RCEP có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển những ngành chế tạo đang gặp vấn đề của Trung Quốc. RCEP chủ yếu tập trung vào việc cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ, được bắt đầu sớm hơn trên một số phương diện dựa trên quy tắc hoạt động và không có sự phân biệt đối xử nhằm tạo thuận lợi hóa thương mại trong khuyến khích hợp tác khu vực. Nội dung của 20 chương hiệp định RCEP đã được các nước tham gia đàm phán thống nhất, trừ Ấn Độ. 
 
Do RCEP gồm nhiều đối tác ở các trình độ phát triển khác nhau, thậm chí là mức độ tự do hoá của các thành viên cũng khác nhau nên quá trình đàm phán gặp rất nhiều khó khăn. Mục tiêu kỳ vọng RCEP là nâng cao mức hợp lý về thuế quan, hài hòa về quy tắc xuất xứ, chuẩn hóa ở mức phù hợp về các hàng rào phi thuế quan. Tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại giữa các thành viên.
 
2. RCEP với Việt Nam
 
Hiệp định RCEP sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam trên những khía cạnh sau:
 
Thứ nhất, tiếp cận dễ dàng hơn tới các thị trường đầu tư và xuất khẩu của ASEAN và các đối tác. RCEP là khu vực có quy mô thị trường lớn nhất từ trước đến nay mà Việt Nam đã tham gia. Các doanh nghiệp kỳ vọng RCEP sẽ tạo ra một thị trường “khổng lồ”. Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường với sự đa dạng về nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ. Đặc biệt là được tiếp cận với thị trường mua sắm chính phủ (vốn lâu nay vẫn bị đóng cửa để dành cho doanh nghiệp trong nước). 
 
Cơ hội xuất, nhập khẩu từ RCEP, ưu đãi thuế quan sẽ được cải thiện hơn, quy tắc xuất xứ nội khối được hài hòa, dễ đáp ứng; thống nhất trong các quy trình về hải quan, tạo thuận lợi thương mại; giảm chi phí dưới tác động của mở cửa thị trường dịch vụ sản xuất. Tham gia RCEP, Việt Nam có cơ hội tăng thêm từ 2 - 4% GDP (2020) so với trường hợp không tham gia2. RCEP chiếm 32,5% luồng vốn đầu tư toàn cầu, ký kết RCEP giúp cho các nhà đầu tư được đối xử công bằng, bình đẳng, được bảo hộ an toàn và đẩy đủ.
 
Thứ hai, mở cơ hội đẩy mạnh xuất - nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn (là đầu vào cho sản xuất) và máy móc thiết bị có công nghệ hiện đại phù hợp. Khi RCEP được ký kết và có hiệu lực, nguồn nguyên liệu sản xuất doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu từ các nước trong khối ASEAN + 6 sẽ được xem như là nguồn nguyên liệu sản xuất tại Việt Nam khi xuất khẩu sản phẩm sang các nước có ký kết hiệp định song phương, đa phương với Việt Nam. Nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn như thép của Trung Quốc, sản phẩm nhựa của Hàn Quốc và Nhật Bản. RCEP tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu máy móc thiệt bị hiện đại phù hợp từ Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nước ASEAN với mức thuế quan hợp lý.
 
Thứ ba, tham gia vào mạng lưới chuỗi giá trị và sản xuất khu vực. RCEP thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó giúp tận dụng cơ hội trong chuỗi giá trị. RCEP bao trùm toàn bộ chuỗi sản xuất một số loại hàng hóa của Việt Nam. Ví dụ, trong lĩnh vực dệt - may, do CPTPP không có Trung Quốc tham gia, nên Việt Nam khó tận dụng ưu đãi thuế quan bởi nguyên liệu dệt - may chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng nhờ Trung Quốc tham gia RCEP.  Chính điều này tạo ra sự khác biệt rất lớn giữa RCEP và các hiệp định thương mại tự do khác.
 
Các thị trường trong khối RCEP hiện bao trùm gần như toàn bộ chuỗi sản xuất của nhiều loại hàng hóa mà Việt Nam có thế mạnh, như sản phẩm điện tử, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến... Ngành dệt may với chi phí sản xuất thấp, tham gia RCEP giúp các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam tiếp cận sâu rộng hơn các thị trường tiêu dùng giàu có Australia, New Zealand và Trung Quốc. Với sự tham gia của các đối tác là nguồn cung nguyên liệu lớn cho Việt Nam (Trung Quốc, Hàn Quốc...), việc hài hòa quy tắc xuất xứ cùng các quy định tạo thuận lợi thương mại trong RCEP sẽ tạo ra những chuỗi giá trị khu vực mới, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các ưu đãi thuế quan trong RCEP.
 
Thứ tư, cắt giảm chi phí giao dịch và hưởng môi trường kinh doanh thân thiện hơn. RCEP là thị trường có mức độ phát triển kinh tế mạnh nên nhu cầu rất lớn. Đặc điểm của người tiêu dùng trong RCEP (16 nước) không đòi hỏi quá cao về chất lượng sản phẩm. Thị trường RCEP có nhu cầu lớn với sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh như điện thoại, sản phẩm điện tử, dệt - may, giày - dép... nhờ hài hòa hóa các quy định hiện hành và áp dụng chung trong các FTA khác nhau của ASEAN, ưu đãi thuế quan được cải thiện hơn nữa, quy tắc xuất xứ nội khối được hài hòa, dễ đáp ứng hơn. Bên cạnh đó, các quy trình về hải quan sẽ được thống nhất, tạo thuận lợi thương mại. RCEP có đàm phán mở cửa tốt hơn cho ngành dịch vụ hậu cần logistics, viễn thông...; nền tảng thương mại điện tử tốt hơn, môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, cạnh tranh hơn.
Dù kịch bản RCEP 16 (có Ấn Độ) hay RCEP 15 (không có Ấn Độ) với bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn tiếp diễn, thì Việt Nam đều được cho là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất, với tác động tăng 0,70% GDP (RCEP 16) hoặc 0,66% (RCEP 15) tới năm 20303.
 
3. Triển vọng của RCEP
 
Ấn Độ không tham gia RCEP trong khi tăng trưởng của Ấn Độ đòi hỏi động lực xuất khẩu sang các thị trường châu Á, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, bao gồm những lĩnh vực phần mềm mà Ấn Độ có lợi thế. Nếu tham gia RCEP, các doanh nghiệp xuất khẩu Ấn Độ có cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, mang lợi ích và hỗ trợ tạo thêm việc làm cho Ấn Độ. Thiếu RCEP, sự hội nhập của Ấn Độ với châu Á sẽ khó được thực hiện. (Bảng 1)

 
Trên lý thuyết, tự do hóa thương mại đem đến nhiều những tác động tích cực cho nền kinh tế, nhưng thực tế, trong bối cảnh khu vực - đặc biệt là nỗi lo với vị thế áp đảo của Trung Quốc - khiến quyết định của Ấn Độ chưa tham gia RCEP trong tình hình hiện tại là bởi những lý do căn bản sau:
Thứ nhất, Ấn Độ chưa thỏa mãn các yêu cầu trong RCEP. Nhu cầu cốt lõi của Ấn Độ là sớm được cắt giảm thuế quan và mở cửa thị trường cho những ngành thế mạnh không được đáp ứng, duy trì thuế quan đối với một số mặt hàng nông sản nhạy cảm và kéo dài lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng khác, nhưng đề xuất này không được giải quyết thỏa đáng. Thực tế, Ấn Độ đang chịu mức thâm hụt thương mại lớn, khoảng 105 tỷ USD với các nước RCEP, chỉ riêng thâm hụt với Trung Quốc đã lên tới mức 58 tỷ USD (2018)4- chiếm một nửa tổng thâm hụt thương mại của Ấn Độ với các nước RCEP. Do thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc nên Ấn Độ muốn có nhiều biện pháp bảo hộ hơn trong hiệp định RCEP. Thâm hụt sẽ gia tăng nhanh nếu Ấn Độ tham gia vào RCEP mà không đưa ra các cải cách bổ sung để tăng sức cạnh tranh trong nước.
 
Nếu Ấn Độ quyết định gia nhập, Ấn Độ sẽ phải hủy bỏ thuế quan cho gần 90% các sản phẩm thương mại với ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc; khoảng 74% các sản phẩm với Trung Quốc, Úc và New Zealand, những mức thuế mới chắc chắn sẽ làm thâm hụt thương mại của Ấn Độ tăng thêm.
 
Thứ hai, tham gia RCEP sẽ đẩy các doanh nghiệp và nông dân Ấn Độ vào cuộc cạnh tranh khốc liệt với “những người khổng lồ” từ các quốc gia khác. Ngành công nghiệp nội địa sẽ bị ảnh hưởng khi hàng giá rẻ Trung Quốc tràn vào. Nông sản Úc, New Zeland sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới nông dân Ấn Độ. Ngành sữa và các sản phẩm từ sữa cũng như lĩnh vực nông nghiệp ở Ấn Độ cũng sẽ bị tác động dưới cơ chế RCEP.  Điều này tác động đến các ngành công nghiệp trong nước và làm tổn thương sáng kiến “Made in India” của Chính quyền Modi. 
 
Thứ ba, những lo lắng về tình hình kinh tế trong nước. Kinh tế Ấn Độ đang trải qua khoảng thời gian khó khăn. Tăng trưởng GDP chậm lại trong quý thứ 5 liên tiếp kể từ quý I/ 2018. Khi Ấn Độ đang phải giải chịu nhiều áp lực trong việc giải quyết tình hình kinh tế trong nước thì thỏa thuận thương mại lớn như RCEP, theo Ấn Độ chỉ có lợi cho tầng lớp người giàu, thay vì người nghèo, tác động tiêu cực đến cuộc sống của những người nghèo trong xã hội và hàng triệu người sẽ bị mất việc làm do hàng hóa giá rẻ tràn vào. Nhiều hãng sản xuất Ấn Độ cảnh báo về khả năng hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Ấn Độ, trong đó, dệt may, sữa và nông nghiệp là ba ngành dễ bị tổn thương nhất. 
 
Vấn đề nội tại cơ bản của nền kinh tế Ấn Độ là quy mô sản xuất hàng hóa nhỏ và thiếu một nền kinh tế hướng vào xuất khẩu đủ sức cạnh tranh. Không giống nhiều nước trong RCEP, Ấn Độ không có lĩnh vực sản xuất đủ sức cạnh tranh vào các thị trường nước ngoài thông qua hiệp định RCEP. Ấn Độ muốn mở rộng phạm vi hiệp định RCEP sang cả lĩnh vực dịch vụ, chứ không chỉ đơn thuần là hàng hóa sản xuất. Bởi lĩnh vực dịch vụ, Ấn Độ là một trong những nước đi đầu khu vực. Lĩnh vực dịch vụ mà Ấn Độ có lợi thế so sánh - cung ứng phần mềm, viễn thông, dịch vụ giáo dục... lại không được tự do hóa. Ấn Độ muốn thay đổi hiệp định theo hướng có lợi hơn cho các doanh nghiệp Ấn Độ.
 
Thứ tư, mục tiêu của Ấn Độ với chiến lược “hướng Tây”. Ấn Độ muốn tìm thỏa thuận thương mại với Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) - nơi ngành công nghiệp và dịch vụ Ấn Độ có tính cạnh tranh và hưởng lợi lớn trong tiếp cận các thị trường phát triển. Các lĩnh vực như đá quý, dệt may, nông sản đang tạo động lực để Ấn Độ ký thỏa thuận thương mại với EU. Ấn Độ muốn ký Hiệp định tự do mậu dịch không chỉ liên quan đến hàng hóa gia công vốn là ưu thế của Trung Quốc, mà còn phải liên quan đến các ngành dịch vụ bởi Ấn Độ là quốc gia dẫn đầu khu vực trong lĩnh vực dịch vụ.
 
Mỹ được xem là đối tác quan trọng nhất toàn cầu của Ấn Độ5. Bởi Ấn Độ kỳ vọng, việc hợp tác với Mỹ và EU sẽ mang lại giải pháp trong việc cản trở sự bành trướng của Trung Quốc và giúp Ấn Độ đạt được nhiều cải cách để phát triển nền kinh tế. Bên cạnh mục tiêu rút ngắn thâm hụt thương mại, Ấn Độ mong muốn việc hợp tác với Mỹ và EU sẽ mang lại sự đảm bảo về kinh tế lẫn chính trị, giúp Ấn Độ củng cố vị trí và đủ sức cạnh tranh với các cường quốc khác như Trung Quốc.
 
Trong bối cảnh khó khăn do chiến tranh thương mại với Mỹ, Trung Quốc  muốn tiếp cận sâu hơn vào thị trường Ấn Độ vốn có tiềm năng to lớn và RCEP là cơ hội đặc biệt. Thương mại hai chiều giữa Ấn Độ và Trung Quốc đạt mức 95,5 tỷ USD trong năm 20186. Rút khỏi RCEP, Ấn Độ sẽ chịu nhiều bất lợi bởi lẽ, Ấn Độ hiện nằm ngoài cả hai khối thương mại, vốn được cho là sẽ xác định tương lai của toàn bộ châu Á, đó là RCEP và CPTPP7. Đây là tín hiệu không sáng sủa cho tương lai của Ấn Độ khi quốc gia đang cam kết cải cách kinh tế và thương mại. Rút khỏi RCEP Ấn Độ cũng đánh mất cơ hội tăng cường chiến lược của Ấn Độ với khu vực. Hiện khoảng 20% hàng hóa của Ấn Độ xuất khẩu tới các quốc gia RCEP và 35% hàng hóa nhập khẩu của Ấn Độ từ các quốc gia RCEP.
 
Ấn Độ không ký được RCEP là đòn giáng mạnh vào những quốc gia ủng hộ thương mại tự do, nhất là đối với Bắc Kinh, bởi Trung Quốc luôn có tham vọng mở rộng quan hệ đối tác khi bị chính quyền Mỹ “kìm hãm” phát triển kinh tế bằng chiến tranh thương mại.
 
Kết luận, so với CPTPP thì RCEP lớn hơn bởi dân số và nền kinh tế RCEP lớn hơn. Hiệp định RCEP là FTA “toàn diện” hơn vì bao gồm cả các nền kinh tế kém phát triển, thu nhập thấp cũng như thu nhập cao và thu nhập trung bình. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi của khu vực và thế giới (hòa bình và hợp tác, tự do hóa thương mại vẫn là xu thế lớn), RCEP vẫn tồn tại nhiều thách thức, tiềm ẩn nhiều nguy cơ không chỉ do căng thẳng thương mại mà còn bị tác động bởi bất ổn chính trị cũng như mức độ tăng trưởng thấp, không duy trì cao như trước. Tuy nhiên, RCEP đã vượt qua những thách thức và kết thúc đàm phán đánh dấu triển vọng tích cực cho thương mại toàn cầu.
 
Hiện các vấn đề và lo ngại của Ấn Độ chưa được giải quyết nên Ấn Độ chưa thể tham gia Hiệp định RCEP. Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn có sự lựa chọn tham gia sau này ngay cả khi RCEP đã được ký kết. Vì vậy, khả năng Ấn Độ gia nhập RCEP trong tương lai không bị loại trừ bởi tự do hóa thương mại không bao giờ đóng đối với bất kỳ quốc gia nào.

___________
 
[1] Hạnh Nhi (2019), RCEP - tình hình và tương lai của hiệp định; https://baothuathienhue.vn/rcep-tinh-hinh-va-tuong-lai-cua-hiep-dinh-a79372.html
[2] Cơ hội từ Hiệp định đối tác toàn diện khu vực RCEP; http://baoninhthuan.com.vn/news/74123p1c25/co-hoi-tu-hiep-dinh-doi-tac-toan-dien-khu-vuc.htm
[3] Renuka Mahadevan và Anda Nugruho (2019), Ấn Độ rút khỏi RCEP: Họ nói không với ai và vì sao? World Economy Journal N 8/2019. https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20191118/an-do-rut-khoi-rcep-ho-noi-khong-voi-ai-va-vi-sao/1547945.html
[4] Vì sao Ấn Độ rút khỏi Hiệp định RCEP; https://enternews.vn/vi-sao-an-do-rut-khoi-hiep-dinh-rcep-160827.html
[5] Cẩm Anh 92019), Ấn Độ và chiến lược “hướng Tây”, https://enternews.vn/toan-tinh-cua-an-do-khi-chuyen-huong-sang-phuong-tay-161234.html
[6] Hà Linh (2019), Lý do Ấn Độ nói không với Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực, Báo 
[7] CPTPP: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (TPP-11)
 
Tài liệu tham khảo:
Thảo Nguyên (2019), Nhiều kỳ vọng từ Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), TTXVN ngày 5/11/2019.
Ngọc Quang (2019), RCEP sẽ mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài; https://baotintuc.vn/thoi-su/rcep-se-mo-them-co-hoi-cho-doanh-nghiep-viet-nam-va-tang-cuong-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-20191104135832874.htm 
Mạnh Đức (2019), Tận dụng cơ hội từ RCEP: Mở rộng xuất khẩu, tham gia sâu hơn chuỗi giá trị; http://vneconomy.vn/tan-dung-co-hoi-tu-rcep-mo-rong-xuat-khau-tham-gia-sau-hon-chuoi-gia-tri-20190926113126731.htm
Mie Oba (2019), RCEP Negotiations for the Reshaping of the Liberal Economic Order; Trade and Economic Connectivity in the Age of Uncertainty; https://www.kas.de/documents/288143/6741384/panorama_trade_MieOba_RCEPNegotiations+fortheReshapingoftheLiberalEconomicOrder.pdf/54b8853c-6052-ab61-d82e-e1bcdff1f92e?t=1564644954394
Amitendu Palit (2019), RCEP a positive signal for global trade, China Daily 8 November 2019.

PGS., TS. Phạm Thị Thanh Bình
ThS. Lê Thị Thu Hương


Theo TCNH số 4/2020
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn chặt đào tạo cơ bản với đào tạo thực tế tại Học viện Ngân hàng
21/02/2024 1.492 lượt xem
Mô hình Ba Nhà là một mô hình nổi tiếng nêu bật sự gắn liền chặt chẽ giữa đào tạo lí thuyết và đào tạo thực tế, thông qua mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ với tiềm năng đổi mới và phát triển kinh tế trong một xã hội tri thức.
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
Triển khai ESG trong lĩnh vực ngân hàng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
20/02/2024 1.679 lượt xem
Chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững đang trở thành một xu hướng tất yếu, là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
Nỗ lực nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam
19/02/2024 1.519 lượt xem
Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được tổ chức vào ngày 14/12/2021 đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển của trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024
16/02/2024 2.584 lượt xem
Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987) đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Riêng năm 2023, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm tốc (chỉ đạt 5,05% GDP so với 8% GDP năm 2022) do bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của vốn FDI.
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
Nhìn lại công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023 - Nhận định dư địa chính sách tiền tệ năm 2024
15/02/2024 1.801 lượt xem
Kinh tế thế giới năm 2023 cho thấy nhiều bất định đến từ căng thẳng địa chính trị cũng như áp lực về tăng trưởng và lạm phát, kéo theo sự điều chỉnh về chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
Việt Nam vững mạnh, vươn cao trong năm Rồng
13/02/2024 1.533 lượt xem
Năm 2024, chúng ta có thể tin tưởng, những khó khăn nhất đã ở phía sau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý IV/2023 đã phục hồi lên 6,72% so với cùng kì năm 2022, góp phần vào tổng mức tăng trưởng cả năm 2023 đạt 5,05%. Đóng góp cho đà hồi phục này là nhờ sự cải thiện về thương mại bắt đầu trong quý cuối cùng của năm 2023.
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2024: Kiên cường và đầy hứa hẹn trước những thách thức
12/02/2024 1.602 lượt xem
Nhìn chung, kinh tế thế giới đang dần hồi phục sau đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị, tuy nhiên, vẫn còn chậm và chưa đồng đều.
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
17/01/2024 3.126 lượt xem
Quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng. Hiện nay, vấn đề quản trị nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định, điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng.
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
Quy định của pháp luật về phí Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và thực tiễn thi hành
16/01/2024 2.131 lượt xem
Với những đặc thù về quy mô, đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống, các QTDND phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện
11/01/2024 2.453 lượt xem
Hiện nay, phát triển kinh tế tuần hoàn đang là xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng. Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên của thế giới ngày càng tăng vượt ngoài khả năng cung ứng của Trái đất. Nếu không có những biện pháp kịp thời, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu tải của môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm lượng tài nguyên cần sử dụng và lượng phế thải tạo ra, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên và giảm tác động gây ô nhiễm môi trường.
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
Nhìn lại thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam năm 2023 và triển vọng lạm phát năm 2024
10/01/2024 7.669 lượt xem
Năm 2023, lạm phát bình quân của Việt Nam tăng 3,25%, đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Đây là năm thứ 12 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức lạm phát một con số kể từ sau khi lạm phát tăng cao năm 2011, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào đồng nội tệ và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Hạn chế rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
04/01/2024 2.718 lượt xem
Do hạn chế kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương, cùng với đó là mong muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không tìm hiểu kĩ đối tác và phương thức thanh toán phù hợp dẫn đến các rủi ro đáng tiếc.
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
Phát triển chính sách về kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ
03/01/2024 2.520 lượt xem
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện
02/01/2024 2.152 lượt xem
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
Cần bổ sung cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường
31/12/2023 2.029 lượt xem
Sau thời điểm tăng cao, giá vàng miếng SJC có chiều hướng giảm dần từ chiều 28/12/2023. Trên thị trường, khách hàng đang có xu hướng bán ròng vàng miếng SJC. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong tháng 01/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?