Vướng mắc và kiến nghị khi thực hiện việc tổ chức, hoạt động của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra
28/06/2022 1.529 lượt xem
Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 06/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 quy định về tổ chức, hoạt động của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra (Thông tư số 06). Thông tư gồm có 07 chương và 52 điều và có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2021. Các văn bản sau hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư Thông tư số 06 có hiệu lực pháp luật: Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra; Thông tư số 05/2015/TT-TTCP ngày 10/9/2015 của Thanh tra Chính phủ quy định về giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra; Thông tư số 08/2015/TT-TTCP ngày 15/12/2015 của Thanh tra Chính phủ quy định về Sổ nhật ký Đoàn thanh tra; Quyết định số 2316/QĐ-TTCP ngày 10/10/2013 của Thanh tra Chính phủ ban hành Quy trình thẩm định dự thảo Kết luận thanh tra.

Thông tư số 06 thể hiện tính ưu việt thông qua việc đã tổng hợp nội dung của 4 văn bản trước đó mà Thanh tra Chính phủ đã ban hành, thể hiện tính tinh gọn, dễ hiểu, dễ thấy, dễ tìm để thực hiện nhiệm vụ thanh tra, quản lý công tác thanh tra nói chung, Đoàn thanh tra nói riêng: Từ công tác tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, đến công tác giám sát hoạt động Đoàn thanh tra, việc ghi sổ nhật ký Đoàn thanh tra, việc thực hiện Quy trình thẩm định dự thảo Kết luận thanh tra.
 

Thông tư số 06 đã thể hiện tính ưu việt thông qua việc đã tổng hợp nội dung của 4 văn bản trước đó mà
Thanh tra Chính phủ đã ban hành
 
Thông tư số 06 nêu rõ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thủ trưởng cơ quan hành chính Nhà nước có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan thanh tra và các cơ quan thuộc thẩm quyền quản lý của mình trong công tác thanh tra; giải quyết khó khăn, vướng mắc, xử lý kịp thời kiến nghị về thanh tra và chỉ đạo, tổ chức thực hiện kết luận thanh tra theo quy định của pháp luật.

Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo đoàn thanh tra, bảo đảm nguyên tắc của hoạt động thanh tra, bảo đảm cuộc thanh tra được thực hiện đúng pháp luật, đúng mục đích, yêu cầu; giải quyết kịp thời các phản ánh, kiến nghị của Đoàn thanh tra; các khiếu nại, phản ánh, kiến nghị, tố cáo liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra.

Đặc biệt, Thông tư số 06 bổ sung thêm nội dung quyền hạn của Đoàn thanh tra (Điều 48). Cụ thể: Từ việc kết thúc hoạt động của Đoàn thanh tra, quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người ra quyết định thanh tra ký ban hành Kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức họp để kết thúc hoạt động của Đoàn thanh tra. Nội dung họp Đoàn thanh tra được lập thành biên bản và được lưu trong Hồ sơ thanh tra; Nội dung họp kết thúc hoạt động của Đoàn thanh tra bao gồm: Đánh giá kết quả thanh tra so với mục đích, yêu cầu của cuộc thanh tra; Đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và việc chấp hành pháp luật, chỉ đạo của Người ra quyết định thanh tra và tuân thủ chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, chế độ thông tin, báo cáo trong hoạt động của Đoàn thanh tra; Những bài học kinh nghiệm rút ra qua cuộc thanh tra; Nội dung khác theo yêu cầu của Người ra quyết định thanh tra. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo kết quả cuộc họp với Người ra quyết định thanh tra và Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì cuộc thanh tra. Trưởng đoàn thanh tra kết thúc việc thực hiện nhiệm vụ sau khi Kết luận thanh tra được công khai. Việc quy định này đã tháo gỡ rất nhiều vấn đề vướng mắc từ trước đến nay.

Một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất kiến nghị

Mặc dù quy trình đã rất rõ ràng và thể hiện tính ưu việt như đã nêu ở trên, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn những hạn chế, vướng mắc, tác giả xin nêu ra và có những kiến nghị, đề xuất như sau:

Khi Đoàn thanh tra hết thời gian thanh tra trực tiếp tại đơn vị, thì vẫn còn nhiều vấn đề phải xử lý, tuy nhiên, lại bị bó buộc về quyền hạn, như quyền yêu cầu giải trình theo nội dung kết luận tại biên bản thanh tra đã chốt, yêu cầu cung cấp thêm thông tin, copy, sao y tài liệu chứng cứ liên quan đến kết luận thanh tra, nhất là quyền xử phạt vi phạm hành chính cho thanh tra chuyên ngành. Đối với những việc này, đơn vị bị thanh tra thường chống đối không cung cấp vì cho Đoàn thanh tra. Vì vậy, Trưởng Đoàn thanh tra phải giải thích, thuyết phục nên phần đông được nhiều đơn vị chấp hành theo yêu cầu. Song, cá biệt có đơn vị bị thanh tra kiên quyết chống đối không cung cấp tài liệu, nhất là việc sao y, copy tài liệu, chứng cứ liên quan mật thiết đến nội dung thanh tra và hồ sơ xử lý vi phạm hành chính (lưu trữ chứng cứ)… vì đơn vị đó cho rằng Đoàn thanh tra đã hết thời gian thanh tra tại đơn vị họ.

Tại sao như vậy? Lý do thứ nhất là quá trình thanh tra rất ngắn, nội dung công việc quá nhiều, Đoàn thanh tra không còn thời gian sao lưu, copy hay yêu cầu đơn vị làm; lý do thứ hai là khi Đoàn thanh tra rút về để thực hiện tổng hợp nội dung thanh tra toàn đoàn, các thành viên Đoàn thanh tra báo cáo có nhiều nội dung cần làm rõ thêm hoặc thiếu thông tin quan trọng liên quan đến nội dung kết luận đó, nên Trưởng đoàn phải xác minh, bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung thanh tra, nên cần phải có văn bản hoặc xuống trực tiếp đơn vị yêu cầu cung cấp bổ sung. Vì vậy, tác giả xin nêu ra một vài đề xuất như sau:

Thứ nhất, cần quy định rõ hơn quyền hạn của Đoàn thanh tra trong thời gian thanh tra tại đơn vị và sau thời gian thực hiện thanh tra trực tiếp tại đơn vị, rút về tổng hợp, báo cáo.

Điều 28 Thông tư số 06 quy định: Trước khi kết thúc việc tiến hành thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra và thông báo bằng văn bản cho đối tượng thanh tra về việc kết thúc thanh tra trực tiếp. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra tổ chức buổi làm việc với đối tượng thanh tra để thông báo việc kết thúc thanh tra trực tiếp. Văn bản thông báo kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra thực hiện theo Mẫu số 32 ban hành kèm theo Thông tư số 06.

Tuy nhiên, tại Điều này, không quy định rõ quyền hạn của Đoàn thanh tra khi rút về, được thực hiện những quyền gì? Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định rõ ràng, chi tiết hơn để Đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ trong thi hành công vụ. Trong Luật Thanh tra, cũng như cụ thể tại Thông tư số 06, đều quy định quyền hạn “trong thời hạn thanh tra”, không có quy định “quyền hạn khi Đoàn thanh tra đã rút về trong quá trình tổng hợp báo cáo, dự thảo kết luận thanh tra, không còn làm trực tiếp tại đơn vị”; mặc dù Mẫu số 32 của Thông tư số 06 có đề cập nội dung nhưng vẫn chưa đầy đủ và có tính pháp lý cao, mà phải quy định rõ ràng và sửa đổi, bổ sung Điều 28 Thông tư số 06 nhằm tránh sự chống đối, cản trở, gây khó khăn cho Đoàn thanh tra khi thi hành công vụ. 

Thứ hai, về nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra (Điều 53 Luật Thanh tra 2010) có quy định: “Tổ chức, chỉ đạo các thành viên Đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung quyết định thanh tra”.

Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 06 quy định cụ thể kết thúc hoạt động của Đoàn thanh tra (Điều 48). Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người ra quyết định thanh tra ký ban hành kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức họp để kết thúc hoạt động của Đoàn thanh tra. Nội dung họp Đoàn thanh tra được lập thành biên bản và được lưu trong hồ sơ thanh tra. Nội dung họp kết thúc hoạt động của Đoàn thanh tra bao gồm: Đánh giá kết quả thanh tra so với mục đích, yêu cầu của cuộc thanh tra; Đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và việc chấp hành pháp luật, chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra và tuân thủ chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, chế độ thông tin, báo cáo trong hoạt động của Đoàn thanh tra; Những bài học kinh nghiệm rút ra qua cuộc thanh tra; Nội dung khác theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo kết quả cuộc họp với người ra quyết định thanh tra và thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì cuộc thanh tra. Trưởng đoàn thanh tra kết thúc việc thực hiện nhiệm vụ sau khi Kết luận thanh tra được công khai.

Từ căn cứ quy định “Trưởng đoàn tổ chức họp đánh giá kết quả thanh tra so với mục đích, yêu cầu của cuộc thanh tra; đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và việc chấp hành pháp luật, chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra và tuân thủ chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, chế độ thông tin, báo cáo trong hoạt động của Đoàn thanh tra”; căn cứ Điều 54 Luật Thanh tra về nhiệm vụ quyền hạn của thành viên đoàn thanh tra, thanh tra viên là “Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với Trưởng đoàn thanh tra, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Trưởng đoàn thanh tra về tính chính xác, trung thực, khách quan của nội dung đã báo cáo”, thực tế phát sinh khi Trưởng đoàn đánh giá do trong Đoàn thanh tra có từ 02 thành viên đoàn báo cáo chưa trung thực, khách quan, chưa đầy đủ nội dung theo kế hoạch thanh tra đã đề ra, còn để nhiều tồn tại, sai phạm tại đơn vị được thanh tra, bỏ qua nhiều sai sót; Trưởng đoàn phê bình, nhắc nhở và đương nhiên theo quy định phải báo cáo rõ cho Thủ trưởng là người ra quyết định thanh tra được biết và đề nghị xử lý kỷ luật nếu thành viên đoàn thanh tra đó không tiếp thu. Tuy nhiên, khi Thủ trưởng là người ra quyết định thanh tra nhận được báo cáo của Trưởng đoàn về các hành vi trên, thay vì xử lý kỷ luật, thì người ra quyết định thanh tra lại cho rằng, việc thành viên Đoàn thanh tra báo cáo chưa trung thực, khách quan, chưa đầy đủ nội dung theo kế hoạch thanh tra đã đề ra, còn để rất nhiều tồn tại, sai phạm thì Trưởng đoàn cũng phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật theo đoàn viên Đoàn thanh tra. Như vậy, có đúng không? Vì Thông tư 06 quy định chưa rõ ràng vấn đề này.

Xuất phát từ thực tế như vậy, Thông tư số 06 cần quy định rõ hơn việc Trưởng Đoàn thanh tra có phải chịu trách nhiệm không? Khi thành viên Đoàn thanh tra yếu về chuyên môn, không phát hiện ra thì theo Điều 42 Luật Thanh tra quy định rõ “Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, mà không hoàn thành nhiệm vụ thanh tra hoặc cố ý không phát hiện hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý mà không xử lý, không kiến nghị việc xử lý hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật về thanh tra thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Thực tế quyền hạn của Trưởng đoàn còn rất hạn chế theo quy định, nên việc chỉ đạo, điều hành của Trưởng đoàn thanh tra có thể gặp khó khăn, vướng mắc khi có thành viên không hoàn thành nhiệm vụ thanh tra hoặc cố ý không phát hiện hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý mà không xử lý, không kiến nghị việc xử lý hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật về thanh tra, mà không có chế tài xử lý, chỉ có quyền báo cáo đề xuất… Nếu người ra quyết định thanh tra ủng hộ thì thuận lợi; trái lại, nếu không ủng hộ và quy trách nhiệm thì rất khó khăn cho Trưởng đoàn thanh tra.

Do vậy, tác giả đề nghị Thông tư số 06 cần quy định rõ Trưởng đoàn chịu trách nhiệm về lĩnh vực nào, về chuyên môn của thành viên Đoàn thanh tra yếu không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hoặc do đạo đức của họ cố ý không phát hiện hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý mà không xử lý, không kiến nghị việc xử lý.

Thứ ba, trong thanh tra chuyên ngành thì lĩnh vực rất rộng, hầu như phải thanh tra tất cả hoạt động của một pháp nhân trong hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Việc quy định phân công nhiệm vụ thành viên Đoàn thanh tra vào kế hoạch thanh tra là không hợp lý, kế hoạch này do Thủ trưởng - “người ra quyết định thanh tra phê duyệt”, nên bị đóng cứng, khi xuống thanh tra, Trưởng đoàn căn cứ nhiệm vụ phát sinh và năng lực sở trưởng từng thành viên Đoàn thanh tra phân công lại thì không thể, vì đã được Thủ trưởng phê duyệt; vì vậy, rất khó khăn để điều chỉnh cho phù hợp.

Tác giả đề xuất, việc này nên để Trưởng đoàn họp phân công sẽ sát và thực tế; sau đó, báo cáo lại cho người ra quyết định thanh tra thì phù hợp hơn. Bởi vì nếu phân công vào kế hoạch thanh tra ngay từ khi chưa xuống công bố quyết định thanh tra sẽ bị đóng cứng, nhiều nội dung do khảo sát chưa đầy đủ, mà khi xuống thanh tra mới phát sinh vụ việc. Lúc này Trưởng đoàn có thể tiên lượng được đầy đủ công việc và căn cứ sở trường, chuyên môn của từng thành viên để phân công nhiệm vụ phù hợp.

Thứ tư, Thông tư số 06 cần bổ sung thêm nội dung bảo quản tài liệu mật trong thanh tra, là những tài liệu gì, ai được quyền tiếp cận, ngoài Đoàn thanh tra, thủ trưởng cấp trên của người ra quyết định thanh tra? Bảo quản như thế nào? Ai được tiếp cận, xem, đọc, giữ, quản lý, để quản lý tốt hơn, không lộ thông tin cho người khác can thiệp, hoặc tham mưu cho lãnh đạo can thiệp trái pháp luật, làm cho Đoàn thanh tra rất khó xử lý vi phạm.

Cao Sỹ Thuân
Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Hải Dương 
                                                                  

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Đẩy mạnh cho vay tiêu dùng an toàn, lành mạnh
Đẩy mạnh cho vay tiêu dùng an toàn, lành mạnh
26/09/2022 992 lượt xem
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động cho vay tiêu dùng, đặc biệt tăng cường quản lý đối với hoạt động cho vay tiêu dùng của công ty tài chính.
Tiền ảo, tài sản ảo vẫn nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật
Tiền ảo, tài sản ảo vẫn nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật
22/09/2022 1.072 lượt xem
Luật Phòng, chống rửa tiền được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 - là văn bản pháp lý toàn diện quy định về phòng, chống rửa tiền, tạo cơ sở pháp lý để từng bước nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền ở Việt Nam, tiến tới phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền.
Thực thi trách nhiệm thúc đẩy phát triển tín dụng xanh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thực thi trách nhiệm thúc đẩy phát triển tín dụng xanh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
13/09/2022 1.064 lượt xem
Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã khẳng định hệ thống tiền tệ, ngân hàng và hoạt động của các tổ chức tín dụng là huyết mạch của nền kinh tế, tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính Việt Nam.
Luật Bảo hiểm tiền gửi: Sau 10 năm kiến tạo hành lang pháp lý cho chính sách bảo hiểm tiền gửi
Luật Bảo hiểm tiền gửi: Sau 10 năm kiến tạo hành lang pháp lý cho chính sách bảo hiểm tiền gửi
09/09/2022 1.031 lượt xem
Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 là văn bản pháp lý cao nhất và toàn diện nhất về bảo hiểm tiền gửi (BHTG), xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức BHTG, cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia BHTG, đối tượng được BHTG, tiền gửi được bảo hiểm, thời điểm chi trả bảo hiểm...
Bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng với tư cách người thứ ba ngay tình trong tranh chấp tài sản bảo đảm
Bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng với tư cách người thứ ba ngay tình trong tranh chấp tài sản bảo đảm
07/09/2022 345 lượt xem
Tăng trưởng tín dụng ngày càng mạnh mẽ thì các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng và tài sản bảo đảm cũng ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ phức tạp. Nhiều trường hợp các tổ chức tín dụng đã trở thành người thứ ba ngay tình trong các tranh chấp tài sản bảo đảm với khách hàng.
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững
30/08/2022 1.101 lượt xem
Ngày 29/8/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg về một số giải pháp thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững.
Fintech và những thách thức trong việc ban hành các quy định pháp lý
Fintech và những thách thức trong việc ban hành các quy định pháp lý
15/08/2022 1.226 lượt xem
Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, chúng ta chứng kiến hai sự kiện đã tác động đến hệ thống tài chính toàn cầu, đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống rửa tiền (sửa đổi)
Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống rửa tiền (sửa đổi)
05/08/2022 1.214 lượt xem
Ngày 4/8/2022, tại TP.Hồ Chí Minh, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức hội thảo “Tham vấn ý kiến về dự án Luật phòng, chống rửa tiền (sửa đổi)” trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 4 (tháng 10/2022).
Hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại huyện Sơn Động
Hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại huyện Sơn Động
20/07/2022 1.418 lượt xem
Ngày 18/7/2022, tại huyện Sơn Động (Bắc Giang), Đảng ủy cơ quan NHTW và Huyện ủy Sơn Động tổ chức Lễ ký kết văn bản ghi nhớ thực hiện Chương trình kết nối, hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Ban Bí thư trên địa bàn huyện.
Chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng - Cơ hội, thách thức và khuyến nghị hoàn thiện pháp lý
Chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng - Cơ hội, thách thức và khuyến nghị hoàn thiện pháp lý
11/07/2022 1.874 lượt xem
Chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống đang mang lại nhiều tác động, làm thay đổi cách chúng ta cung ứng và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cũng như cách khai thác sự tiến bộ của công nghệ, đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19.
Phát triển và bảo vệ hiệu quả cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
Phát triển và bảo vệ hiệu quả cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
04/07/2022 1.715 lượt xem
Đồng hành với công cuộc đổi mới của đất nước, cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng, lớn mạnh về chất lượng, mở rộng về phạm vi địa bàn, lĩnh vực và quy mô hoạt động, trưởng thành về bản lĩnh thị trường và nâng cao về vị thế trong nền kinh tế quốc gia, từng bước vươn xa, khẳng định tầm vóc và sức cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Bảo vệ người tiêu dùng tài chính: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
Bảo vệ người tiêu dùng tài chính: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
28/06/2022 1.898 lượt xem
Bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh, minh bạch của khu vực tài chính, thúc đẩy tài chính toàn diện và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Một khung khổ bảo vệ người tiêu dùng tài chính hiệu quả là điều kiện cần thiết để mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, mang lại lợi ích thiết thực, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có đầy đủ thông tin để đưa ra quyết định sử dụng các dịch vụ tài chính một cách tốt nhất.
Sắp đưa vào thử nghiệm và quản lý chính thức hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam
Sắp đưa vào thử nghiệm và quản lý chính thức hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam
06/06/2022 3.051 lượt xem
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) mới đây đã công bố lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định quy định Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng. Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là một trong những lĩnh vực được phép thử nghiệm.
Khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với các gói hỗ trợ tài khóa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số khuyến nghị
Khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với các gói hỗ trợ tài khóa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số khuyến nghị
03/06/2022 2.940 lượt xem
Đại dịch Covid-19 được coi như một cú sốc phi truyền thống gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng cũng như nền kinh tế toàn cầu. Dưới tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế Việt Nam năm 2021 hứng chịu cú sốc kép từ phía cung do hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ngưng trệ, chuỗi cung ứng gián đoạn và phía cầu do người tiêu dùng cắt giảm mạnh chi tiêu.
Vận dụng thành quả cải cách hành chính nâng cao chất lượng điều hành và hỗ trợ nền kinh tế
Vận dụng thành quả cải cách hành chính nâng cao chất lượng điều hành và hỗ trợ nền kinh tế
31/05/2022 1.806 lượt xem
Ngày 25/5/2022, tại Hội nghị công bố Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2021 (SIPAS 2021) và Chỉ số cải cách hành chính năm 2021 (Par Index) của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ tổ chức, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đạt 90.37/100 điểm - nằm trong nhóm 3 Bộ dẫn đầu Par Index 2021. Sáu năm trước đó, giai đoạn 2015 - 2020, NHNN đã xếp vị trí thứ nhất trong số các bộ, ngành về chỉ số Par Index.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

65.800

66.620

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

65.800

66.600

Vàng SJC 5c

65.800

66.620

Vàng nhẫn 9999

50.350

51.250

Vàng nữ trang 9999

50.250

50.850


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?