Phát triển và bảo vệ hiệu quả cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
04/07/2022 3.623 lượt xem
Những phát triển về lượng và chất của cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam

Đồng hành với công cuộc đổi mới của đất nước, cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng, lớn mạnh về chất lượng, mở rộng về phạm vi địa bàn, lĩnh vực và quy mô hoạt động, trưởng thành về bản lĩnh thị trường và nâng cao về vị thế trong nền kinh tế quốc gia, từng bước vươn xa, khẳng định tầm vóc và sức cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2020, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp khoảng 42% GDP, 30% thu ngân sách Nhà nước, 53% tổng vốn đầu tư của nền kinh tế Việt Nam và chiếm 83,3% vị trí việc làm xã hội, tức khoảng 45,2 triệu người.

Cộng đồng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện có khoảng hơn 800 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động; dù đa số doanh nghiệp là vừa và nhỏ, song số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, đạt tổng tài sản đến hàng trăm nghìn tỷ đồng và sử dụng hàng chục nghìn lao động. Khu vực tư nhân ngày càng tham gia nhiều hơn, sâu hơn vào hầu hết lĩnh vực của nền kinh tế, từ công nghiệp chế tạo cho đến du lịch, dịch vụ. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã hướng tới đột phá trong sản xuất công nghiệp và công nghệ với những dự án đầy tham vọng với hy vọng vươn ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, xuất hiện một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp của tư nhân có quy mô, tiềm lực tài chính lớn và quản trị, công nghệ hiện đại, đi tiên phong trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng như sản xuất ô tô, hàng không, công nghệ thông tin, viễn thông, dịch vụ, bất động sản, nông nghiệp...; nhiều doanh nghiệp tư nhân như Vingroup, Masan, Vietjet, Techcombank, Thế giới di động, Novaland, Hòa Phát... đang có giá trị vốn hóa khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, chiếm 44% tổng giá trị của 29 doanh nghiệp lớn nhất trên sàn chứng khoán có giá trị vốn hóa trên 1 tỷ USD. Trong danh sách 200 công ty có doanh thu trên 1 tỷ USD tốt nhất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương do Forbes Asia 2019 công bố, có 07 doanh nghiệp của Việt Nam. Theo Tạp chí Forbes (Mỹ), tính đến ngày 24/12/2021, Việt Nam có 06 tỷ phú (tổng cộng họ đang nắm giữ tổng tài sản khoảng 19,5 tỷ USD) nằm trong bảng xếp hạng tỷ phú USD của thế giới.

Đặc biệt, bản lĩnh và tầm nhìn kinh doanh của doanh nhân Việt Nam ngày càng được khẳng định, nói như ông Nguyễn Việt Quang, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Vingroup (thành lập năm 1993, là tập đoàn đa ngành tư nhân có vốn hóa lớn trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, khoảng 17 tỷ USD), những gì các doanh nghiệp nước ngoài làm được thì người Việt chúng ta cũng sẽ làm được; nhiều doanh nhân cũng tự tin cho rằng doanh nhân Việt không hề thua kém các doanh nhân nước ngoài nếu trong cùng môi trường đầu tư như nhau. Bên cạnh đó, tính tiên phong của doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam cũng được khẳng định trong cả những lĩnh vực công nghệ thời thượng nhất.

Trong năm 2021, dù cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn lớn bởi đại dịch Covid-19, song theo Tổng cục Thống kê, cả nước bình quân một tháng có 13,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi có gần 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; hơn nữa, dịch bệnh Covid-19 đã và đang tạo áp lực và cả động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ và bùng nổ kinh tế số ở Việt Nam cả về tốc độ và phạm vi, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tìm những hướng đi mới và hoạt động hiệu quả hơn… Các chỉ số xếp hạng trong nhiều lĩnh vực thuộc ngành Thông tin và Truyền thông đều được các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Năm 2021, Việt Nam có 64.000 doanh nghiệp công nghệ số, tăng 5.600 doanh nghiệp so với năm 2020 và so với chỉ có 45.600 doanh nghiệp công nghệ số năm 2019. Nhiều doanh nghiệp công nghệ số đã chuyển sang sản xuất các sản phẩm công nghệ 4.0... Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố 34 nền tảng số Make in Viet Nam. Các doanh nghiệp công nghệ số như VNPT, Viettel, CMC, FPT… có tiềm lực, có đóng góp lớn trong phát triển chính phủ số, kinh tế số với việc xây dựng các nền tảng số quốc gia. Các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam hiện nay không chỉ gia công, lắp ráp cho nước ngoài mà với tinh thần Make in Viet Nam, các doanh nghiệp đã vươn lên, sản xuất và làm chủ những sản phẩm, nền tảng công nghệ chuyển đổi số trong nước. Doanh thu ngành Thông tin và Truyền thông năm 2021 đạt 3.462.170 tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2020 và cơ bản hoàn thành 100% kế hoạch đặt ra. Công nghiệp ICT, với doanh thu năm 2021 đạt hơn 136 tỷ USD, tăng hơn 11,4 tỷ USD so với năm 2020. Trong đó, doanh thu của các doanh nghiệp Việt Nam đạt 18,779 tỷ USD, chiếm 13,8% tổng doanh thu. Bên cạnh đó, giá trị của Việt Nam tạo ra trong doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm khoảng 15% (hơn 17,6 tỷ USD). Giá trị Việt Nam trong tổng doanh thu công nghiệp ICT khoảng 33,568 tỷ USD (chiếm 24,65%).

Năm 2021, bất chấp dịch bệnh nặng nề, lần đầu tiên Việt Nam lọt vào Top 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới: Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%; khu vực kinh tế trong nước đạt 88,71 tỷ USD, tăng 13,4%, chiếm 26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 247,54 tỷ USD, tăng 21,1%, chiếm 73,6%.

Đặc biệt, đầu tư từ khu vực ngoài Nhà nước của Việt Nam năm 2021 đạt 1.720,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 59,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành và tăng 7,2% so với năm trước, trong khi vốn khu vực Nhà nước giảm 2,9% và chiếm 24,7%; còn khu vực FDI giảm 1,1% và chỉ chiếm 15,8%.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam cũng ngày càng thấm nhuần tinh thần yêu nước, cộng đồng, tuân thủ pháp luật và tăng cường trách nhiệm xã hội; đóng góp ngày càng tích cực vào các hoạt động thiện nguyện và hỗ trợ bảo đảm an sinh xã hội… Một triết lý sống và truyền thống quý báu của doanh nhân Việt Nam là tư tưởng “Lá lành đùm lá rách”; gần như 100% các doanh nhân Việt Nam đều làm từ thiện và có kế hoạch từ thiện hằng năm; tỷ lệ doanh nghiệp làm từ thiện ở Việt Nam đứng hàng đầu thế giới. Chỉ riêng đợt dịch Covid-19, các doanh nghiệp Việt Nam đã đóng góp cho từ thiện khoảng 3 tỷ USD, trong đó có những doanh nghiệp đóng góp hàng trăm triệu USD. Một tinh thần, một trách nhiệm rất Việt Nam!

Những thành công và trưởng thành cả về lượng và chất của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân là rất to lớn và không phải là ngẫu nhiên. Đó là kết quả tổng hợp và thước đo hiệu quả khả năng tự chủ, tự cường, phản ứng chính sách và phản ứng thị trường đồng bộ cùng một quá trình phấn đấu lâu dài, không ngừng nghỉ của Đảng, Chính phủ và Nhà nước, cũng như toàn thể cộng đồng doanh nghiệp tư nhân và doanh nhân Việt Nam.

Theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã  hội 10 năm 2021 - 2030, phấn đấu đến năm 2025, Việt Nam có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; phấn đấu tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân đạt khoảng 55% GDP (năm 2025); 60 - 65% GDP (năm 2030) và 65 - 70% GDP (năm 2040).

Năm 2022 và thời gian tới, kinh tế tư nhân trong nước là động lực mạnh mẽ nhất, giúp phát triển và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Điều này phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Nhận diện và xử lý hành vi bôi nhọ, xuyên tạc, xúc phạm uy tín các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam

Cùng với việc tôn vinh các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam, thì một vấn đề nóng đang đặt ra là cần đề cao cảnh giác, tăng cường phê phán các quan điểm và hành vi cố tình xuyên tạc và bôi nhọ, xúc phạm uy tín các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam trong đời sống kinh tế - xã hội quốc gia và quốc tế.

Trong số các hành vi đó, có lẽ phổ biến hơn cả là hiện tượng dùng mạng xã hội để đăng thông tin xuyên tạc, bôi nhọ uy tín, thương hiệu của doanh nhân và doanh nghiệp trên thương trường. Với sự phát triển mạnh và tốc độ lan truyền như vũ bão của mạng xã hội hiện nay, việc tung tin thất thiệt, thông tin chưa được kiểm chứng, sai sự thật, thậm chí cố ý bôi nhọ, xúc phạm đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nhiều doanh nhân, doanh nghiệp.

Qua quan sát, có thể nhận thấy, có nhiều thành phần và động cơ tham gia vào các hoạt động cố tình bôi nhọ, xuyên tạc, nói xấu đội ngũ doanh nhân và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Trước hết, đó là các lực lượng chống đối Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong và ngoài nước. Những người này thường sử dụng các thông tin một chiều, thiếu chính xác rồi nâng cấp và quy chụp cho hệ thống doanh nhân Việt Nam là thành công chủ yếu nhờ hối lộ, móc ngoặc, ăn cắp của nhà nước, của dân…

Thứ hai, sự cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến sự thù địch và cản phá nhau giữa các đối thủ là các doanh nhân và doanh nghiệp, người nhà và người thân của họ cũng là một nguồn bổ sung vào danh mục các hành vi và lực lượng tham gia nói xấu, xuyên tạc, bôi nhọ đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam… Thường là sau khi không đạt được nguyện vọng trong cạnh tranh, giành giật hợp đồng và thị trường thì “bên thua cuộc” sẽ triển khai kịch bản hạ bệ “kẻ thắng cuộc” thông qua hình thức viết đơn, thư, bài hoặc tung thông tin lên mạng xã hội để bôi nhọ đối thủ và nói xấu chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, một bộ phận khác bao gồm những người thiếu ý thức chính trị, thiếu thông tin và tinh thần xây dựng, manh động, cực đoan, thường vì lý do và lợi ích cá nhân, hễ thấy một thông tin tiêu cực cá biệt nào liên quan tới doanh nhân, doanh nghiệp và chính quyền, đất nước là lên mạng xã hội kích động, trách móc doanh nhân, doanh nghiệp và hệ thống chính quyền… để thể hiện cái tôi và câu view, like, ăn tiền quảng cáo cho trang cá nhân.

Thậm chí, một số cư dân mạng nấp sau bàn phím và nghĩ rằng mạng xã hội không bộc lộ rõ danh tính cá nhân, lại mang nặng tâm lý đám đông, bầy đàn, hễ thấy thông tin mới, giật gân, không rõ đầu đuôi tranh luận thế nào, người trong cuộc với câu chuyện ai sai, ai đúng… nhưng sẵn sàng trở thành “quan tòa tự phong” hay “anh hùng bàn phím” thể hiện thái độ và sự phản đối gay gắt bằng nhiều ngôn từ, hành vi cực đoan, kể cả lập nhóm tẩy chay, ghép hình “dìm hàng”, spam tin nhắn hàng loạt với nội dung đe dọa. Họ có thể thóa mạ bất kỳ ai để thỏa mãn cơn nóng giận nhất thời và bức xúc cá nhân về một chuyện hoàn toàn khác, bất chấp hình ảnh người Việt xấu xí, đố kỵ đã, đang và sẽ in hằn trong tâm thức cộng đồng quốc tế và bị kẻ xấu, kẻ thù địch lấy làm hả hê và lợi dụng để tạo hình ảnh xấu về dân tộc Việt Nam.

Hành vi cố ý đưa thông tin không đúng sự thật và bôi nhọ về doanh nhân và doanh nghiệp trên mạng xã hội có tính chất kết nối, truyền thông tin rộng rãi trên khắp thế giới, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vu khống theo Điều 122 Bộ luật Hình sự, theo đó “Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm”. Ngoài ra, cá nhân và doanh nghiệp bị đưa tin sai sự thật có quyền yêu cầu người đưa thông tin chấm dứt hành vi đăng tin sai sự thật, yêu cầu xin lỗi, cải chính thông tin, bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Bên cạnh đó, hành vi đưa thông tin sai sự thật về doanh nhân và doanh nghiệp còn vi phạm Nghị định số 174/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Doanh nhân và doanh nghiệp bị đưa thông tin sai sự thật có thể trình báo với cơ quan Công an để tiến hành điều tra, xác minh sự việc và nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, cũng có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người đăng thông tin sai sự thật chấm dứt hành vi đăng tin sai sự thật, bồi thường thiệt hại, cải chính thông tin. Theo Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT ngày 19/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, doanh nhân và doanh nghiệp bị đưa thông tin sai sự thật còn có quyền yêu cầu đơn vị chủ quản các mạng xã hội loại bỏ thông tin sai phạm.

Khi lập trang web giả mạo, bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín doanh nhân và doanh nghiệp mà dùng những lời lẽ thô tục, mang tính chất lăng mạ, miệt thị, hăm dọa giết người thì hành vi này có thể bị xem xét xử lý nghiêm khắc hơn về dấu hiệu của tội Đe dọa giết người theo quy định của Điều 103 Bộ luật Hình sự.

Tấn công, bắt nạt, thông tin giả (fake news) trên mạng xã hội nói chung, các hành vi nói xấu, xuyên tạc và bôi nhọ doanh nhân và doanh nghiệp Việt nói riêng… có xu hướng phát triển song song với sự lớn mạnh của Internet. Không chỉ có ở Việt Nam, bất cứ quốc gia nào cũng xảy ra hành vi kém văn minh này. Thực tế cũng cho thấy, trước sự bùng nổ của cộng đồng mạng với quy mô rất lớn, lực lượng tuyên giáo, thanh tra và an ninh mạng chưa có đủ nhân lực, phương tiện và công nghệ để xử lý, triệt phá tận gốc. Hơn nữa, nhiều trang mạng, máy chủ của các blogger được đặt ở nước ngoài nên khó kiểm soát và khó can thiệp.

Trong bối cảnh đó, cần coi trọng công tác giáo dục tư tưởng và đề cao trách nhiệm công dân trong các chương trình giáo dục đào tạo và tuyên truyền báo chí, truyền thông xã hội. Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021 khuyến khích sử dụng họ tên thật của cá nhân, tên hiệu thật của cơ quan tổ chức; đồng thời, khuyến khích chỉ chia sẻ những thông tin có nguồn chính thống, đáng tin cậy; không đăng tải thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, không sử dụng ngôn ngữ phản cảm, quảng cáo trái phép... Mặc dù Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành chỉ được xem là văn bản hướng dẫn, điều chỉnh hành vi để công dân tránh ngưỡng vi phạm pháp luật, nhưng đây là sự hướng dẫn tốt để tăng tính trách nhiệm trong mỗi nút like, bình luận hay chia sẻ, từ đó giúp xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh khi tương tác trên mạng xã hội…

Phát triển và bảo vệ hiệu quả khu vực kinh tế tư nhân là đòi hỏi cấp thiết từ cuộc sống và cũng là quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước; đồng thời, phải xuất phát từ thực tiễn đặc thù, các nguyên tắc của cơ chế kinh tế thị trường, cũng như các cam kết và thông lệ quốc tế trong xu hướng mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế.

Điều quan trọng không phải là ban cho kinh tế tư nhân những đặc quyền, đặc lợi, mà là tạo môi trường bảo đảm khu vực doanh nghiệp tư nhân thực sự bình đẳng, công bằng với các khu vực doanh nghiệp khác, kể cả trong đấu thầu. Nhà nước cần có nhiều đột phá mới, táo bạo, tháo gỡ, giải quyết căn bản các vướng mắc, bất cập, bức xúc đang tồn tại hoặc sẽ phát sinh trong thực tiễn. Quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo pháp luật, bình đẳng, cùng có lợi; coi trọng định hướng, hỗ trợ, kiểm tra, kiểm soát đối với kinh tế tư nhân bằng chính sách, thông tin thị trường và khuyến khích quá trình tái cơ cấu kinh tế. Chính phủ cần có một thể chế chính sách tốt, thu hút doanh nghiệp làm ăn, kinh doanh; khích lệ doanh nghiệp tận dụng những thế mạnh của đất nước để phát triển kinh tế; cổ vũ tinh thần dám nghĩ dám làm, lập nghiệp, xây dựng văn hóa doanh nhân trên cả nước. Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ vốn, giảm tối đa mức nắm giữ cổ phần nhà nước.

Đồng thời, cần thực sự đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia, sàng lọc, kiểm soát và trừng trị những kẻ nhũng nhiễu, vô trách nhiệm, sợ trách nhiệm đối với kinh tế tư nhân; kiện toàn tổ chức, nâng cao vai trò, năng lực, trách nhiệm của các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội doanh nghiệp trong bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người lao động, tạo sự đồng thuận, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh trên cơ sở pháp luật và truyền thống dân tộc; giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc và trách nhiệm xã hội, bản lĩnh kinh doanh cho doanh nhân và người lao động; xây dựng một số thương hiệu chủ lực quốc gia và địa phương…

Trước mắt, cần tập trung giải quyết các khó khăn của khu vực kinh tế tư nhân về nợ đọng, nợ xấu, mặt bằng sản xuất kinh doanh, nguồn vốn, năng lực khoa học - công nghệ và về thị trường...; tổ chức các đường dây nóng, các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc định kỳ và không định kỳ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nhân, doanh nghiệp; mở rộng, phát triển đồng bộ và nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là cung cấp thông tin thị trường, như thông tin về chất lượng, giá cả và cung - cầu, cũng như triển vọng sản phẩm; thông tin về đối tác, cơ hội và kinh nghiệm kinh doanh; thông tin về môi trường đầu tư (các quy định pháp lý, thủ tục xuất - nhập khẩu; các yêu cầu và giấy chứng nhận về vệ sinh an toàn, chất lượng sản phẩm; các đặc điểm văn hóa, thị hiếu tiêu dùng; hệ thống phân phối hàng;...) và các dịch vụ xúc tiến thương mại (hội chợ, triển lãm, quảng cáo và tham quan thị trường, môi giới và tiếp xúc với các đối tác tiềm năng...).

Song song đó, khuyến khích phát triển các dịch vụ hỗ trợ tư pháp, nhất là về đăng ký và xử lý tranh chấp thương hiệu, tư vấn kế toán, thuế, thủ tục xuất - nhập khẩu; các dịch vụ tài chính - ngân hàng, nổi bật là dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm và bảo lãnh tín dụng (kể cả bảo lãnh tín dụng quốc tế, thế chấp bằng tài sản ở trong nước của các doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam); xây dựng và triển khai hiệu quả những chương trình giáo dục, đào tạo riêng, thích hợp nhằm bồi dưỡng kiến thức của các giám đốc doanh nghiệp cũng như người lao động trong khu vực kinh tế tư nhân...

Về phía doanh nhân và doanh nghiệp cũng cần có sự chủ động tự điều chỉnh, bám sát và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh thị trường và quản trị rủi ro; vừa tuân thủ luật pháp, vừa chủ động phản biện, nêu rõ các khó khăn, vướng mắc và cụ thể hóa yêu cầu, kiến nghị, góp phần hoàn thiện luật pháp kinh doanh, tìm kiếm các biện pháp để tháo gỡ khó khăn cho kinh tế tư nhân... đưa đất nước phát triển theo đúng tinh thần kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa. Một nền kinh tế tư nhân mạnh là nền kinh tế có khu vực kinh tế tư nhân mạnh. Công cuộc đổi mới toàn diện và những đột phá táo bạo, đúng đắn về thể chế kinh tế tư nhân sẽ là một bảo đảm cho triển vọng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.
 
Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo thống kê kinh tế - xã hội định kỳ hằng tháng và hằng năm của Tổng cục Thống kê.
2.https://dantri.com.vn/phap-luat/bat-doi-tuong-boi-nho-doanh-nhan-nghe-sy-noi-tieng-tren-facebook-1434847718.htm
3. https://congly.vn/boi-nho-doanh-nghiep-tren-mang-xa-hoi-la-vi-pham-phap-luat-103748.html
4. https://tuoitre.vn/nguoi-viet-kem-van-minh-tren-mang-20200223220019317.htm

 

TS. Nguyễn Minh Phong - 
ThS. Nghiêm Anh Thư

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Hoàn thiện các quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Hoàn thiện các quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
17/04/2024 259 lượt xem
Trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật để thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế, hình ảnh của nước ta trên trường quốc tế.
Tác động của tài chính toàn diện đến ổn định tài chính -  Một số khuyến nghị cho Việt Nam
Tác động của tài chính toàn diện đến ổn định tài chính - Một số khuyến nghị cho Việt Nam
12/04/2024 747 lượt xem
Tài chính toàn diện có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của một quốc gia, góp phần thúc đẩy và mở rộng khả năng tiếp cận tài chính của dân số, qua đó khuyến khích tiết kiệm và đầu tư đối với hộ gia đình và doanh nghiệp, tạo cơ hội phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ, mở rộng khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm và thu nhập, góp phần hạn chế rủi ro và gia tăng lợi nhuận đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính.
Tăng cường các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tăng cường các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
16/03/2024 3.169 lượt xem
Năm 2024, kinh tế thế giới dự báo tiếp tục khó khăn dưới tác động của điều kiện tài chính thắt chặt, mặt bằng lãi suất còn cao, xung đột địa chính trị, rủi ro tài chính gia tăng, lạm phát có dấu hiệu chậm lại nhưng vẫn cao…; ở trong nước, nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do bối cảnh cầu thế giới, thương mại quốc tế chậm phục hồi, bảo hộ thương mại gia tăng; sản xuất, kinh doanh tiếp tục khó khăn, mức độ hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn tương đối thấp; những khó khăn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản vẫn chưa được xử lý căn cơ, đòi hỏi các cấp, bộ, ngành Trung ương và địa phương tiếp tục triển khai nhiều giải pháp tổng thể hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
Triển khai Nghị định số 78/2023/NĐ-CP: Những chuyển động bước đầu và hướng đi trong thời gian tới
Triển khai Nghị định số 78/2023/NĐ-CP: Những chuyển động bước đầu và hướng đi trong thời gian tới
15/03/2024 2.796 lượt xem
Ngày 07/11/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 22/12/2023.
Điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh lạm phát thế giới tăng cao từ năm 2022 đến nay - Một số khuyến nghị chính sách
Điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh lạm phát thế giới tăng cao từ năm 2022 đến nay - Một số khuyến nghị chính sách
14/03/2024 5.536 lượt xem
Giai đoạn từ năm 2022 đến nay, trước bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tục tăng lãi suất, NHNN đã điều hành tỷ giá tương đối ổn định, đặc biệt là tỷ giá với các ngoại tệ như Đô la Mỹ, Euro và các ngoại tệ khác tại các quốc gia có quan hệ giao thương đáng kể với Việt Nam nhằm duy trì ổn định vĩ mô trong nước, hỗ trợ đầu tư, sản xuất phát triển.
Cần thiết ban hành khung pháp lý toàn diện và cụ thể để điều chỉnh Fintech tại Việt Nam
Cần thiết ban hành khung pháp lý toàn diện và cụ thể để điều chỉnh Fintech tại Việt Nam
13/03/2024 2.998 lượt xem
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân đối với Dự thảo Nghị định quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (sau đây gọi tắt là Dự thảo Nghị định).
Nâng cao kĩ năng cho người dân khu vực nông thôn trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường điện tử
Nâng cao kĩ năng cho người dân khu vực nông thôn trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường điện tử
06/03/2024 3.076 lượt xem
Một trong những sứ mệnh của chuyển đổi số là phổ cập, cá nhân hóa dịch vụ số như giáo dục, y tế, ngân hàng để hướng tới người dân. Ngành Ngân hàng luôn phấn đấu tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sử dụng dịch vụ trên môi trường điện tử, trong đó có hướng đến phổ cập tài chính tới vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Những điểm mới, nổi bật của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024
Những điểm mới, nổi bật của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024
05/03/2024 7.920 lượt xem
Ngày 18/01/2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024 với 15 chương, 210 điều. Luật Các TCTD năm 2024 đã bám sát quan điểm của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, hoạt động ngân hàng theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước; khắc phục các vướng mắc, bất cập hiện tại; tham khảo thông lệ, kinh nghiệm quốc tế và phù hợp chiến lược phát triển ngành Ngân hàng. Xuất phát từ đó, bài viết tập trung làm rõ những điểm mới, nổi bật của Luật này.
Dữ liệu thống kê trong phục vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Dữ liệu thống kê trong phục vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
28/02/2024 3.033 lượt xem
Trải qua hơn 10 năm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, công tác thống kê tiền tệ phục vụ điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có nhiều bước tiến đáng kể.
Nhận định tác động của chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2023 đối với nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị
Nhận định tác động của chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2023 đối với nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị
24/02/2024 3.988 lượt xem
Năm 2023 vừa qua đã chứng kiến những biến động mạnh mẽ trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) trên thế giới, nổi bật là việc các ngân hàng trung ương (NHTW) liên tục tăng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát.
Chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
13/02/2024 2.989 lượt xem
Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các nước đã thừa nhận sự cần thiết của chính sách an toàn vĩ mô (ATVM) trong ổn định tài chính và đặt chính sách ATVM vào vị trí trung tâm của sự tương tác giữa các chính sách kinh tế vĩ mô với chính sách an toàn vi mô.
Chính sách tài khóa năm 2023 góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Chính sách tài khóa năm 2023 góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
11/02/2024 3.670 lượt xem
Nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2023 được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp, khó dự báo. Căng thẳng địa chính trị, tranh chấp giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột giữa Nga - Ukraine và Israel - Hamas diễn biến bất ngờ, lạm phát và giá nhiên liệu tăng cao khiến đà phục hồi của kinh tế thế giới chậm lại.
Phát triển lành mạnh tín dụng tiêu dùng, hạn chế tín dụng đen
Phát triển lành mạnh tín dụng tiêu dùng, hạn chế tín dụng đen
07/02/2024 3.272 lượt xem
Thời gian qua, tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20%/năm, từng bước góp phần giúp người dân, đặc biệt là những người yếu thế tiếp cận được các dòng vốn chính thức; hạn chế tình trạng tín dụng đen.
Bài toán tín dụng năm 2023 và lời giải cho năm 2024
Bài toán tín dụng năm 2023 và lời giải cho năm 2024
31/01/2024 3.577 lượt xem
Năm 2023 đã đi qua với nhiều câu chuyện kinh tế nổi bật và một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm rất lớn trong hoạt động của ngành Ngân hàng là vấn đề tăng trưởng tín dụng.
Triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Kết quả và giải pháp, định hướng thời gian tới
Triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Kết quả và giải pháp, định hướng thời gian tới
29/01/2024 4.657 lượt xem
Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 (ban hành theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ - Quyết định 1813) được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đầu mối phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai thực hiện được hơn hai năm, đã góp phần tạo sự chuyển biến sâu, rộng về TTKDTM trong nền kinh tế, thúc đẩy sử dụng các phương tiện, dịch vụ TTKDTM.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

81.800

83.800

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

81.800

83.800

Vàng SJC 5c

81.800

83.820

Vàng nhẫn 9999

74.800

76.700

Vàng nữ trang 9999

74.700

76.000


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 25,100 25,440 26,252 27,714 30,724 32,055 157.77 167.11
BIDV 25,130 25,440 26,393 27,618 30,763 32,067 158.12 166.59
VietinBank 25,090 25,443 26,504 27,799 31,154 32,164 160.64 168.59
Agribank 25,100 25,440 26,325 27,607 30,757 31,897 159.58 167.50
Eximbank 25,040 25,440 26,425 27,239 30,914 31,866 160.82 165.77
ACB 25,110 25,442 26,596 27,279 31,230 31,905 161.07 166.37
Sacombank 25,170 25,420 26,701 27,261 31,332 31,835 162.03 167.05
Techcombank 25,192 25,442 26,362 27,707 30,760 32,094 157.36 169.78
LPBank 24,960 25,440 26,088 27,611 30,970 31,913 158.36 169.76
DongA Bank 25,170 25,440 26,570 27,260 31,080 31,940 159.20 166.40
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,60
1,60
1,90
2,90
2,90
4,60
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,80
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,30
2,40
2,60
3,50
3,70
4,50
4,50
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,10
2,30
2,50
3,50
3,60
4,50
4,80
Techcombank
0,10
-
-
-
2,20
2,20
2,30
3,40
3,45
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,30
3,30
3,30
4,30
4,50
4,80
5,00
Agribank
0,20
-
-
-
1,60
1,60
1,90
3,00
3,00
4,70
4,70
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,30
3,80
3,80
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?