Những kết quả nổi bật trong quản lý hoạt động thanh toán giai đoạn 2011-2015
21/02/2017 2.968 lượt xem
Bùi Quang Tiên
 
        
I- Tình hình chung về hoạt động thanh toán giai đoạn trước
năm 2011

         Trước năm 2011, hệ thống thanh toán nói chung đã có những bước phát triển bước đầu theo hướng hiện đại, các hệ thống thanh toán quan trọng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức, quản lý và vận hành hoạt động ổn định, an toàn. Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam đã bắt đầu phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển trong lĩnh vực thanh toán ở thời điểm đó chưa tương xứng với yêu cầu phát triển nhanh của nền kinh tế trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. So với các nước thì Việt Nam vẫn nằm trong nhóm nước sử dụng nhiều tiền mặt; tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/GDP vẫn còn cao, ở mức khoảng 19% (so với mức 8,28% của Thái Lan, 5,5% của Malaysia, 11,4% của Trung Quốc vào cuối năm 2009); tỷ lệ tiền mặt/Tổng phương tiện thanh toán giảm khá mạnh, nhưng vẫn còn ở mức cao so với các nước (14,02% năm 2010 giảm so với mức 19,27% của năm 2006).
         Với vai trò là cơ quan thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ định hướng, khuyến cáo, dẫn dắt thị trường thanh toán, trong thời gian qua, NHNN đã chủ động, tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán trong nền kinh tế, đặc biệt ưu tiên đẩy mạnh phát triển TTKDTM trong nền kinh tế. NHNN đã chủ động xây dựng và phối hợp với các Bộ, ngành hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán, triển khai chức năng giám sát hệ thống thanh toán trong nền kinh tế. NHNN cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2453/QĐ-TTg ngày 27/12/2011 phê duyệt Đề án đẩy mạnh TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 (Đề án 2453). Trong giai đoạn 2011 - 2015, đặt mục tiêu: Đa dạng hóa dịch vụ thanh toán, phát triển cơ sở hạ tầng thanh toán, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử, chú trọng phát triển TTKDTM trong khu vực nông thôn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của nền kinh tế, giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt, tạo sự chuyển biến mạnh, rõ rệt về tập quán thanh toán trong xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng và hiệu quả quản lý nhà nước.
 
         II- Kết quả triển khai các biện pháp quản lý hoạt động thanh toán giai đoạn 2011 - 2015
         Để thực hiện mục tiêu trên, triển khai Đề án 2453 và để phù hợp với xu hướng phát triển giai đoạn 2011 - 2015, NHNN tập trung thực hiện ba nhiệm vụ lớn, chủ yếu:  (i) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách cho hoạt động thanh toán. Tăng cường quản lý thanh toán bằng tiền mặt, hạn chế sử dụng tiền mặt trong các giao dịch giữa các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. (ii) Tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng thanh toán, đa dạng hóa dịch vụ thanh toán, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán trong nền kinh tế. (iii) Giám sát hệ thống thanh toán đảm bảo sự thông suốt, an toàn và hiệu quả của hoạt động thanh toán trong hệ thống ngân hàng, góp phần duy trì sự phát triển ổn định và an toàn của hệ thống tài chính quốc gia.
         1. Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách cho hoạt động thanh toán
         Hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán liên tục được hoàn thiện, một số văn bản quy phạm pháp luật đã được rà soát, chỉnh sửa, bổ sung và ban hành mới để hướng dẫn và điều chỉnh các hoạt động thanh toán nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và nhu cầu của thực tiễn; tạo sự đồng bộ và điều kiện thuận lợi, khuyến khích phát triển TTKDTM; tăng cường quản lý thanh toán bằng tiền mặt và đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển và hội nhập kinh tế của đất nước.
         NHNN đã xây dựng, trình Chính phủ và Thống đốc NHNN ban hành được nhiều văn bản quy phạm pháp luật, gồm: Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt và Nghị định số 222/2013/NĐ-CP ngày 31/12/2013 về thanh toán bằng tiền mặt; các Thông tư hướng dẫn về công tác thanh toán như: phí dịch vụ thanh toán, hoạt động của mạng lưới ATM, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ TTKDTM, dịch vụ trung gian thanh toán; và hướng dẫn một số vấn đề liên quan đến thanh toán bằng tiền mặt của các tổ chức sử dụng vốn nhà nước, quản lý tiền ký quỹ và hoạt động ký quỹ tại các ngân hàng theo quy định của pháp luật... NHNN đã có văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng giải ngân vốn vay bằng chuyển khoản trực tiếp cho người bán hàng hóa, vật tư, dịch vụ cho khách hàng vay vốn thụ hưởng và coi đây là biện pháp quan trọng để kiểm soát vốn vay sử dụng đúng mục đích nhằm đảm bảo an toàn vốn cho vay.
         Chính phủ cũng đã ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp TTKDTM qua ngân hàng như Nghị định số 121/2011/NĐ-CP quy định về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hoá mua vào có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên phải thanh toán qua ngân hàng.
         Bên cạnh đó, các NHTM đã chủ động, tích cực tiếp cận các doanh nghiệp để cung cấp thông tin về đặc điểm và tiện ích của từng loại phương tiện, dịch vụ TTKDTM, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc mở tài khoản và tiếp cận các dịch vụ thanh toán. Đến nay, đối với các khách hàng lớn (doanh nghiệp, tổ chức) của NHTM, phần lớn các giao dịch thanh toán bằng phương thức chuyển khoản đã được thực hiện qua ngân hàng.
         2. Về phát triển cơ sở hạ tầng thanh toán
         Cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ hoạt động thanh toán, TTKDTM, đặc biệt là thanh toán điện tử được các ngân hàng chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả nhằm tạo sự phát triển đồng bộ, bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động TTKDTM, phục vụ tốt cho việc cung ứng và ứng dụng các dịch vụ, phương tiện TTKDTM mới, hiện đại.
         Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tiếp tục đóng vai trò là hệ thống thanh toán cốt lõi, quan trọng nhất của nền kinh tế, giao dịch thanh toán được thực hiện nhanh, kịp thời, an toàn và chính xác, phục vụ tốt phát triển TTKDTM trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế và hoạt động của hệ thống ngân hàng. Hệ thống đã kết nối khoảng 360 đơn vị thành viên thuộc 96 tổ chức tín dụng trong toàn quốc, đáp ứng nhu cầu thanh, quyết toán tức thời với số lượng giao dịch thanh toán ngày càng tăng của nền kinh tế. Hệ thống hiện có số lượng giao dịch bình quân đạt trên 230.000 giao dịch/ngày, với tổng giá trị khoảng 220.000 tỷ đồng/ngày.
         Hệ thống thanh toán nội bộ của các ngân hàng thương mại (NHTM), nhất là các ngân hàng lớn, đã có sự phát triển vượt bậc, nhờ sự đầu tư về cơ sở hạ tầng và triển khai ứng dụng mạnh mẽ công nghệ phục vụ cho hoạt động thanh toán. Hầu hết các NHTM đã thiết lập được hệ thống ngân hàng lõi (core banking), phát triển hệ thống thanh toán nội bộ với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, cho phép các NHTM cung ứng các dịch vụ, phương tiện thanh toán hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng.
         NHNN đã chỉ đạo, triển khai và thực hiện hoàn thành Phương án sáp nhập Smartlink vào Banknetvn, xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất, tập trung chuyển mạch về một đầu mối. Trung tâm chuyển mạch đã thực hiện kết nối hầu hết các ngân hàng, khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán thẻ trong cả nước. Đồng thời, cũng mở ra một hướng đi mới cho các ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán, đặc biệt là cho sự hợp tác của các mạng lưới thanh toán thẻ liên ngân hàng ở Việt Nam.
         3. Về phát triển các dịch vụ thanh toán mới, đảm bảo an toàn, tiện lợi
         Trong giai đoạn 2011 - 2015, cùng sự phát triển với tốc độ nhanh của công nghệ, các dịch vụ thanh toán, đặc biệt là thanh toán điện tử đã phát triển mạnh, đa dạng hóa với nhiều sản phẩm, phương tiện mới, an toàn, tiện lợi, góp phần thúc đẩy thương mại điện tử phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của khách hàng.
         Bên cạnh các dịch vụ thanh toán truyền thống, hầu hết các NHTM đã và đang triển khai các dịch vụ thanh toán mới, hiện đại như Thẻ ngân hàng, Internet Banking, Mobile Banking, Ví điện tử nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, phù hợp với xu thế thanh toán của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong các năm qua, thẻ ngân hàng tiếp tục phát triển, số lượng thẻ phát hành, số lượng và giá trị giao dịch thẻ tăng khá nhanh; đến cuối tháng 9/2015, số lượng thẻ phát hành đã đạt 96,2 triệu thẻ (tăng trên 210% so với đầu năm 2011). Các NHTM đã tích hợp thêm nhiều tính năng vào thẻ ngân hàng để sử dụng thanh toán tiền điện, nước, cước viễn thông, bảo hiểm, phí giao thông, thanh toán trực tuyến; đồng thời, các NHTM cũng quan tâm hơn đến việc cải thiện chất lượng dịch vụ thẻ, chú trọng tăng độ an toàn của thẻ ngân hàng.
         Việc triển khai các dịch vụ thanh toán điện tử vừa qua, đặc biệt là dịch vụ Internet Banking, đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thu hút số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ khá lớn cũng như số lượng và giá trị giao dịch tăng cao; thể hiện tiềm năng, xu hướng trong phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại, qua đó tạo thêm kênh thanh toán mới, thuận tiện và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, nhà cung cấp hàng hóa và cả ngân hàng. Đến nay, có trên 60 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCƯDVTT) triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet và trên 30 TCCƯDVTT cung ứng dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động.
         Các NHTM quan tâm phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, khách hàng cá nhân, tình hình mở và sử dụng tài khoản cá nhân tiếp tục tăng lên, hiện đã đạt trên 57,8 triệu tài khoản. Một số NHTM bước đầu triển khai dịch vụ thanh toán tiền điện, tiền nước, cước phí điện thoại, viễn thông, truyền hình cáp, mua xăng dầu, phí bảo hiểm và một số khoản thu khác như học phí, phí giao thông không dừng... qua tài khoản, giảm dần việc nhân viên các đơn vị cung ứng dịch vụ phải trực tiếp thu bằng tiền mặt.
         Phát triển thanh toán thẻ qua điểm chấp nhận thẻ (POS) tăng cả về số lượng, giá trị giao dịch thanh toán đã thực sự góp phần phát triển TTKDTM. Đến nay, nhận thức chung của xã hội ở các tỉnh, thành phố lớn đã có chuyển biến rõ nét và tích cực; số lượng, giá trị thanh toán qua POS tăng nhanh, hiệu quả và chất lượng hơn. NHNN cũng chỉ đạo phát triển thanh toán POS trên thiết bị di động (mPOS), ứng dụng công nghệ hiện đại với chi phí thấp, dễ sử dụng, mở ra khả năng mới để phát triển nhanh các điểm chấp nhận thẻ; đề xuất chấp thuận cho 07 NHTM triển khai dịch vụ mPOS và được thí điểm sử dụng hóa đơn thanh toán điện tử.
         Phát triển TTKDTM ở khu vực nông thôn: NHNN đã xây dựng Đề án thí điểm một số hình thức TTKDTM ở khu vực nông thôn giai đoạn 2014 - 2015, qua đó sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại nhưng dễ sử dụng, phù hợp với địa bàn nông thôn để mở rộng, thúc đẩy TTKDTM trên địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Đến nay, NHNN đã chấp thuận triển khai thí điểm mô hình: dịch vụ thanh toán do MB phối hợp với Viettel thực hiện; dịch vụ thanh toán do PGBank phối hợp với Petrolimex thực hiện; dịch vụ thanh toán do Vietcombank phối hợp với M-Service thực hiện và đang chỉ đạo triển khai các nội dung khác. Trong thời gian đầu thực hiện, các mô hình thực hiện thí điểm đã đạt một số kết quả khả quan.
         NHNN phối hợp với Bộ Công thương trong việc phát triển thanh toán điện tử trong thương mại điện tử (TMĐT), như: nghiên cứu các giải pháp giám sát, quản lý giao dịch thanh toán trong TMĐT; tổ chức tọa đàm về thanh toán trong TMĐT; và phối hợp triển khai Chương trình phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2014 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
         4. Về giám sát hệ thống thanh toán
         Triển khai nhiệm vụ của NHNN trong việc giám sát các hệ thống thanh toán theo Luật NHNN, NHNN đã từng bước thực hiện chức năng giám sát đối với các hệ thống thanh toán của Việt Nam, tổ chức thực hiện giám sát trực tuyến liên tục hàng ngày đối với Hệ thống IBPS (từ năm 2011), theo định hướng phù hợp với yêu cầu giám sát của Ngân hàng Trung ương theo thông lệ quốc tế nhằm hoàn thiện hệ thống, đảm bảo hệ thống thanh toán hoạt động an toàn, hiệu quả.
         Đặc biệt, năm 2012, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, lần đầu tiên NHNN đã thực hiện đánh giá sự tuân thủ của Hệ thống IBPS theo Bộ nguyên tắc PFMIs (Principles for Financial Market Infrastructures) đối với Hạ tầng thị trường tài chính trong khuôn khổ Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP). Việt Nam là một trong ba nước đầu tiên trên thế giới thực hiện đánh giá theo Bộ nguyên tắc mới này. Đây chính là tiền đề để NHNN thực hiện đánh giá sự tuân thủ của hệ thống thanh toán khác trong nền kinh tế theo các nguyên tắc, chuẩn mực trong các năm tiếp theo.
         Bên cạnh việc giám sát Hệ thống IBPS, giai đoạn 2011 - 2015, NHNN cũng tập trung đẩy mạnh việc giám sát các phương tiện và hệ thống thanh toán bán lẻ trong nền kinh tế. NHNN đã tập trung triển khai hoạt động giám sát, theo dõi tình hình dịch vụ thanh toán thẻ, mạng lưới ATM/POS của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tập trung chính vào việc giám sát đảm bảo an toàn, chất lượng dịch vụ và phòng chống tội phạm thẻ. NHNN đã chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiều biện pháp, đồng thời thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở các đơn vị liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động, rà soát, bổ sung các quy trình, quy định cần thiết trong lắp đặt, sử dụng ATM; kịp thời phát hiện và xử lý  những sự cố phát sinh. Nhìn chung, dịch vụ ATM đã đáp ứng khá tốt nhu cầu giao dịch của khách hàng, chất lượng dịch vụ, an ninh, an toàn được cải thiện; hệ thống được vận hành khá thông suốt và hiệu quả hơn so với giai đoạn trước.
         Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ cũng xuất hiện tình trạng gia tăng của các loại hình tội phạm thẻ, đặc biệt là tội phạm từ nước ngoài vào Việt Nam. NHNN đã triển khai nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu mức độ ảnh hưởng, thiệt hại đối với người dân sử dụng dịch vụ cũng như với TCCƯDVTT, cụ thể: tuyên truyền về tình hình tội phạm thẻ, tội phạm sử dụng công nghệ cao trên các phương tiện thông tin đại chúng, chỉ đạo các TCCƯDVTT nâng cao tính bảo mật của hệ thống cơ sở hạ tầng, tích cực phối hợp với Bộ Công an để giám sát, xử lý kịp thời các vụ việc phát sinh...  
         Giai đoạn 2011 - 2015, là giai đoạn có tính chất đột phá đối với chính sách về giám sát hệ thống thanh toán của NHNN. Hoạt động giám sát các hệ thống thanh toán đã tiến gần hơn với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tạo tiền đề cho sự vận hành an toàn, ổn định và thông suốt cho các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế trước những thách thức và rủi ro ngày càng lớn trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
         Nhằm cụ thể hóa các quy định, lộ trình và phương thức triển khai giám sát các hệ thống thanh toán, ngày 29/7/2014, Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 1490/QĐ-NHNN ban hành Chiến lược giám sát các hệ thống thanh toán tại Việt Nam giai đoạn 2014 - 2020. Đây có thể được coi là một chính sách quan trọng trong chính sách của NHNN, đặt nền móng cho việc giám sát và đánh giá tuân thủ của các hệ thống thanh toán tại Việt Nam đến năm 2020.
         III- Giải pháp tiếp tục phát triển hoạt động thanh toán giai đoạn 2016 - 2020
         Nhìn chung, hoạt động thanh toán tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh theo đúng định hướng của Đảng và Chính phủ, phù hợp với thông lệ quốc tế. Tỷ trọng tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm dần, từ 14,02% năm 2010 đến nay còn khoảng 12%. Nhiều phương tiện thanh toán và dịch vụ thanh toán mới, hiện đại, tiện ích đã ra đời trên cơ sở ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán cũng như yêu cầu của nền kinh tế. Số lượng thẻ phát hành tăng 210% so với đầu năm 2011. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thanh toán ngày càng được tăng cường và nâng cao chất lượng. Số lượng ATM và POS tăng trưởng nhanh, tăng tương ứng 47% và 300% so với đầu năm 2011. Hoạt động thanh toán và các hệ thống thanh toán do NHNN tổ chức, quản lý và vận hành ngày càng được hoàn thiện, đảm bảo an toàn và đạt hiệu quả.
         Phát huy những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, giai đoạn 2016 - 2020, để phát triển TTKDTM trong nền kinh tế Việt Nam, đáp ứng yêu cầu tất yếu của quá trình hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, góp phần đẩy mạnh tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, NHNN tiếp tục tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
         Thứ nhất, tổng kết, đánh giá việc triển khai Đề án đẩy mạnh TTKDTM giai đoạn 2011 - 2015, trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng Đề án mới cho giai đoạn 2016 - 2020, trình Thủ tướng Chính phủ.
         Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán; xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển TTKDTM, tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn cho các hoạt động thanh toán, đặc biệt đối với các loại hình, phương tiện, hệ thống thanh toán mới.
         Thứ ba, hoàn thiện, phát triển các hệ thống thanh toán của NHNN; triển khai nâng cấp, mở rộng, duy trì hoạt động thông suốt, hiệu quả Hệ thống IBPS; xây dựng, đưa vào vận hành hệ thống thanh toán bù trừ điện tử tự động phục vụ các giao dịch bán lẻ (ACH) tại Việt Nam; phát triển Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất.
         Thứ tư, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ thanh toán, ứng dụng các phương tiện hiện đại; chú trọng đẩy mạnh TTKDTM trong khu vực nông thôn, cung ứng các dịch vụ đa dạng, phong phú gắn với tăng cường tài chính toàn diện (Financial Inclusion) ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
         Thứ năm, tăng cường quản lý, giám sát đối với các hệ thống thanh toán quan trọng, các hệ thống thanh toán, phương tiện, dịch vụ thanh toán mới, đảm bảo các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế hoạt động an toàn, hiệu quả và thông suốt.
         Thứ sáu, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, quảng bá, phổ biến, hướng dẫn về TTKDTM, tạo sự chuyển biến căn bản của người dân về TTKDTM và thói quen sử dụng tiền mặt hiện nay.
Thứ bảy, tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn cho các hệ thống thanh toán quan trọng; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong việc tăng cường các quy định và biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật, phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh toán thẻ, ATM, POS và các phương thức thanh toán sử dụng công nghệ cao.
 

Bài đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 1 tháng 1/2016

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
02/02/2023 82 lượt xem
Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ với tinh thần quyết liệt và khẩn trương chính sách hỗ trợ 2% lãi suất đối với một số ngành, lĩnh vực thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế, với doanh nghiệp vừa trải qua khó khăn sau hơn 02 năm chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, bên cạnh hỗ trợ lãi suất, nhu cầu về vốn là rất quan trọng.
Giải pháp điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2022 và định hướng năm 2023
Giải pháp điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2022 và định hướng năm 2023
26/01/2023 99 lượt xem
Kinh tế trong nước năm 2022 phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, sức ép lạm phát gia tăng do các tác động từ bên ngoài; các thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản gặp khó khăn về thanh khoản, dòng tiền, tiềm ẩn rủi ro; giá xăng dầu, nguyên vật liệu biến động mạnh, ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành, lĩnh vực; trong khi đó, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, gây thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.
Bàn về phát triển kinh tế tập thể ở nước ta hiện nay
Bàn về phát triển kinh tế tập thể ở nước ta hiện nay
19/01/2023 123 lượt xem
Hợp tác tập thể là hình thức tổ chức phổ quát nhất được biết đến ngày nay. Trên thực tế, hình thức này được tất cả các nước và mọi người vận dụng bằng những cách khác nhau.
Kết quả thực hiện chính sách tài khóa năm 2022 và định hướng năm 2023
Kết quả thực hiện chính sách tài khóa năm 2022 và định hướng năm 2023
17/01/2023 343 lượt xem
Năm 2022, nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp khó lường. Dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát, nhưng căng thẳng địa chính trị, xung đột vũ trang và lạm phát tăng cao đã khiến đà phục hồi của nền kinh tế thế giới chậm lại, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, bất ổn trên thị trường tài chính, tiền tệ. Ở trong nước, nền kinh tế phục hồi nhanh, song vẫn còn nhiều khó khăn, áp lực kiểm soát lạm phát, tỷ giá, lãi suất, do ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng năng lượng và biến động mạnh của thị trường tài chính, tiền tệ toàn cầu; thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp nhiều biến động... Tuy nhiên, với sự chủ động trong điều hành và triển khai thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả, ngành Tài chính đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tài chính - NSNN.
Giải pháp phát triển kinh tế chia sẻ ở Việt Nam
Giải pháp phát triển kinh tế chia sẻ ở Việt Nam
26/12/2022 1.143 lượt xem
Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), thời đại “công nghệ số” hình thành dẫn đến việc ứng dụng công nghệ vào các lĩnh vực đời sống, xã hội và trở thành xu hướng phát triển tất yếu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản lý cho vay ngang hàng: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản lý cho vay ngang hàng: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
23/12/2022 1.347 lượt xem
Kinh nghiệm các quốc gia trong khu vực cho thấy, xu hướng phát triển nhanh chóng của mô hình cho vay ngang hàng (P2P Lending) đã khiến nhiều quốc gia trải qua sự thay đổi từ không quản lý sang cấp phép chặt chẽ đối với P2P Lending như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan để kiểm soát các rủi ro liên quan.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa mục tiêu Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số, xã hội số
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa mục tiêu Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số, xã hội số
21/12/2022 1.338 lượt xem
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 16/2021/QH15 ngày 27/7/2021 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 411); trong đó, nêu rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế số và xã hội số được đặt ở mức ưu tiên cao trong các Chiến lược phát triển quốc gia.
Phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
19/12/2022 1.267 lượt xem
Đi cùng với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng nhanh chóng, sâu rộng và những tiến bộ vượt bậc từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế số. Tại Việt Nam, vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được Đảng và Nhà nước chủ trương tiến hành từ cuối thế kỷ XX cho đến nay.
Nền kinh tế độc lập, tự chủ và vai trò khu vực kinh tế nhà nước
Nền kinh tế độc lập, tự chủ và vai trò khu vực kinh tế nhà nước
16/12/2022 1.732 lượt xem
Độc lập, tự chủ là năng lực quốc gia trong giữ vững chủ quyền và sự tự quyết về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ quốc gia. Không thể có độc lập, tự chủ về chính trị trong khi lệ thuộc về kinh tế.
Bancassurance tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và xu hướng phát triển
Bancassurance tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và xu hướng phát triển
15/12/2022 2.133 lượt xem
Phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (Bancassurance) là mô hình liên kết kinh doanh phổ biến giữa ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm, một kênh phân phối tiềm năng và đang tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây bên cạnh các kênh phân phối bảo hiểm truyền thống khác.
Pháp luật về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm -  góc nhìn từ thực tiễn
Pháp luật về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm - góc nhìn từ thực tiễn
01/12/2022 1.392 lượt xem
Cả pháp luật Việt Nam và pháp luật của nhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp… đều cho phép một tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều chủ thể khác nhau. Nếu một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ như vậy, khi xử lý tài sản để thu hồi nợ, bên nhận bảo đảm nào có thứ tự ưu tiên thanh toán thứ nhất thì sẽ được thanh toán đầu tiên từ số tiền thu được, số dư còn lại sau đó mới được dùng để thanh toán lần lượt cho các chủ nợ ưu tiên tiếp theo.
Một số vấn đề pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản
Một số vấn đề pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản
30/11/2022 1.356 lượt xem
Trong bài viết này, tác giả phân tích một số khía cạnh pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) là quyền tài sản, bao gồm xác định phạm vi của TSBĐ là quyền tài sản để xử lý, xử lý TSBĐ là quyền tài sản có liên quan đến quyền lợi của người thứ ba và xử lý TSBĐ là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng.
Sửa đổi Luật BHTG nhằm đề cao sứ mệnh bảo vệ người gửi tiền
Sửa đổi Luật BHTG nhằm đề cao sứ mệnh bảo vệ người gửi tiền
29/11/2022 1.391 lượt xem
Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động BHTG tại Việt Nam. Luật BHTG đã được ban hành và thực hiện hơn 10 năm, đủ thời gian để tổng kết, đánh giá những tồn tại, hạn chế nhằm mục tiêu bảo vệ tốt hơn nữa quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.
Một số vấn đề pháp lý đối với tiền điện tử quốc gia
Một số vấn đề pháp lý đối với tiền điện tử quốc gia
28/11/2022 1.796 lượt xem
Trong bối cảnh toàn cầu gia tăng mạnh mẽ về các loại tiền điện tử của tư nhân, nhiều quốc gia đang cân nhắc về việc phát hành tiền điện tử quốc gia. Ở một số nước, NHTW đã tiến hành đến giai đoạn nâng cao của thử nghiệm tiền điện tử quốc gia như: Trung Quốc, Thụy Điển, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ...; còn một số khác đã chính thức phát hành tiền điện tử quốc gia như: Bahamas, Nigeria, Campuchia…
Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế
Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế
19/11/2022 2.252 lượt xem
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến khó lường, kinh tế nhiều nước rơi vào vòng xoáy khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) đến quý III/2022 tăng trưởng vượt mọi dự báo. Đóng góp vào thành công đó có vai trò quan trọng của dòng vốn tín dụng ngân hàng.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.320

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.300

Vàng SJC 5c

66.500

67.320

Vàng nhẫn 9999

53.700

54.700

Vàng nữ trang 9999

53.500

54.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24,639 26.018 27.488 28.660 172.43 182.55
BIDV 23.300 23.600 24,835 26.039 27,641 28.719 173.60 182.70
VietinBank 23.262 23.622 24,899 26.034 27,850 28.860 173.92 180.87
Agribank 23.280 23.595 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.268 23.653 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.280 23.630 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.260 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?