Về điều kiện phát triển Mobile-Money ở Việt Nam hiện nay
17/11/2022 672 lượt xem
Tóm tắt: Hiện nay, dịch vụ Mobile-Money đã trở thành xu thế chủ đạo và là phương thức thanh toán tiện lợi của người dân ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Ở Việt Nam, dịch vụ Mobile-Money đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chấp thuận cho triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông để thực hiện thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ. Theo đánh giá, Mobile-Money là dịch vụ mới, khó và nhạy cảm. Vì vậy, để Mobile-Money chính thức được chấp thuận và có thể phát triển nhanh chóng ở nước ta, cần phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết đảm bảo cho sự phát triển của dịch vụ này. Bài viết sẽ tập trung vào làm rõ thực trạng các điều kiện phát triển Mobile-Money ở Việt Nam hiện nay, đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện các điều kiện cần thiết để phát triển Mobile-Money ở Việt Nam trong thời gian tới.
 
Từ khóa: Mobile-Money, thanh toán điện tử, dịch vụ Mobile-Money.
 
ON CONDITIONS FOR THE DEVELOPMENT OF MOBILE-MONEY IN VIETNAM TODAY
 
Abstract: Currently, Mobile-Money service has become the mainstream and convenient payment method of people in many countries and regions around the world. In Vietnam, Mobile-Money service has just been approved by the State Bank of Vietnam for pilot deployment using telecommunications accounts to make payments for goods and services of small value. According to the assessment, Mobile-Money is a new, difficult and sensitive service. Therefore, in order for Mobile-Money to be officially approved and develop rapidly in our country, it is necessary to prepare all necessary conditions to ensure the development of this service. The article focuses on clarifying the current situation of Mobile-Money development conditions in Vietnam, thereby proposing some recommendations to improve the necessary conditions to develop Mobile-Money in Vietnam in the near future.
 
Keywords: Mobile-Money, electronic payment, Mobile-Money service.
 
1. Đặt vấn đề
 
Sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển nhanh chóng của nhiều phương thức thanh toán điện tử. Một trong những phương thức thanh toán điện tử đang được sử dụng rộng khắp trên thế giới và có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay là Mobile-Money. Theo Báo cáo của Hiệp hội Di động toàn cầu (Global System Mobile Associations - GSMA) cho thấy, đã có khoảng 96 quốc gia và vùng lãnh thổ chấp nhận Mobile-Money và được cung cấp bởi 316 tổ chức, doanh nghiệp; có hơn 1,35 tỷ tài khoản Mobile-Money đã được đăng ký, trên 518 triệu tài khoản Mobile-Money hoạt động hằng ngày, với tổng giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ.
 

 
Ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021 về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Quyết định số 316/QĐ-TTg). Việc cho phép thí điểm Mobile-Money nhằm mục tiêu góp phần phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Hiện nay, Mobile-Money đang được triển khai thí điểm và hứa hẹn sự phát triển nhanh chóng trong tương lai. Tuy nhiên, khi xem xét các điều kiện để phát triển Mobile-Money cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện các điều kiện tạo thuận lợi cho Mobile-Money phát triển trong tương lai là rất cần thiết.
 
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống, tài liệu nghiên cứu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan, tổ chức, các nghiên cứu trong và ngoài nước về Mobile-Money.
 
2. Cơ sở lý thuyết về Mobile-Money
 
2.1. Khái niệm về Mobile-Money
 
Theo GSMA, Mobile-Money được định nghĩa là các dịch vụ kết nối khách hàng về mặt tài chính thông qua mạng di động. Mobile-Money bao gồm các dịch vụ chi trả di động (giao dịch lẻ và thanh toán hóa đơn), chuyển tiền qua mạng di động, chuyển tiền giữa các thuê bao, những giao dịch tín dụng có giá trị nhỏ, quản lý tài khoản qua máy di động... và những dịch vụ tương tự.
 
2.2. Các mô hình cung cấp dịch vụ Mobile-Money 
 
Theo GSMA, hiện nay trên thế giới có 3 mô hình cung cấp dịch vụ Mobile-Money, đó là: (1) Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông; (2) Ngân hàng thương mại; (3) Đối tác cung cấp giải pháp phối hợp chặt chẽ với nhà mạng và ngân hàng hoặc là một liên doanh giữa ngân hàng và nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Trong 3 mô hình trên, mô hình thứ 3 đang ngày càng trở nên quan trọng và chiếm ưu thế (GSMA, 2018).
 
2.3. Các điều kiện cần thiết để phát triển Mobile-Money
 
Một là, có hành lang pháp lý về Mobile-Money. Mobile-Money là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), vì vậy, phương thức thanh toán này vẫn phải tuân thủ theo các quy định chung đối với TTKDTM. Tuy nhiên, với đặc thù là sản phẩm công nghệ cao, được cung cấp chủ yếu qua các nhà mạng, Mobile-Money cần phải có các quy định pháp lý riêng phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, tính riêng tư dữ liệu của khách hàng, ngăn chặn những nguy cơ về an ninh mạng, tạo ra môi trường có thể khuyến khích đổi mới, cạnh tranh và phát triển dịch vụ Mobile-Money.
 
Hai là, có nhiều tổ chức đủ tiêu chuẩn tham gia cung cấp dịch vụ Mobile-Money. Các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ Mobile-Money có thể là: Doanh nghiệp viễn thông, ngân hàng thương mại hay công ty Fintech. Tuy nhiên, để được cấp phép tham gia dưới hình thức độc lập hay phối hợp trong cung cấp dịch vụ, mỗi tổ chức đều phải đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu đặt ra của các cơ quan nhà nước.
 
Ba là, nhiều người dân sử dụng điện thoại di động có thuê bao điện thoại di động. Để được tham gia dịch vụ Mobile-Money, mỗi người dân đều phải sử dụng điện thoại di động và có thuê bao điện thoại di động, vì vậy, khi tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại di động có thuê bao điện thoại di động cao, đây sẽ là cơ hội cho Mobile-Money phát triển.
 
Bốn là, có mạng di động phát triển. Do dịch vụ Mobile-Money thực hiện các giao dịch chuyển tiền, thanh toán qua tài khoản viễn thông gắn liền với thuê bao di động mà không cần có tài khoản ngân hàng và không phụ thuộc vào mạng Internet, vì vậy, để nhiều người dân có cơ hội tham gia thì mạng di động phải phát triển và được phủ sóng trên phạm vi toàn quốc.
 
3. Thực trạng các điều kiện phát triển Mobile-Money ở Việt Nam hiện nay
 
3.1. Hành lang pháp lý 
 
Thứ nhất, các văn bản pháp lý quy định về hoạt động TTKDTM. Thời gian qua, việc triển khai hoạt động TTKDTM dựa vào các văn bản sau: Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012  của Chính phủ quy định về TTKDTM; Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ quy định về TTKDTM; Quyết định số 637/QĐ-NHNN ngày 31/3/2017 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 2545/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 2006/QĐ-NHNN ngày 17/12/2021 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025. 
 
Thứ hai, các văn bản pháp lý quy định về dịch vụ Mobile-Money. Hiện nay, văn bản quy định riêng cho dịch vụ Mobile-Money chỉ có Quyết định số 316/QĐ-TTg. Theo Quyết định này, đối tượng được cấp phép cung cấp dịch vụ chưa đa dạng, hiện chỉ có các doanh nghiệp viễn thông có giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán ví điện tử và giấy phép thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất sử dụng băng tần số vô tuyến điện hoặc là công ty con được công ty mẹ có giấy phép thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất sử dụng băng tần số vô tuyến điện cho phép sử dụng hạ tầng, mạng lưới, dữ liệu viễn thông được tham gia. Bên cạnh đó, nội dung cung cấp dịch vụ Mobile-Money còn bị giới hạn, như: Việc nạp tiền hay rút tiền từ tài khoản Mobile-Money thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng hoặc từ ví điện tử của khách hàng phải là chủ tài khoản Mobile-Money và phải được thực hiện tại chính doanh nghiệp thực hiện thí điểm dịch vụ Mobile-Money; việc thanh toán chỉ được dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ và chỉ được thực hiện tại các đơn vị chấp nhận thanh toán bằng tài khoản Mobile-Money; việc chuyển tiền sang tài khoản Mobile-Money của người dùng khác vẫn chỉ giới hạn trong cùng một nhà mạng; hạn mức giao dịch (không quá 10 triệu đồng/tháng/tài khoản Mobile-Money cho tổng các giao dịch: Rút tiền, chuyển tiền và thanh toán) còn quá thấp so với hạn mức của ví điện tử là 100 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, vẫn chưa có chính sách nào cho người sử dụng Mobile-Money để họ có thể tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính khác. 
 
3.2. Các tổ chức có thể tham gia cung cấp dịch vụ Mobile-Money
 
Các doanh nghiệp viễn thông
 
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp viễn thông của Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và đứng trong Top 10 Công ty Công nghệ thông tin - Viễn thông (CNTT-VT) uy tín năm 2021, có đủ khả năng để tham gia cung cấp dịch vụ Mobile-Money, với những tên tuổi nổi bật như: Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), FPT, MobiFone, Vinaphone. Nổi bật hơn cả là Viettel, hiện đang đứng ở vị trí 227 trong “Bảng xếp hạng Top 500 thương hiệu giá trị nhất thế giới 2022” và đứng thứ 18 thế giới về giá trị thương hiệu viễn thông; Viettel tiếp tục duy trì vị trí số 1 về thương hiệu viễn thông tại Đông Nam Á và nằm trong Top 3 thương hiệu giá trị nhất khu vực (Văn Phong, 2022). Ngoài ra, trong báo cáo khảo sát tháng 3/2021 của Vietnam Report cho thấy, ngành CNTT-VT nằm trong Top 7 ngành được đánh giá có tiềm năng nhất trong ba năm tới và dẫn đầu với tỷ lệ 72,7% (Vietnam Report, 2021).
 
Năm 2021, nhờ sự cố gắng của các doanh nghiệp viễn thông, đã có 03 doanh nghiệp được NHNN cấp phép thử nghiệm dịch vụ Mobile-Money, đó là: Tổng Công ty Truyền thông (VNPT-Media), MobiFone, Viettel. Đến nay, 03 doanh nghiệp trên đã và đang triển khai dịch vụ Mobile-Money ra thị trường (Hoàng Linh, 2022). Tuy nhiên, các doanh nghiệp viễn thông vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Theo khảo sát của Vietnam Report, các khó khăn thách thức mà các doanh nghiệp CNTT-VT Việt Nam đang phải đối mặt trong hoạt động nói chung và quá trình chuyển đổi số nói riêng trong thời gian tới là: Điều kiện nghiên cứu phát triển sản phẩm công nghệ còn nhiều hạn chế (70,6%); thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao (64,7%); thiếu chính sách, thể chế, quy định pháp luật hỗ trợ của Nhà nước (58,8%) (Vietnam Report, 2021).
 
Hệ thống ngân hàng
 
Thời gian qua, các ngân hàng đã ứng dụng nhiều công nghệ đột phá vào hoạt động nghiệp vụ để đưa ra các dịch vụ hiện đại, thân thiện, tiện lợi mang lại trải nghiệm và lợi ích thiết thực cho khách hàng, như: eKYC, QR Code, thanh toán không tiếp xúc,... từng bước xây dựng hạ tầng số tập trung, chuẩn hóa, tích hợp tạo hệ sinh thái số trải rộng, như: Hệ sinh thái Mobile Banking kết nối với dịch vụ công, tài chính, viễn thông, điện lực, giao thông... Đến cuối năm 2021, cả nước có trên 80 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai thanh toán qua Internet, 44 tổ chức triển khai thanh toán qua điện thoại di động và 21 ngân hàng triển khai mở tài khoản thanh toán cho cá nhân bằng eKYC với khoảng 2,7 triệu tài khoản đang hoạt động. Hiện nay, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử hoạt động ổn định, an toàn, thông suốt (Lê Anh Dũng, 2022). Nhiều dịch vụ ngân hàng đã có thể thực hiện hoàn toàn trên kênh số (thanh toán, tiền gửi, tiết kiệm,...) đáp ứng nhu cầu giao dịch trực tuyến, mọi lúc mọi nơi của người dân, doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh giãn cách xã hội để phòng ngừa dịch Covid-19; thanh toán trên thiết bị di động tăng trưởng mạnh; các ngân hàng Việt Nam được đánh giá có mức độ ứng dụng ngân hàng số với tốc độ nhanh nhất trong khu vực. Ngoài ra, để tăng khả năng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ nhiều ngân hàng đã hợp tác với các công ty Fintech trong và ngoài nước, như: Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Ngoại thương Việt Nam, NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, NHTMCP Á Châu, NHTMCP Quốc tế, NHTMCP Tiên Phong (TPBank), NHTMCP Sài Gòn Thương Tín, NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)... đã hợp tác với Ví MoMo để phát triển ví điện tử; NHTMCP Quân đội đã hợp tác với Công ty Boomerang Technology cho ra đời sản phẩm eMBee Fanpage; VPBank đã  hợp tác với Công ty Cổ phần Giải pháp Thanh toán Việt Nam (VnPay), Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Payoo, Bankplus... để triển khai các giải pháp thanh toán và giao dịch ngân hàng trực tuyến; VietinBank kết hợp với Opportunity Network (Anh), CIMB Bank Việt Nam kết hợp với Toss (Hàn Quốc), VPBank kết hợp với BE Group (Thụy Điển), NHTMCP Phương Đông kết hợp với RippleNet (Mỹ) và TPBank kết hợp với Backbase (Hà Lan)... Theo đánh giá, sự hợp tác giữa các ngân hàng truyền thống và các công ty Fintech sẽ ngày càng tăng. Tuy nhiên, ngành Ngân hàng vẫn còn nhiều thách thức trong vấn đề hoàn thiện các quy định pháp lý, đồng bộ và chuẩn hóa cơ sở hạ tầng để kết nối, tích hợp tạo lập hệ sinh thái số, thay đổi về nhu cầu, hành vi khách hàng, đảm bảo an ninh an toàn và bảo mật dữ liệu khách hàng... (Thu Thủy, 2022).
 
Các công ty Fintech 
 
Tính đến cuối năm 2021, Việt Nam có trên 150 công ty Fintech, các công ty này hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong đó, lĩnh vực trung gian thanh toán (Payment) có 37 công ty, chiếm 24%; lĩnh vực cho vay ngang hàng (P2P Lending) có 25 công ty, chiếm 16%; lĩnh vực chuỗi khối, tiền số và chuyển tiền (Blockchain, Crypto & Remittance) có 22 công ty, chiếm 14%. Các công ty còn lại được phân lẻ sang nhiều lĩnh vực khác, như: Internet, điện thoại di động, công nghệ điện toán đám mây và các phần mềm mã nguồn mở (Đỗ Quang Trị, 2022). Trong số các công ty Fintech, VNG, VnPay và MoMo đã trở thành 03 doanh nghiệp “kỳ lân” công nghệ tại Việt Nam, riêng MoMo được định giá trên 2 tỷ USD vào cuối tháng 12/2021. Ngoài ra, theo NHNN, tính đến ngày 09/5/2022, đã có 48 tổ chức không phải ngân hàng được NHNN cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
 
Thị trường Fintech Việt Nam đang trong giai đoạn đầu phát triển nên được đánh giá còn rất màu mỡ, vì vậy đã tạo ra được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Trong năm 2021, thị trường Fintech Việt Nam đã chứng kiến nhiều thương vụ nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào các công ty Fintech. Theo thống kê, Việt Nam đứng thứ ba Đông Nam Á (sau Indonesia, Singapore) về thu hút vốn đầu tư vào Fintech, chiếm 11% tổng số vốn của khu vực, đạt khoảng 4 tỷ USD, gấp ba lần so với năm 2020 (Minh Khôi, 2022). Tuy nhiên, hiện nay, các công ty Fintech chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, chưa phát triển ở vùng nông thôn, thường gặp khó khăn trong việc xác định mô hình quản trị kinh doanh, định hướng phát triển và còn thiếu một hành lang pháp lý để phát triển. 
 
Mạng di động
 
Theo Cục Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông), thời gian qua, hạ tầng mạng viễn thông ở Việt Nam đã được các doanh nghiệp không ngừng đầu tư nâng cấp, mở rộng. Đến nay, nhiều vùng lõm đã được phủ sóng, mạng di động có sử dụng dữ liệu (2G, 3G, 4G) đã phủ sóng tới 99,8% dân số. Tốc độ dịch vụ băng rộng di động (3G, 4G) đạt 35,14Mbps, đứng thứ 48/141 (tăng 9 bậc so với 2020). Còn mạng 5G cũng được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép thử nghiệm tại 16 tỉnh, thành phố với 300 trạm phát sóng 5G, có tốc độ trung bình đạt từ 500 - 600Mbps, gấp 10 lần so với tốc độ 4G (Việt Nga, 2022). Hiện nay, có 07 nhà mạng di động với chất lượng dịch vụ di động rất tốt được nhiều người sử dụng, đó là: Viettel, Vinaphone, Mobifone, Vietnamobile, Gmobile, I-Telecom, Reddi. Bên cạnh đó, mạng viễn thông hiện có mức độ ổn định và chỉ số an toàn, an ninh mạng rất cao. Năm 2021, theo báo cáo của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) công bố về lĩnh vực an toàn, an ninh mạng toàn cầu, Việt Nam đã có sự thăng tiến mạnh mẽ trong bảng xếp hạng quốc tế (GCI), từ vị trí 50 năm 2020 lên vị trí 25 năm 2021 trên tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ; đứng thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á do Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) xếp hạng. Về chỉ số phát triển viễn thông (IDI) của Việt Nam ước tính xếp 74/176 quốc gia (tăng 3 hạng so với năm 2020) (Hoàng Linh, 2022). Ngoài ra, việc xử lý SIM rác và tích hợp 4G cho điện thoại nhập khẩu đã được Cục Viễn thông rất quan tâm. Theo Cục Viễn thông, năm 2021 đã xử lý gần 1,1 triệu SIM có dấu hiệu thông tin thuê bao không đúng quy định; chặn hơn 78 triệu cuộc gọi có dấu hiệu lừa đảo; xử lý 227.000 thuê bao phát tán cuộc gọi rác; 100% máy điện thoại nhập khẩu đã tích hợp 4G, có VoLTE; số máy điện thoại có VoLTE tăng 117%; số người sử dụng VoLTE tăng 3 lần (Ictvietnam, 2022). Tuy nhiên, theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tình trạng SIM rác, tin nhắn, cuộc gọi rác, cuộc gọi giả mạo đã giảm nhiều nhưng vẫn còn tồn tại, do một số doanh nghiệp viễn thông chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật, thực thi giải pháp khắc phục chưa triệt để; vẫn còn nhiều vũng lõm sóng trên cả nước chưa được phủ sóng.
 
Người dân sử dụng điện thoại di động và thuê bao di động
 
Hiện nay, ở Việt Nam, có số lượng người dân sử dụng điện thoại di động chiếm một tỷ lệ rất cao, mà chủ yếu là dùng Smartphone. Theo Cục Viễn thông, đến cuối năm 2021, Việt Nam đã có 91,3 triệu thuê bao Smartphone. Đến quý II/2022, đã có thêm hơn 2 triệu thuê bao sử dụng Smartphone, nâng tổng số thuê bao dùng Smartphone tại Việt Nam lên con số 93,5 triệu. Ước tính tỷ lệ người trưởng thành sử dụng Smartphone đạt khoảng 73,5%. Tuy nhiên, một trong những thách thức đối với người dân khi tham gia sử dụng Mobile-Money, đó là thói quen sử dụng tiền mặt và tâm lý e ngại khi làm quen với loại hình thanh toán điện tử mới.
 
4. Một số khuyến nghị
 
Thứ nhất, Chính phủ cần xây dựng và ban hành một hành lang pháp lý cho Mobile-Money. Chúng ta đều biết rằng, khi hành lang pháp lý phù hợp nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ Mobile-Money, nếu không nó sẽ kìm hãm sự phát triển của dịch vụ này. Chính vì vậy, để xây dựng hành lang pháp lý cần có sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan, như: Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Công an, NHNN...; đồng thời, cần học hỏi kinh nghiệm từ các nước có dịch vụ Mobile-Money phát triển để đảm bảo tính phù hợp, đồng bộ và nhất quán trong các văn bản.
 
Xây dựng hành lang pháp lý cần hướng đến: (1) Mở rộng đối tượng tham gia, vì đây là mô hình được nhiều nước trên thế giới áp dụng và rất thành công. Còn ở nước ta, nếu chỉ cấp phép cho các doanh nghiệp viễn thông được phép tham gia cung cấp dịch vụ Mobile-Money, thì lĩnh vực này sẽ khó thu hút đầu tư, thiếu các sản phẩm và dịch vụ mang tính mới mẻ và sáng tạo, đồng thời cũng rất khó phổ cập dịch vụ này tới tất cả người dùng và điểm bán hàng. Trong khi, hệ thống ngân hàng, các công ty Fintech đang rất phát triển và có nhiều lợi thế, kinh nghiệm trong cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử. Bên cạnh đó, cần tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ Mobile-Money, qua đó thúc đẩy sự hợp tác giữa các tổ chức tham gia; (2) Nâng hạn mức giao dịch của Mobile-Money lên, bởi vì hạn mức hiện nay đang là cản trở đối với những người thường xuyên chi tiêu và mua sắm, nhất là ở khu vực thành thị. Việc nâng hạn mức làm sao không để quá chênh lệch so với ví điện tử và thỏa mãn được nhu cầu chi tiêu của đa số người dân Việt Nam, đồng thời có thể hạn chế tối đa các loại tội phạm liên quan đến dịch vụ này; (3) Có chính sách cho người sử dụng dịch vụ Mobile-Money. Chính sách phải mang lại những lợi ích cho người sử dụng dịch vụ, có thể tiếp cận được các sản phẩm và dịch vụ tài chính khác.
 
Thứ hai, Bộ Thông tin và Truyền thông cần chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông tiếp tục đầu tư vào công nghệ, thiết bị viễn thông để nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo an toàn, an ninh mạng; tiếp tục phủ sóng các vùng lõm sóng và mạng 5G trên toàn quốc; giải quyết dứt điểm SIM rác, cuộc gọi rác, thư rác.
 
Thứ ba, đối với các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ cần chú trọng tới công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong giao dịch và bảo vệ quyền lợi khách hàng nhằm hạn chế những rủi ro xảy ra.  
 
Các doanh nghiệp viễn thông ngoài đầu tư vào công nghệ, thiết bị viễn thông, còn phải xây dựng mạng lưới điểm giao dịch và chấp nhận thanh toán trên toàn quốc, quy trình cung cấp dịch vụ Mobile-Money đồng bộ, đồng thời đào tạo một đội ngũ nhân viên đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng; thực hiện nhiều chương trình quảng cáo và hướng dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ Mobile-Money mang đến sự hiểu biết và niềm tin của người dân vào dịch vụ này.
 
Các ngân hàng cần tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và công nghệ số theo hướng đồng bộ, tập trung thống nhất có khả năng tích hợp, kết nối với các ngành, lĩnh vực khác.
 
Các công ty Fintech cần đầu tư mở rộng hoạt động về các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; chú trọng vấn đề bảo mật thông tin để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng. 
 
Thứ tư, đối với người dân nên sử dụng dịch vụ Mobile-Money, vì đây là phương thức thanh toán mang đến nhiều tiện lợi, dễ sử dụng và rất an toàn.
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. Đỗ Quang Trị (2022), Cơ hội và thách thức phát triển Fintech tại Việt Nam. Truy cập tại: https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/co-hoi-va-thach-thuc-phat-trien-fintech-tai-viet-nam-86436.htm 
2. GSMA (2018), State of the industry report on Mobile-Money 2018. Truy cập tại: https://www.gsma.com/r/wp-content/uploads/2019/02/2018-State-of-the-Industry-Report-on-Mobile-Money-1.pdf 
3. GSMA (2021), State of the Industry Report on Mobile-Money 2021. Truy cập tai: https://www.gsma.com/mobilefordevelopment/wp-content/uploads/2021/03/GSMA_State-of-the-Industry-Report-on-Mobile- Money-2021_Full-report.pdf 
4. Hoàng Linh (2022), Năm 2021, doanh thu ngành TT&TT đạt 3.462.170 tỷ đồng, tăng trưởng 9% so với năm 2020. Truy cập tại: https://ictvietnam.vn/nam-2021-doanh-thu-nganh-tttt-dat-3462170-ty-dong-tang-truong-9-so-voi-nam-2020-20211222155621615.htm 
5. Ictvietnam (2022), Việt Nam khởi động nghiên cứu 6G ngay trong năm 2022. Truy cập tại: http://www.cuctanso.vn/tin-tuc/pages/hoat-dong-su-kien.aspx?ItemID=2998 
6. Kiến An (2021), Lượng người dùng smartphone ở Việt Nam đứng trong top 10 toàn cầu. Truy cập tại:  https://vov.vn/cong-nghe/sanh-dieu/luong-nguoi-dung-smartphone-o-viet-nam-dung-trong-top-10-toan-cau-863220.vov
7. Lê Anh Dũng (2022), Thanh toán điện tử góp phần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Truy cập tại: https://tapchinganhang.gov.vn/thanh-toan-dien-tu-gop-phan-day-manh-thanh-toan-khong-dung-tien-mat.htm
8. Minh Khôi (2022), M&A Fintech sẽ sôi động. Truy cập tại: https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tbnh/tbnh_chitiet? 
9. Thu Thủy (2022), Đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng. Truy cập tại: https://tapchinganhang.gov.vn/day-manh-chuyen-doi-so-va-bao-dam-an-ninh-an-toan-thong-tin-trong-hoat-dong-ngan-hang.htm
10. Văn Phong (2022), Viettel đứng thứ 18 thế giới về giá trị thương hiệu viễn thông. Truy cập tại: https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/tin-tuc/viettel-dung-thu-18-the-gioi-ve-gia-tri-thuong-hieu-vien-thong-685338
11. Vietnam Report (2021). Công bố Top 10 Công ty Công nghệ uy tín năm 2021. Truy cập tại: https://vietnamreport.net.vn/Cong-bo-Top-10-Cong-ty-Cong-nghe-uy-tin-nam-2021-9941-1049.html
12. Việt Nga (2022), Chuyển đổi hạ tầng số vì nhu cầu phát triển. Truy cập tại: http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Oto-xemay/1025119/chuyen-doi-ha-tang-so-vi-nhu-cau-phat-trien

TS. Lương Văn Hải
Trường Đại học Mở Hà Nội

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
05/12/2022 18 lượt xem
Trong thời gian qua, người dân ở nhiều quốc gia trên thế giới khá quan tâm đến tiền điện tử. Tương lai của tiền điện tử là một chủ đề nóng không chỉ giữa các nhà đầu tư mà còn trong xã hội, từ những nhà đầu tư lâu năm như Elon Musk cho đến những người trẻ, thậm chí cả học sinh trường trung học.
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
02/12/2022 149 lượt xem
Tại Việt Nam, mô hình NeoBank còn ở giai đoạn sơ khai. Với tiềm năng, thế mạnh đi đầu trong chuyển đổi số, ngành Ngân hàng đang và sẽ có những bứt phá trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ hiện đại, trong đó có xu hướng phát triển NeoBank.
Kỹ thuật khai thác dữ liệu trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
Kỹ thuật khai thác dữ liệu trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
30/11/2022 234 lượt xem
Gian lận tài chính là mối quan tâm của xã hội, do các hậu quả của nó gây ra cho nhiều đối tượng, từ cá nhân đến Chính phủ, các tổ chức và công ty thương mại tài chính. Ngày nay, sự phát triển của công nghệ đã giúp cho các giao dịch ngân hàng ngày càng đơn giản và tiện lợi.
Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
24/11/2022 589 lượt xem
Sự phát triển của công nghệ số đang dần làm thay đổi cơ bản các hình thức cung ứng dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước đã triển khai ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến vào hoạt động ngân hàng như: AI, ML, Cloud Computing, Big Data, IoT để đánh giá, phân loại khách hàng và quyết định giải ngân hay giúp đơn giản hóa các quy trình, thủ tục và rút ngắn thời gian giao dịch.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Hoàn thiện và đồng bộ về pháp lý để tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Hoàn thiện và đồng bộ về pháp lý để tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn
21/11/2022 622 lượt xem
Trong chương trình chuyển đổi số giai đoạn hiện nay, bên cạnh một số thách thức như vốn đầu tư cho công nghệ, nhân sự, an ninh, bảo mật, ngành Ngân hàng đang gặp khó khăn về hành lang pháp lý do còn thiếu và chưa đồng bộ. Do đó, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách tạo điều kiện cho chia sẻ dữ liệu, kết nối giữa các bộ, ngành liên quan với ngành Ngân hàng một cách an toàn, hiệu quả, đảm bảo mang lại lợi ích cho toàn dân.
Lịch sử công nghệ kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng
Lịch sử công nghệ kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng
16/11/2022 690 lượt xem
Công nghệ số, chuyển đổi số là những cụm từ được nhắc tới nhiều nhất trong thời gian gần đây bởi những tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống và xã hội. Trong đó, ngành Ngân hàng là một trong những ngành đón nhận nhiều cơ hội như giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện quy trình…
Nhận diện rủi ro đối với hoạt động định danh khách hàng điện tử (eKYC) trong hoạt động ngân hàng
Nhận diện rủi ro đối với hoạt động định danh khách hàng điện tử (eKYC) trong hoạt động ngân hàng
08/11/2022 1.081 lượt xem
Tại Việt Nam, trước khi cơ sở pháp lý chính thức cho eKYC trong việc mở tài khoản thanh toán được ban hành (Thông tư số 16/2020/TT-NHNN ngày 04/12/2020 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Thống đốc NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán), ngành Ngân hàng đã lần lượt ứng dụng eKYC vào quy trình nhận biết khách hàng và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính.
Tác động của độ bảo mật tới ý định sử dụng ngân hàng di động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác động của độ bảo mật tới ý định sử dụng ngân hàng di động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
26/10/2022 1.318 lượt xem
Khi việc sử dụng ngân hàng di động tiếp tục phát triển, cần phải chú ý đến tính bảo mật của các giao dịch tài chính. Mục đích của nghiên cứu này là xem xét tác động của độ bảo mật đối với ý định sử dụng ngân hàng di động.
Tiền di động - Một năm nhìn lại
Tiền di động - Một năm nhìn lại
25/10/2022 1.399 lượt xem
Cung cấp dịch vụ tài chính vi mô là một trong những hỗ trợ giúp cho người có thu nhập thấp thoát nghèo. Tuy nhiên, người có thu nhập thấp thường sống xa trung tâm, do vậy chi phí tiếp cận với các dịch vụ tài chính khá cao, cơ hội tiếp cận giảm đi. Nhiều nghiên cứu cho rằng, phát triển dịch vụ ngân hàng qua điện thoại mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng, đặc biệt là người sử dụng tài chính vi mô ở nhiều nước (Vong et al., 2012; Kumar, McKay & Rotman, 2010).
An toàn, bảo mật thông tin tài khoản của khách hàng - Nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trong cung cấp dịch vụ
An toàn, bảo mật thông tin tài khoản của khách hàng - Nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trong cung cấp dịch vụ
13/10/2022 1.843 lượt xem
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến cuối tháng 6/2022, có gần 5,5 triệu tài khoản mở bằng phương thức trực tuyến (eKYC) đang hoạt động, gần 8,9 triệu thẻ mở bằng eKYC đang lưu hành và khoảng 123 triệu tài khoản thanh toán. Với sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán điện tử cũng tăng trưởng mạnh mẽ.
Pháp luật về chuyển đổi số ngành Ngân hàng và định hướng hoàn thiện
Pháp luật về chuyển đổi số ngành Ngân hàng và định hướng hoàn thiện
11/10/2022 2.200 lượt xem
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với sự kết hợp của công nghệ số đã và đang tác động lớn đến lĩnh vực ngân hàng. Theo đó, chuyển đổi số đang dần trở thành một xu hướng tất yếu của các ngân hàng, mang đến cho ngành Ngân hàng nhiều cơ hội chuyển mình nhưng cũng đặt ra không ít thách thức.
Bảo mật truyền thông IoT qua mạng di động trong hệ thống ngân hàng số
Bảo mật truyền thông IoT qua mạng di động trong hệ thống ngân hàng số
03/10/2022 2.008 lượt xem
Internet vạn vật (Internet of Things - IoT) là một trong các công nghệ hiện đại, đặc trưng cho kỷ nguyên của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Thúc đẩy chuyển đổi số hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn
Thúc đẩy chuyển đổi số hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn
01/10/2022 2.038 lượt xem
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, mở ra nhiều cơ hội cũng như đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Chuyển đổi số ngày càng trở nên quan trọng, trở thành vấn đề sống còn trong kỷ nguyên 4.0 đang phát triển không ngừng, đó không phải là sự lựa chọn mà là điều cần thiết để duy trì, cạnh tranh trên thị trường. Đảng và Chính phủ ta đã xác định chuyển đổi số là một chủ trương lớn, là hướng đi tất yếu để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chuyển đổi ngân hàng số trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số khuyến nghị
Chuyển đổi ngân hàng số trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số khuyến nghị
21/09/2022 2.926 lượt xem
Trong nhiều năm trở lại đây, ngành công nghệ thông tin thực sự đã len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống xã hội nhờ sự phát triển bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Bất kể một lĩnh vực hay ngành, nghề nào đều ứng dụng công nghệ thông tin, lĩnh vực ngân hàng cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đã và đang phục hồi từ đại dịch Covid-19, việc áp dụng công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
Chuyển đổi số ngành tài chính - ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh hậu Covid-19
Chuyển đổi số ngành tài chính - ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh hậu Covid-19
01/09/2022 4.689 lượt xem
Chuyển đổi số trong ngành tài chính - ngân hàng được xem là hệ quả tất yếu từ sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) cũng như sự tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19 trong bối cảnh hiện nay.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.520

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.500

Vàng SJC 5c

66.500

67.520

Vàng nhẫn 9999

53.000

54.000

Vàng nữ trang 9999

52.800

53.600


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.627 24.857 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.655 24.855 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.645 24.856 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.855 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.855 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.620 24.857 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.700 24.853 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.855 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.857 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?