Giải pháp điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2022 và định hướng năm 2023
26/01/2023 3.250 lượt xem
Kinh tế trong nước năm 2022 phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, sức ép lạm phát gia tăng do các tác động từ bên ngoài; các thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản gặp khó khăn về thanh khoản, dòng tiền, tiềm ẩn rủi ro; giá xăng dầu, nguyên vật liệu biến động mạnh, ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành, lĩnh vực; trong khi đó, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, gây thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã kịp thời đưa ra các quyết sách hỗ trợ nền kinh tế, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm an sinh xã hội.
 
1. Giải pháp điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2022 
 
Bám sát các chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6 - 6,5% và lạm phát khoảng 4% do Quốc hội đề ra, ngay từ đầu năm 2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng cho cả năm và có điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình thực tế. Trước yêu cầu phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, NHNN đã chủ động, kịp thời ban hành và quyết liệt chỉ đạo hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) triển khai nhiều chính sách, giải pháp về tín dụng nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp khôi phục và phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần vào kết quả tích cực của tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Cụ thể:
 
1.1. Điều hành các giải pháp tín dụng phù hợp, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, tiếp tục kiểm soát rủi ro tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro
 

 
Ngay tại Chỉ thị về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng đầu năm 2022 và các văn bản chỉ đạo điều hành về hoạt động tín dụng, Thống đốc NHNN đã yêu cầu các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, cân đối vốn phù hợp để cấp tín dụng, tập trung vốn vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ…, các động lực tăng trưởng theo đúng chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, tích cực đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đối với ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (như tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; cho vay các chương trình trong nông nghiệp; cho vay phát triển công nghiệp hỗ trợ; cho vay nhà ở xã hội...). Đặc biệt, đã chủ động nắm bắt tình hình, kịp thời có các văn bản chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai nhiều giải pháp đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn đối với các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu, góp phần tháo gỡ khó khăn, bảo đảm an ninh năng lượng.
 
Theo đó, tín dụng toàn nền kinh tế, tín dụng đối với các ngành, lĩnh vực đều tăng ngay từ đầu năm 2022 và hầu hết tăng cao hơn cùng kỳ hai năm 2021, 2020 (là hai năm chịu ảnh hưởng nặng bởi dịch Covid-19); đến ngày 30/12/2022, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 14,08% so với cuối năm 2021.
 
Thứ nhất, cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh1; theo đó, tín dụng ngành nông, lâm, thủy sản tăng 7,55%, ngành công nghiệp và xây dựng tăng 7,51%, ngành thương mại và dịch vụ tăng 14,46%, phù hợp với đóng góp và tăng trưởng của các ngành kinh tế trong GDP.
 
Thứ hai, tín dụng các lĩnh vực ưu tiên tăng trưởng tốt, phù hợp với định hướng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN, có thể kể đến như tín dụng nông nghiệp, nông thôn tăng 11,09%; doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 6,64%; tín dụng công nghiệp hỗ trợ tăng 10,94%.
 
Thứ ba, tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro tiếp tục được kiểm soát theo định hướng.
 
1.2. Tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng của người dân, doanh nghiệp, góp phần hạn chế “tín dụng đen”
 
Thời gian qua, bên cạnh các giải pháp điều hành tín dụng, NHNN đã chủ động triển khai nhiều giải pháp:
 
Thứ nhất, thường xuyên chỉ đạo các TCTD mở rộng, đa dạng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, giảm lãi suất, đơn giản hóa thủ tục cho vay nhằm tăng cường tiếp cận tín dụng qua các kênh chính thức. Điển hình trong năm 2022, Công ty Tài chính TNHH HD Saison (HD Saison) và Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (FE Credit) đã cam kết và ký Thỏa thuận hợp tác với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, dành 10.000 tỷ đồng mỗi công ty để cho vay đối với công nhân tại các khu công nghiệp với lãi suất ưu đãi bằng khoảng 50% lãi suất các công ty này đang cho vay trên thị trường.
 
Thứ hai, triển khai các chính sách hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cho đến hết thời gian hiệu lực của chính sách.
 
Thứ ba, tiếp tục triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp trên mọi cấp độ (Trung ương, địa phương, TCTD).
 
Thứ tư, tăng cường hoạt động truyền thông, phổ biến về cơ chế, chính sách, chương trình tín dụng bằng nhiều hình thức để nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp về các chính sách, sản phẩm, dịch vụ tín dụng ngân hàng.
 
1.3. Hỗ trợ tạo điều kiện cho Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) thực hiện tốt các chương trình tín dụng chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội
 
Thứ nhất, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2022/NĐ-CP ngày 26/4/2022 về chính sách tín dụng ưu đãi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2030, giai đoạn 1: từ năm 2021 đến năm 2025, tạo cơ sở cho NHCSXH thực hiện chính sách.
 
Thứ hai, chỉ đạo, ban hành văn bản hướng dẫn các TCTD nhà nước duy trì tiền gửi 2% hàng năm tại NHCSXH, tái cấp vốn cho NHCSXH, khuyến khích các ngân hàng đầu tư trái phiếu NHCSXH được Chính phủ bảo lãnh. Đến nay, tổng các nguồn vốn hỗ trợ nêu trên chiếm gần 56% tổng nguồn vốn hoạt động của NHCSXH, đã góp phần quan trọng trong việc ổn định, bổ sung nguồn vốn cho NHCSXH để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách.
 
Thứ ba, bên cạnh đó, NHNN đã tham mưu ban hành và tích cực đôn đốc triển khai Kế hoạch hành động của Chính phủ triển khai các chỉ thị, kết luận của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội. Tạo sự kết nối, vào cuộc của cả hệ thống chính trị - xã hội với công cuộc giảm nghèo bền vững, góp phần thay đổi sâu sắc nhận thức và hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tăng cường vai trò của chính quyền địa phương, vừa ủy thác cung ứng vốn cho vay, vừa giám sát để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
 
Với sự hỗ trợ của NHNN cho hoạt động tín dụng chính sách xã hội tại NHCSXH, trong năm 2022, hoạt động tín dụng chính sách xã hội có những kết quả tích cực. Ước tính, tổng dư nợ tín dụng chính sách xã hội đạt trên 284 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 14,6% so với cuối năm 2021, với khoảng 6,5 triệu khách hàng còn dư nợ; trong đó, dư nợ cho vay theo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội ước đạt trên 16 nghìn tỷ đồng, hoàn thành trên 85% kế hoạch được giao 
năm 2022. 
 
1.4. Triển khai chính sách hỗ trợ 2% lãi suất đối với một số ngành, lĩnh vực thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội
 
Ngay từ khi được Chính phủ giao nhiệm vụ, NHNN đã rất chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2022/NĐ-CP ngày 20/5/2022 về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và trong cùng ngày, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 03/2022/TT-NHNN hướng dẫn các ngân hàng thương mại thực hiện hỗ trợ lãi suất.  
 
Sau khi chính sách được ban hành, công tác triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất được thực hiện khẩn trương, quyết liệt tại NHNN và các ngân hàng thương mại, thể hiện quyết tâm, nỗ lực của ngành Ngân hàng trong triển khai chính sách hỗ trợ của Nhà nước; thông qua các hội nghị giữa NHNN, các bộ, ngành và các ngân hàng thương mại để tuyên truyền, giải đáp vướng mắc, hội nghị kết nối giữa ngân hàng và doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn, tổ chức khảo sát thực tế nhằm đôn đốc triển khai, ghi nhận các vướng mắc để xử lý… Trong đó, công tác thông tin, truyền thông (qua các kênh báo, đài, các sở, ngành, địa phương, hiệp hội…) đã được chú trọng, giúp cho các khách hàng doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh hiểu rõ, đầy đủ về chính sách và sớm nắm bắt thông tin, cách thức để tiếp cận chính sách hỗ trợ lãi suất từ ngân hàng thương mại. Đến nay, doanh số cho vay được hỗ trợ lãi suất đạt hơn 38.000 tỷ đồng đối với hơn 1.500 khách hàng, dư nợ được hỗ trợ lãi suất gần 29.000 tỷ đồng, dự kiến số tiền hỗ trợ lãi suất cho khách hàng hơn 85 tỷ đồng. 
 
1.5. Triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh, ngân hàng xanh
 
Thứ nhất, để triển khai quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 liên quan đến tín dụng xanh, NHNN đã nghiên cứu, xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; tích cực phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường để đề xuất, xây dựng các nội dung về cơ chế khuyến khích và lộ trình thực hiện tín dụng xanh tại Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định các tiêu chí về môi trường và việc xác nhận đối với dự án được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh.
 
Thứ hai, tham gia xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030. Đến cuối quý III/2022, dư nợ cấp tín dụng đối với các dự án xanh đạt gần 478 nghìn tỷ đồng, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp xanh, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch; dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt hơn 2,2 triệu tỷ đồng, với hơn 1,1 triệu món vay được đánh giá.
 
1.6. Xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động tín dụng ngành, lĩnh vực phù hợp với thực tế như:
 
Quy định về hoạt động bảo lãnh ngân hàng; hoạt động mua bán nợ của TCTD; quy định đánh giá rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; chính sách tín dụng ưu đãi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030; chính sách hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh...
 
2. Định hướng điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực năm 2023
 
Trong năm 2023, căn cứ mục tiêu, yêu cầu của Quốc hội, Chính phủ và các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng, NHNN định hướng hoạt động tín dụng ngành, lĩnh vực tập trung vào một số nội dung sau:
 
Thứ nhất, tiếp tục hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Kiểm soát rủi ro tín dụng đối với hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như đầu tư, kinh doanh chứng khoán, lĩnh vực bất động sản, đặc biệt là cấp tín dụng với mục đích đầu tư, kinh doanh bất động sản, các dự án BOT giao thông; tăng cường quản lý rủi ro đối với cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, tín dụng tiêu dùng. 
 
Thứ hai, theo dõi sát tình hình cấp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực thiết yếu như xăng dầu, một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực; nhu cầu nhà ở của người dân, các dự án bất động sản nhà ở sắp hoàn thành xây dựng và bàn giao, có khả năng trả nợ vay đầy đủ và đúng hạn, đảm bảo tính pháp lý, có thanh khoản tốt, nhất là các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, các dự án nhà ở thương mại với giá phù hợp... để chỉ đạo các TCTD tập trung vốn tín dụng, nắm bắt kịp thời các khó khăn, vướng mắc đề xuất Lãnh đạo NHNN có các giải pháp xử lý phù hợp. 
 
Thứ ba, chỉ đạo các TCTD phát triển đa dạng sản phẩm tín dụng ngân hàng phù hợp từng loại hình, nhu cầu sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, nhất là đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã; tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận tín dụng, góp phần hạn chế tín dụng đen. 
 
Thứ tư, triển khai với nỗ lực cao nhất nhiệm vụ được giao tại Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các chính sách và kịp thời kiến nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh phù hợp.
 
Thứ năm, thực hiện các nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại các chương trình mục tiêu quốc gia; hỗ trợ và tạo điều kiện để TCTD, NHCSXH thực hiện tốt các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành tháo gỡ vướng mắc trong việc triển khai các chương trình này.
 
1 Số liệu tín dụng ngành kinh tế, lĩnh vực ưu tiên đến cuối tháng 11/2022.

ThS. Hà Thu Giang
Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao vai trò của Ủy ban kiểm toán và kiểm toán nội bộ  trong công ty cổ phần
Nâng cao vai trò của Ủy ban kiểm toán và kiểm toán nội bộ trong công ty cổ phần
18/06/2024 166 lượt xem
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán giữ vai trò quan trọng đối với sự lành mạnh về thông tin công bố trên thị trường tài chính nói chung và doanh nghiệp nói riêng.
Thành công bước đầu trong mục tiêu thu hẹp chênh lệch giá vàng thế giới và trong nước
Thành công bước đầu trong mục tiêu thu hẹp chênh lệch giá vàng thế giới và trong nước
06/06/2024 428 lượt xem
Đến sáng 05/6/2024, khoảng cách giữa giá vàng miếng SJC trong nước quy đổi so với giá vàng thế giới được thu hẹp đáng kể - đây là thành công bước đầu trong giải pháp mà NHNN mới đưa ra.
Quyết liệt triển khai các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Quyết liệt triển khai các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
31/05/2024 969 lượt xem
Kết thúc năm 2023, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực: Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng tiền Việt Nam cơ bản ổn định; nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách trong tầm kiểm soát...
Chính sách tiền tệ góp phần hạn chế sự hình thành các doanh nghiệp zombie tại Việt Nam
Chính sách tiền tệ góp phần hạn chế sự hình thành các doanh nghiệp zombie tại Việt Nam
31/05/2024 877 lượt xem
“Doanh nghiệp zombie” lần đầu tiên được đề xuất như một thuật ngữ kinh tế bởi Kane (1987) và được nhắc đến nhiều nhất vào những năm 1990 trong thời kì khủng hoảng kinh tế kéo dài khoảng 10 năm (1991 - 2001) sau sự sụp đổ của bong bóng giá tài sản tại Nhật Bản.
Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm ổn định lạm phát tại Việt Nam
Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm ổn định lạm phát tại Việt Nam
13/05/2024 2.526 lượt xem
Ổn định lạm phát luôn được coi là một biến số kinh tế vĩ mô trọng tâm tại Việt Nam. Trong giai đoạn lạm phát phi mã từ năm 1986 đến năm 1990, chính sách tiền tệ đóng vai trò chủ đạo với giải pháp nâng lãi suất để hút tiền khỏi quá trình lưu thông. Đến giai đoạn lạm phát cao từ năm 2007 đến năm 2012, chính sách tiền tệ và tài khóa cùng thắt chặt để giảm lượng vốn đầu tư, thể hiện trực tiếp cho lượng tiền tệ trong nền kinh tế.
Thực tiễn thi hành về sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và một số đề xuất
Thực tiễn thi hành về sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và một số đề xuất
01/05/2024 1.528 lượt xem
Bài viết nghiên cứu, đánh giá quy định của pháp luật và quy chế nội bộ của Ngân hàng Hợp tác xã (NHHTX) về hoạt động cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (Quỹ bảo toàn) và thực tiễn thi hành từ thời điểm thành lập năm 2014 đến nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn.
Bàn về một số điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024
Bàn về một số điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024
25/04/2024 4.862 lượt xem
Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024 được Quốc hội thông qua ngày 18/01/2024. Nội dung Luật có nhiều điểm mới tích cực, được đánh giá sẽ góp phần đảm bảo hoạt động tài chính của các TCTD phát triển lành mạnh, ổn định.
Nhận diện một số thách thức pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động ngân hàng tại Việt Nam
Nhận diện một số thách thức pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động ngân hàng tại Việt Nam
22/04/2024 1.604 lượt xem
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn ra trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động ngân hàng cũng không nằm ngoài sự chuyển đổi đó. Tại Việt Nam, những năm gần đây, ngành Ngân hàng luôn là một trong những ngành có tỉ lệ chuyển đổi số nhanh nhất.
Hoàn thiện các quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Hoàn thiện các quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
17/04/2024 2.028 lượt xem
Trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật để thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế, hình ảnh của nước ta trên trường quốc tế.
Tác động của tài chính toàn diện đến ổn định tài chính -  Một số khuyến nghị cho Việt Nam
Tác động của tài chính toàn diện đến ổn định tài chính - Một số khuyến nghị cho Việt Nam
12/04/2024 2.143 lượt xem
Tài chính toàn diện có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của một quốc gia, góp phần thúc đẩy và mở rộng khả năng tiếp cận tài chính của dân số, qua đó khuyến khích tiết kiệm và đầu tư đối với hộ gia đình và doanh nghiệp, tạo cơ hội phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ, mở rộng khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm và thu nhập, góp phần hạn chế rủi ro và gia tăng lợi nhuận đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính.
Tăng cường các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tăng cường các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
16/03/2024 4.667 lượt xem
Năm 2024, kinh tế thế giới dự báo tiếp tục khó khăn dưới tác động của điều kiện tài chính thắt chặt, mặt bằng lãi suất còn cao, xung đột địa chính trị, rủi ro tài chính gia tăng, lạm phát có dấu hiệu chậm lại nhưng vẫn cao…; ở trong nước, nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do bối cảnh cầu thế giới, thương mại quốc tế chậm phục hồi, bảo hộ thương mại gia tăng; sản xuất, kinh doanh tiếp tục khó khăn, mức độ hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn tương đối thấp; những khó khăn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản vẫn chưa được xử lý căn cơ, đòi hỏi các cấp, bộ, ngành Trung ương và địa phương tiếp tục triển khai nhiều giải pháp tổng thể hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
Triển khai Nghị định số 78/2023/NĐ-CP: Những chuyển động bước đầu và hướng đi trong thời gian tới
Triển khai Nghị định số 78/2023/NĐ-CP: Những chuyển động bước đầu và hướng đi trong thời gian tới
15/03/2024 3.547 lượt xem
Ngày 07/11/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 22/12/2023.
Điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh lạm phát thế giới tăng cao từ năm 2022 đến nay - Một số khuyến nghị chính sách
Điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh lạm phát thế giới tăng cao từ năm 2022 đến nay - Một số khuyến nghị chính sách
14/03/2024 13.030 lượt xem
Giai đoạn từ năm 2022 đến nay, trước bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tục tăng lãi suất, NHNN đã điều hành tỷ giá tương đối ổn định, đặc biệt là tỷ giá với các ngoại tệ như Đô la Mỹ, Euro và các ngoại tệ khác tại các quốc gia có quan hệ giao thương đáng kể với Việt Nam nhằm duy trì ổn định vĩ mô trong nước, hỗ trợ đầu tư, sản xuất phát triển.
Cần thiết ban hành khung pháp lý toàn diện và cụ thể để điều chỉnh Fintech tại Việt Nam
Cần thiết ban hành khung pháp lý toàn diện và cụ thể để điều chỉnh Fintech tại Việt Nam
13/03/2024 3.926 lượt xem
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân đối với Dự thảo Nghị định quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (sau đây gọi tắt là Dự thảo Nghị định).
Nâng cao kĩ năng cho người dân khu vực nông thôn trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường điện tử
Nâng cao kĩ năng cho người dân khu vực nông thôn trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường điện tử
06/03/2024 3.619 lượt xem
Một trong những sứ mệnh của chuyển đổi số là phổ cập, cá nhân hóa dịch vụ số như giáo dục, y tế, ngân hàng để hướng tới người dân. Ngành Ngân hàng luôn phấn đấu tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sử dụng dịch vụ trên môi trường điện tử, trong đó có hướng đến phổ cập tài chính tới vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

74.980

76.980

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

74.980

76.980

Vàng SJC 5c

74.980

77.000

Vàng nhẫn 9999

73.300

74.900

Vàng nữ trang 9999

73.200

74.100


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,191 25,461 26,604 28,063 31,597 32,940 156.89 166.05
BIDV 25,230 25,461 26,792 28,069 31,853 32,958 157.51 166.11
VietinBank 25,230 25,461 26,868 28,163 32,072 33,082 158.47 167.07
Agribank 25,260 25,461 26,760 28,062 31,738 32,910 157.90 165.69
Eximbank 25,200 25,452 27,215 28,141 32,038 33,028 160.39 165.84
ACB 25,220 25,453 27,222 28,156 32,081 33,049 160.48 166.81
Sacombank 25,215 25,453 27,440 28,200 32,257 32,960 161.19 166.22
Techcombank 25,190 25,453 27,047 28,408 31,708 33,051 156.64 169.07
LPBank 24,993 25,453 26,969 28,646 32,130 33,031 158.44 169.19
DongA Bank 25,270 25,453 27,260 28,090 31,990 33,020 158.10 166.00
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,30
3,60
4,30
4,40
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,10
2,10
2,30
3,40
3,45
4,30
4,30
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
2,90
3,10
3,20
4,00
4,00
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?