Chi trả bảo hiểm tiền gửi hiệu quả - Thông lệ quốc tế, kinh nghiệm thực tiễn tại Malaysia và khuyến nghị đối với Việt Nam

Ngày đăng:02:12 26/11/2018
Lượt xem: 2.929
Cỡ chữ
Mai Phương

Chi trả bảo hiểm tiền gửi là một chức năng quan trọng của tất cả các hệ thống bảo hiểm tiền gửi (BHTG) nhằm cho phép người gửi tiền nhanh chóng nhận lại được tiền gửi của mình khi tổ chức nhận tiền gửi đổ vỡ. Chi trả BHTG nhanh chóng, hiệu quả đóng vai trò quan trọng đối với việc duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng và ổn định tài chính; ngược lại, sẽ làm giảm uy tín của tổ chức BHTG, đồng thời gây ra những ảnh hưởng xấu đến hệ thống tài chính, ngân hàng. Bài viết giới thiệu thông lệ quốc tế về chi trả BHTG hiệu quả, kinh nghiệm thực tiễn về chi trả BHTG tại Malaysia và đưa ra một số khuyến nghị đối với Việt Nam.
 
Cần có quy định yêu cầu các TCTD xây dựng hệ thống thông tin khách hàng thống nhất để lưu trữ dữ liệu tiền gửi

Thông lệ quốc tế về chi trả BHTG hiệu quả
Chi trả tiền bảo hiểm là một trong những chức năng cơ bản của các hệ thống BHTG, không phân biệt ngầm hay công khai, cấp vốn trước hay cấp vốn sau. Theo định nghĩa về chỉ trả BHTG của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI): “Chi trả tiền bảo hiểm là một trong những nhiệm vụ chính của tổ chức BHTG. Theo đó, tổ chức BHTG phải có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người gửi tiền khi một ngân hàng bị cơ quan chức năng tuyên bố đóng cửa.”
Chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền gắn chặt với hai yếu tố chính là thời gian và sự thuận tiện. Chi trả kịp thời và chính xác giúp duy trì niềm tin công chúng, tránh tâm lý hoảng loạn của người gửi tiền dẫn đến rút tiền hàng loạt; giảm thiểu hiệu ứng “domino” lây lan từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và ảnh hưởng đến kinh tế. Người gửi tiền sẽ thay đổi hành vi nếu biết được chi trả kịp thời và đáp ứng mong đợi của họ. Quá trình chi trả bị trì hoãn có thể ảnh hưởng đến niềm tin vào BHTG, tác động đến sự ổn định. Hệ thống và quy trình chi trả hiệu quả phải được thiết kế để đáp ứng tốt 4 yêu cầu: i) thời gian chi trả và công tác chuẩn bị trước “đóng cửa”; ii) khả năng tiếp cận và mức độ chính xác của dữ liệu người gửi tiền; iii) yêu cầu về bù trừ để xác định trách nhiệm nợ của người gửi tiền; và iv) hệ thống công nghệ thông tin (CNTT).
Nguyên tắc 15 - Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả của IADI tháng 11/2014 nhấn mạnh: “Hệ thống bảo hiểm tiền gửi cần thực hiện việc chi trả kịp thời cho người gửi tiền để góp phần ổn định tài chính. Thời điểm bắt đầu chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm phải được xác định một cách rõ ràng và chắc chắn”.
 
 
Thách thức trong triển khai chi trả BHTG
Vấn đề đảm bảo chi trả BHTG hiệu quả trở nên ngày càng cấp thiết hơn trong những năm gần đây do tính chất dễ bị tổn thương của khu vực ngân hàng, nhất là trong khủng hoảng tài chính. Thực tế cho thấy để có thể chi trả nhanh chóng và chính xác, các tổ chức BHTG có rất nhiều việc phải làm.
Ủy ban Nghiên cứu - Hướng dẫn của IADI đã tiến hành khảo sát đối với các thành viên nhằm hiểu rõ hơn về những thách thức phải đối mặt để đảm bảo quá trình chi trả được hiệu quả. Theo đó, một số khó khăn lớn gây cản trở quá trình chi trả nhanh chóng và chính xác bao gồm: việc tiếp cận thông tin chính xác về người gửi tiền còn chậm trễ, khó khăn trong việc xác định yêu cầu chi trả của người gửi tiền và các khoản vay/ khoản nợ liên quan nhằm thực hiện thanh toán bù trừ, và thiếu hệ thống CNTT và kế hoạch chi trả phù hợp để xử lý các ngân hàng có quy mô khác nhau.
Tiếp cận thông tin chính xác về người gửi tiền còn chậm trễ
Chậm trễ trong việc truy cập hồ sơ người gửi tiền trước khi xảy ra đổ vỡ ngân hàng, chất lượng hồ sơ về người gửi tiền kém được coi là một trở ngại lớn  đối với tổ chức BHTG trong việc tiến hành chi trả nhanh chóng và chính xác. Tại một số quốc gia, trước khi ngân hàng đóng cửa, cơ quan BHTG chưa được tiếp cận hồ sơ gửi tiền. Bên cạnh đó, chất lượng hồ sơ người gửi tiền tại ngân hàng kém, ngân hàng không thể cung cấp hồ sơ người gửi tiền trong khung thời gian kỳ vọng.
Khó khăn về xác định yêu cầu chi trả của người gửi tiền và các khoản vay/ khoản nợ liên quan nhằm thực hiện thanh toán bù trừ
Việc bù trừ tạo rủi ro chi trả thừa khi các mối quan hệ bù trừ không được xác nhận nhanh chóng và việc xác định khối lượng bù trừ không thể hoàn thành trong thời gian ngắn. Điều này ảnh hưởng đáng kể lên khả năng chi trả và đòi hỏi việc xử lý đặc biệt với người gửi tiền để có các xác nhận bù trừ phù hợp. Trong việc xác định khoản bù trừ vào tài khoản của người gửi tiền, cơ quan BHTG có thể xem xét tạm ứng trước một phần tiền chi trả.
Thiếu hệ thống công nghệ thông tin và kế hoạch chi trả phù hợp để xử lý các ngân hàng có quy mô khác nhau
Các tổ chức BHTG còn thiếu các kế hoạch chi trả với hệ thống CNTT phù hợp để giải quyết các ngân hàng có quy mô khác nhau. Quản lý chi trả người gửi tiền đòi hỏi xử lý khối lượng lớn tài khoản một cách chính xác trong khung thời gian hạn chế. Để đáp ứng khung thời gian chi trả, tổ chức BHTG sẽ phải dựa trên hệ thống CNTT để chi trả. Khi chi trả, nếu phải đánh giá điều kiện của mỗi người gửi tiền và mỗi sản phẩm tiền gửi một cách thủ công, tổ chức BHTG không thể thực hiện chi trả nhanh chóng và hiệu quả được. Thậm chí trong các tình huống mà ngân hàng áp dụng tốt hệ thống sổ sách giấy tờ, tổ chức BHTG vẫn cần dùng đến giải pháp công nghệ để xử lý dữ liệu, áp dụng các quy định về bảo hiểm, tra soát các khoản chi trả và tối thiểu hóa khả năng xảy ra sai sót trong cả quá trình.
Kinh nghiệm thực tiễn về chi trả BHTG hiệu quả tại Malaysia
Tại Malaysia, Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Malaysia (PIDM) nhận thức rõ việc chi trả cho người gửi tiền ngay lập tức và chính xác khi ngân hàng đổ vỡ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất. Chính vì vậy, PIDM đã liên tục hoàn thiện chức năng chi trả ngay từ khi được thành lập. Trong quá trình hoạt động, PIDM đã áp dụng các giải pháp nhằm ứng phó với những thách thức thường gặp đối với một hệ thống chi trả, cụ thể như sau:
Tiếp cận thông tin chính xác về người gửi tiền
PIDM có thẩm quyền tiếp cận thông tin hiệu quả, nhanh chóng bao gồm: quyền truy cập thông tin người gửi tiền không bị giới hạn, ban hành quy định trả tiền bảo hiểm để tạo điều kiện cho quá trình trả tiền bảo hiểm; kiểm tra trước các khoản tiền gửi ngân hàng khi chuẩn bị thực hiện trả tiền bảo hiểm... Việc này giúp cho PIDM có đủ thời gian để xác định các nguồn lực cần thiết để thực hiện trả tiền bảo hiểm, đưa ra các chiến lược truyền thông, chuẩn bị và hoàn thành quá trình trả tiền bảo hiểm.
Theo quy định, việc kiểm tra quá trình hoạt động của các tổ chức thành viên được thực hiện bởi Ngân hàng Trung ương Malaysia và được giám sát gián tiếp bởi PIDM. Cụ thể, những thông tin về tổng số dư nợ sẽ được thu thập trực tiếp từ tổ chức thành viên. Mặt khác, PIDM sẽ tiếp cận những thông tin được cung cấp từ Ngân hàng Trung ương về tình hình tài chính cũng như hoạt động của các thành viên thuộc PIDM.
Trong trường hợp chất lượng thông tin về người gửi tiền tại các ngân hàng không đầy đủ, bao gồm cả thông tin không được cập nhật hay thông tin không chính xác, PIDM sẽ thực hiện xác thực những số liệu tính toán phí của các ngân hàng và yêu cầu các ngân hàng cải thiện chất lượng thông tin và hệ thống thông tin người gửi tiền.
Xác định yêu cầu chi trả của người gửi tiền và các khoản vay/ khoản nợ liên quan nhằm thực hiện thanh toán bù trừ
Để có thể tiến hành chi trả nhanh chóng và kịp thời, tại Malaysia, các quy định bảo hiểm được thiết kế với nội dung đơn giản, cụ thể:
- Không yêu cầu về bù trừ;
- Yêu cầu các ngân hàng tính lãi hàng ngày;
- Không phân tách các tài khoản đồng sở hữu. Tổng Công ty BHTG Malaysia quy định các tài khoản đồng sở hữu là những loại tiền gửi tách biệt và khác nhau. Chi trả được thực hiện theo tên đồng sở hữu của người gửi tiền như quy định trong tài khoản đồng sở hữu;
- Yêu cầu các ngân hàng phải đảm bảo rằng họ có hệ thống quản lý dữ liệu để lưu trữ thông tin tài khoản ủy thác, bao gồm người hưởng lợi và thứ tự kế thừa và những thông tin này phải được cập nhật thường xuyên.
Hệ thống CNTT và kế hoạch chi trả phù hợp để xử lý các ngân hàng có quy mô khác nhau
PIDM đã xây dựng chiến lược tổng hợp, các chính sách, quy trình và thủ tục để thực hiện nghiệp vụ chi trả. Ngoài ra, PIDM định kỳ có bài tập giả định và bài tập xác thực thông tin tiền gửi, tập huấn và phát triển đội ngũ chuyên môn cũng như đánh giá các chính sách và quy trình thủ tục.
PIDM đã xây dựng một hệ thống CNTT phục vụ cho quá trình trả tiền bảo hiểm hoàn toàn tự động và tích hợp với năm mô-đun chức năng cụ thể:
- Hệ thống quản lý thông tin các khoản tiền gửi của người gửi tiền (DLIMS) nhằm xử lý dữ liệu tiền gửi, từ đó tạo ra danh sách cuối cùng để thực hiện trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền;
- Hệ thống đăng ký sản phẩm (PRS) lấy thông tin về tất cả các loại tiền gửi từ các ngân hàng thành viên. PRS cũng là nơi lưu trữ các loại tiền gửi có xác nhận của PIDM có đủ điều kiện để được bảo hiểm tiền gửi. PIDM và các ngân hàng có thể truy cập trực tuyến vào PRS bất kỳ lúc nào để xác nhận danh sách các khoản tiền gửi được bảo hiểm.
- Hệ thống quản lý hỗ trợ người gửi tiền (DSMS) tương tác với DLIMS để cho phép các trung tâm hỗ trợ khách hàng có thể truy cập thông tin của người gửi tiền.
Mô-đun này sẽ cung cấp cho các trung tâm hỗ trợ khách hàng bản tổng hợp các khoản tiền gửi của khách hàng hoặc bản Tổng quan khách hàng cá nhân (Single Customer View - SCV) của mỗi người gửi tiền và quyền lợi bảo hiểm tiền gửi của họ, để các trung tâm này có thông tin để xử lý các truy vấn từ người gửi tiền;
- Hệ thống quản lý trả tiền bảo hiểm (PPMS) thực hiện trả tiền bảo hiểm thông qua các phương thức thanh toán khác nhau, ví dụ như thanh toán bằng séc, chuyển tiền gửi sang một ngân hàng khác để thực hiện thanh toán, và thanh toán thông qua máy rút tiền tự động (ATM) của hệ thống;
- Hệ thống quản lý yêu cầu (RMS) tương tác với DSMS, PPMS và DLIMS, sẽ xử lý các yêu cầu hoặc truy vấn từ người gửi tiền thông qua DSMS / Trung tâm hỗ trợ. Hệ thống này sẽ ghi nhận, theo dõi và cập nhật tình trạng của những yêu cầu cho DSMS ở từng giai đoạn. Tùy thuộc từng loại yêu cầu, sau khi Nhóm quản lý khiếu nại xác minh và nghiên cứu, yêu cầu sẽ được chuyển đến DLIMS để tính toán lại tổng số tiền gửi được bảo hiểm hoặc sẽ được dẫn đến PPMS để đề nghị cấp lại khoản tiền bảo hiểm.
 
Một số khuyến nghị đối với Việt Nam
Tại Việt Nam, theo quy định của Luật BHTG, trong thời hạn 60 ngày, kể từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người được BHTG.
Trong quá trình hoạt động, BHTGVN mới chỉ phát sinh chi trả BHTG đối với người gửi tiền tại các Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND). Việc chi trả bảo hiểm tiền gửi đã được thực hiện chính xác và kịp thời, góp phần quan trọng ổn định an ninh trật tự và an toàn xã hội tại các địa phương có QTDND bị đổ vỡ, giải quyết dứt điểm việc xử lý pháp nhân đối với các QTDND gặp khó khăn kéo dài không thể khắc phục.
Tuy nhiên, ngày 20/11/2017, Quốc hội đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, trong đó có quy định về trường hợp cho phá sản ngân hàng yếu kém. Như vậy, trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng hiện nay có thể có phương án cho phá sản ngân hàng. Việc chi trả BHTG cho người gửi tiền tại các ngân hàng đổ vỡ sẽ phức tạp hơn rất nhiều. Vì vậy, BHTGVN cần tiếp tục nghiên cứu, xây dựng kế hoạch dự phòng hoặc phương án chi trả phù hợp đối với quy mô của các TCTD.
Để thực hiện hiệu quả việc chi trả BHTG, BHTGVN cần có một hệ thống chi trả trên nền tảng công nghệ hiện đại đủ khả năng và chức năng ứng phó với các tình huống thực tế có thể xảy ra trong suốt quá trình chi trả, cũng như các quyền hạn tiếp cận thông tin hiệu quả nhanh chóng như quyền truy cập thông tin người gửi tiền không bị giới hạn, thẩm quyền kiểm tra trước các khoản tiền gửi ngân hàng khi chuẩn bị thực hiện trả tiền bảo hiểm. Đồng thời, cần có quy định yêu cầu các TCTD xây dựng hệ thống thông tin khách hàng thống nhất để lưu trữ dữ liệu tiền gửi, cũng như có điều kiện cụ thể đối với việc lưu trữ hồ sơ khách hàng của các TCTD nhằm đảm bảo chất lượng thông tin khi cần thiết.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Tài liệu Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả, IADI, 2014.
- Tài liệu hướng dẫn nâng cao về chi trả, IADI, 2012.
- Nghiên cứu thực tiễn của IADI: Kinh nghiệm của Tổng công ty BHTG Malaysia về thiết kế và phát triển hệ thống chi trả hiệu quả, 2012.
- http://www.pidm.gov.my/en/
 
(Tạp chí Ngân hàng số 22, tháng 11/2018)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao