Kinh tế Việt Nam khi gia nhập các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và một số định hướng hoàn thiện
02/05/2023 12.780 lượt xem
Tóm tắt: Trong bối cảnh nước ta đang hội nhập kinh tế thế giới, việc tích cực đẩy mạnh tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào “sân chơi” mới, đưa những sản phẩm của Việt Nam đến gần hơn với thị trường thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, việc gia nhập các FTA thế hệ mới cũng đem lại không ít thách thức cho nền kinh tế Việt Nam. Xuất phát từ đó, bài viết tập trung phân tích, đánh giá thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay khi gia nhập các FTA thế hệ mới, xác định những cơ hội, thách thức khi tham gia các hiệp định này và từ đó, đưa ra một số giải pháp khắc phục.

Từ khóa: Cơ hội, thách thức, FTA, thế hệ mới, nền kinh tế Việt Nam.
 
VIETNAM ECONOMY SINCE JOINING NEW-GENERATION FREE TRADE AGREEMENTS AND SOME COMPLETE ORIENTATIONS
 
Abstract: In the context that our country is integrating the world economy, actively promoting participation in the networks of new-generation free trade agreements (FTAs) has contributed to promoting the strong and sustainable economy, creating many great opportunities for Vietnamese enterprises to participate in the new “playground”, contributing to bringing Vietnamese products closer to the world market. However, besides the positives, joining the new-generation of FTAs also brings many challenges to the Vietnamese economy. From there, the article focuses on analyzing and evaluating the current situation of Vietnam economy when joining new generation FTAs, pointing out challenges and opportunities as participating in these agreements and thereby offering some solutions to overcome.
 
Keywords: Opportunities, challenges, FTA, new generation, Vietnam economy.

1. Đặt vấn đề
 
Trong những năm gần đây, Việt Nam đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, tích cực tham gia vào mạng lưới FTA thế hệ mới. Theo đó, tính đến năm 2022, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 FTA, trong đó có 15 hiệp định đã có hiệu lực và đang thực thi cam kết, 02 hiệp định đang đàm phán1. Điều đó đã góp phần không nhỏ giúp Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, củng cố thị trường truyền thống, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tham gia vào các thị trường tiềm năng trên thế giới, cũng như giúp cho người tiêu dùng Việt Nam có thể tiếp cận được nguồn hàng phong phú, chất lượng với giá cả hợp lí… Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, việc gia nhập các FTA thế hệ mới cũng đem lại cho nền kinh tế Việt Nam không ít thách thức, buộc phải đối mặt và vượt qua để phát triển, bắt kịp với xu thế hội nhập của thế giới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đưa ra các đánh giá về thực trạng hiện nay của nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập các FTA thế hệ mới; đồng thời, phân tích các cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam, từ đó, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả nền kinh tế trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới là điều rất quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
 
2. Thực trạng hiện nay của nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập các FTA thế hệ mới
 
Hiện nay, với xu hướng phát triển ngày càng hiện đại, các phương thức giao dịch, dịch vụ thương mại mới cũng không ngừng ra đời. Theo đó, các hoạt động đầu tư, hợp tác kinh doanh, chuyển giao công nghệ… giữa các quốc gia, nhà sản xuất, đầu tư cũng được tích cực đẩy mạnh. Tình hình này dẫn đến thỏa thuận hợp tác giữa các quốc gia cũng ngày càng phát triển và mở rộng. Trước đây, các FTA truyền thống chỉ cơ bản là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng, lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên, bên cạnh việc tiếp tục duy trì chế độ thuế quan độc lập với hàng nhập khẩu từ các quốc gia bên ngoài FTA2. Hiện nay, với xu hướng hội nhập quốc tế, các FTA thế hệ mới đã có sự mở rộng và toàn diện hơn trong nhiều lĩnh vực hoạt động đầu tư, mua sắm công, chính sách cạnh tranh, các biện pháp phi thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, lao động, môi trường, thậm chí còn gắn với những vấn đề dân chủ, nhân quyền hay chống khủng bố3... Khi có hiệu lực, các FTA thế hệ mới này sẽ tác động mạnh mẽ tới thể chế của các bên liên quan. Việc gia nhập các FTA thế hệ mới sẽ có nhiều lợi thế và tạo thuận lợi rõ rệt cho sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới do các FTA thế hệ mới xóa bỏ phần lớn thuế quan cho hàng hóa của các quốc gia thành viên với mức cam kết sâu nhất là cắt giảm thuế gần như về 0% và có thể áp dụng với hầu hết các dòng thuế. Đặc biệt là với FTA lớn như FTA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… trong đó có các đối tác đặc biệt lớn của Việt Nam như Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản… Đây chính là cơ hội lớn cho các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam có thể tăng khả năng cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới, đưa sản phẩm Việt Nam đến với thế giới, tạo lợi thế cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể bước vào sân chơi quốc tế, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 


Đẩy mạnh tham gia và kí kết các FTA thế hệ mới tạo cơ hội cho các doanh nghiệp 
và sản phẩm của Việt Nam “bước chân” vào thị trường châu Âu, Mỹ

Trước tình hình nền kinh tế toàn cầu đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc chiến thương mại, mâu thuẫn giữa các nước lớn và cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine đã tác động trực tiếp làm suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu và gây ra sự gia tăng trong chủ nghĩa bảo hộ thương mại, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế mở của Việt Nam. Bên cạnh đó, nền kinh tế thế giới cũng đang phải gánh chịu các tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19. Diễn biến hết sức phức tạp của đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đẩy nền kinh tế thế giới trước bờ vực suy thoái nghiêm trọng, tốc độ tăng trưởng của các quốc gia đều giảm sâu, hàng loạt các doanh nghiệp phá sản, kiệt quệ. Tuy nhiên, đứng trước những tác động khủng hoảng đó, nền kinh tế Việt Nam là một trong nhóm nhỏ các nền kinh tế vẫn thành công trong việc duy trì mức tăng trưởng dương. Để đạt được điều đó, phần lớn nhờ vào xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, tích cực tham gia vào các FTA thế hệ mới. Năm 2020, xuất khẩu đạt 281 tỉ USD, tăng 6,5% so với năm 2019, trong đó có phần đóng góp quan trọng của thương mại với các thị trường FTA mới kí kết; 15 FTA được thực thi cho phép hàng xuất khẩu của Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi khi tiếp cận thị trường ở hơn 50 quốc gia, bao gồm hầu hết các đối tác thương mại lớn nhất, chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu4. Việt Nam đã kí kết rất nhiều FTA với các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có FTA với gần hết 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới, ngoại trừ Mỹ, do Mỹ rút khỏi CPTPP và hiện nay giữa Việt Nam và Mỹ có kí Hiệp định Thương mại song phương (BTA) vào năm 2000. Tính đến năm 2022, Việt Nam đã có 15 FTA có hiệu lực gồm: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA); FTA ASEAN - Trung Quốc (ACFTA); FTA ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA); Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP); Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA); FTA ASEAN - Ấn Độ (AIFTA); FTA ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA); FTA Việt Nam - Chile (VCFTA); FTA Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA); Hiệp định FTA Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu (VN - EAEU FTA); CPTPP; FTA ASEAN và Hồng Kông (Trung Quốc) (AHKFTA), EVFTA; FTA Việt Nam - Vương Quốc Anh (UKVFTA); FTA ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc... (RCEP) và hiện đang đàm phán 02 FTA5. Song song với việc đàm phán gia nhập WTO, thời gian trước năm 2010, Việt Nam đã kí kết FTA với các đối tác thương mại hàng đầu khu vực như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Theo đó, các FTA được kí kết trước năm 2010 đều dựa trên nguyên tắc của WTO đã được thiết lập từ trước, điều này không tạo ra được bước đột phá, mới mẻ, chưa phát huy hết sức mạnh của FTA. Mặc dù cũng là FTA giữa các cường quốc, nhưng trước năm 2010, đa phần các FTA chỉ tập trung vào các đối tác khu vực châu Á, chưa mạnh dạn vươn tới các khu vực châu Âu và châu Mỹ. Trước thực tiễn đó nên khi bước vào giai đoạn 2010 - 2020, Việt Nam đã chủ trương xúc tiến đàm phán các FTA với các nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, EU, Canada… nhằm hỗ trợ mục tiêu công nghiệp hóa của Việt Nam, giảm sự lệ thuộc thương mại vào một khu vực mà mở rộng ra toàn thế giới. Sự thành công của nền kinh tế Việt Nam bắt đầu bước tiến vượt bậc khi tham gia vào CPTPP, EVFTA, đây được coi là các FTA thế hệ mới, phù hợp xu thế phát triển của thương mại hiện đại. Các FTA thế hệ mới này đã thực sự thiết lập lại những tiêu chuẩn và thông lệ thương mại quốc tế mới, được kì vọng cao là sẽ đem lại những động lực tăng trưởng cho thương mại giữa các quốc gia thành viên6. Tính mới ở các FTA này được thể hiện ở mức độ tự do hóa cao trong thương mại và đầu tư, mang tính cải cách, tiến bộ cao vượt ngoài khuôn khổ của WTO. Do đó, các hiệp định này ngoài việc đem đến cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển ở thị trường thế giới, đẩy mạnh phát triển kinh tế còn góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tiến trình cải cách chính sách thương mại, các vấn đề về môi trường, đầu tư trong nước cho phù hợp với thông lệ thương mại quốc tế. 
 
3. Cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập các FTA thế hệ mới 
 
3.1. Cơ hội 
 
Trước bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, việc gia nhập và kí kết các FTA đã mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội lớn. Thông qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu, góp phần nâng cao các mối quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và các cường quốc trên thế giới lên tầm cao mới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội vượt lên trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Do đó, chúng ta cần hiểu rõ, nắm bắt được các lợi thế tạo ra và tận dụng tốt các cơ hội, từ đó đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Một số cơ hội nổi bật khi Việt Nam gia nhập các FTA thế hệ mới như sau:
 
Một là, góp phần phục hồi nền kinh tế cho Việt Nam. Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc, xung đột Nga - Ukraine và đại dịch Covid-19 trong những năm gần đây đã tác động, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Vào cuối năm 2019, đầu năm 2020, khi thời điểm dịch bệnh Covid-19 bắt đầu bùng phát trên thế giới và Việt Nam, nền kinh tế phải tập trung thực hiện phòng, chống dịch bệnh, các chuyên gia đã dự đoán rằng, tăng trưởng kinh tế trong năm 2020 sẽ không thể đạt được mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, nhờ có sự kiện Việt Nam đưa EVFTA vào thực thi đã góp phần ngăn chặn nguy cơ khủng hoảng của nền kinh tế Việt Nam thời điểm đó. EVFTA đã đem đến cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng và đa dạng hóa thị trường, hay nói cách khác EVFTA chính là “phao cứu sinh” cho các doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng chuẩn bị phá sản vì phải “đóng băng” hoạt động sản xuất, kinh doanh quá lâu do diễn biến phức tạp của dịch bệnh. Đồng thời, EVFTA cũng góp phần lớn trong việc thúc đẩy sự hồi phục của nền kinh tế Việt Nam và giúp cho tăng trưởng kinh tế đang dần trên đà phục hồi hậu Covid-19. Nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, EVFTA giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm 20% vào năm 2020; dự kiến tăng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định7. Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu từ EU cũng tăng nhưng với tốc độ thấp hơn xuất khẩu, cụ thể là tăng 15,28% vào năm 2020; dự kiến tăng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 20308. Về mặt vĩ mô, EVFTA góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân dự kiến từ 2,18% - 3,25% (2019 - 2023); 4,57% - 5,30% (2024 - 2028) và 7,07% - 7,72% (2029 - 2033)8. Ngoài ra, việc gia nhập EVFTA còn góp phần giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam và người tiêu dùng có thể tiếp cận được các nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu tốt, chất lượng từ thị trường EU với một mức giá hợp lí.
 
Hai là, tạo điều kiện để cho Việt Nam có thể thay đổi, cải tiến các chính sách và pháp luật sao cho phù hợp với các thông lệ thương mại quốc tế. Các FTA thế hệ mới đặt ra những cam kết sâu, rộng hơn nhiều so với các quy định của WTO. Tuy nhiên, các hiệp định này cũng đã chứng minh được giá trị to lớn của chúng khi đã giúp cho nền kinh tế của Việt Nam chống chọi lại với các ảnh hưởng tiêu cực từ các cuộc chiến thương mại và đại dịch Covid-19, cũng như tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam từng bước gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, các FTA thế hệ mới luôn hướng đến xây dựng nên một môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng, minh bạch thông qua việc thúc đẩy các quốc gia thành viên tái cơ cấu và đổi mới lại các chính sách, pháp luật của quốc gia mình như là các vấn đề về thể chế, kiện toàn bộ máy nhà nước, chính sách pháp luật về sở hữu trí tuệ, vấn đề giới hạn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài9… theo hướng minh bạch, phù hợp hơn với các thông lệ quốc tế. Nhờ những thay đổi này sẽ góp phần giúp cho sản phẩm Việt Nam đủ điều kiện đến gần hơn với thị trường thế giới, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các thị trường “khó tính” như EU, Mỹ…
 
Ba là, giúp thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Các FTA thế hệ mới đều hướng đến tạo ra một thị trường cạnh tranh công bằng, minh bạch, đều có các cam kết về đối xử công bằng giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong các hoạt động đầu tư kinh doanh như thành lập doanh nghiệp, mua bán, sáp nhập, mở rộng, kinh doanh, vận hành… Theo đó, đã tạo cơ hội lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài có thể mạnh dạn đầu tư vào thị trường tiềm năng như Việt Nam. Việc đó tạo nên nguồn vốn FDI lớn cho sự phát triển cho nền kinh tế, đồng thời cũng góp phần giúp cho Việt Nam tiếp cận được các công nghệ, kĩ thuật hiện đại, hạn chế bớt các công nghệ lạc hậu, thúc đẩy phát triển công nghệ xanh, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường. Nhờ các FTA được kí kết, Việt Nam đã thu hút được FDI từ các đối tác có FTA với Việt Nam. Theo đó, trong 139 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam, đứng đầu là những nền kinh tế có quan hệ FTA với Việt Nam như: Hàn Quốc (đứng thứ nhất) với tổng vốn đăng kí trên 70,6 tỉ USD (chiếm 18,4% tổng vốn đầu tư); Nhật Bản (đứng thứ hai) với gần 60,3 tỉ USD (chiếm 15,7% tổng vốn đầu tư); tiếp đến là Singapore, Trung Quốc10...
 
3.2. Thách thức
 
Bên cạnh những mặt tích cực, việc gia nhập FTA thế hệ mới cũng đem đến không ít thách thức lớn đòi hỏi Việt Nam phải đối mặt và mạnh dạn thay đổi để phát triển cho phù hợp với xu thế chung của thế giới. Một số thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh gia nhập các FTA thế hệ mới như sau:
 
Một là, phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe từ các đối tác khi gia nhập FTA thế hệ mới. Việc gia nhập các FTA thế hệ mới mang lại rất nhiều cơ hội đối với các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận được thị trường tiềm năng nhưng nó cũng tạo ra sức ép cạnh tranh lớn cho các nhà đầu tư, tuy nhiên đây là sự cạnh tranh lành mạnh, có chọn lọc, minh bạch. Theo đó, đối với EVFTA thì các mặt hàng của Việt Nam muốn được hưởng ưu đãi thuế quan thì bắt buộc nguồn nguyên liệu phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của EU như về tỉ lệ hàm lượng nội khối nhất định, hạn chế hoặc loại bỏ một số chất cấm sử dụng trong thực phẩm… Đây chính là một thách thức rất lớn cho Việt Nam, bởi đa phần các nguồn nguyên liệu để sản xuất hàng hóa được nhập từ Trung Quốc và các nước trong ASEAN. Đồng thời, tiêu chuẩn của các nước châu Âu rất khác và khắt khe hơn nhiều so với các nước ở khu vực châu Á. Bên cạnh đó, hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước chưa thực sự quan tâm phát triển các sản phẩm theo hướng chú trọng cải thiện chất lượng mà chỉ chú tâm vào việc đẩy mạnh phát triển về doanh thu, số lượng sản phẩm làm ra. Điều đó dẫn đến hàng hóa Việt Nam chưa có nhiều thương hiệu nổi tiếng và chưa thực sự đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng của thị trường quốc tế11.
 
Hai là, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa phù hợp với các thông lệ thương mại quốc tế. Để phù hợp với xu thế hội nhập của thế giới khi tham gia vào các FTA thế hệ mới đòi hỏi Việt Nam phải chấp nhận và tuân thủ luật chơi của thị trường quốc tế. Để làm được điều đó thì cần có hệ thống pháp luật phù hợp và một môi trường kinh doanh lành mạnh, có như vậy thì mới có thể khai thác được hết các lợi thế của FTA thế hệ mới. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống pháp luật của nước ta chưa thực sự phù hợp với các quy định của FTA thế hệ mới. Chẳng hạn như, Nghị quyết số 72/2018/QH14 của Quốc hội phê chuẩn CPTPP cùng các văn kiện liên quan đã chỉ ra rằng, hệ thống pháp luật Việt Nam có rất nhiều quy định chưa thực sự tương thích với CPTPP. Cụ thể, các quy định công đoàn, tổ chức đại diện của người lao động, về đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, tranh chấp lao động hay đình công lĩnh vực lao động; trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là các quy định liên quan đến điều kiện đăng kí hợp đồng để có hiệu lực đối với bên thứ ba12… Hay Nghị quyết số 102/2020/QH14 của Quốc hội phê chuẩn FTA giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu cũng đã cho thấy, các vấn đề chưa phù hợp, cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các quy định EVFTA. Cụ thể là, các vấn đề về tự do hóa đầu tư, thương mại dịch vụ và thương mại điện tử; về lĩnh vực sở hữu trí tuệ là các quy định về bảo hộ chỉ dẫn địa lí, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh13… Có thể thấy, để thực thi các cam kết của FTA thế hệ mới Việt Nam có thể lựa chọn áp dụng trực tiếp hoặc nội luật hóa các quy định trong FTA14. Nhưng thực tế hiện nay các quy định của FTA thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên có rất ít các quy định có thể áp dụng được trực tiếp, vì vậy, phần lớn các quy định đó buộc chúng ta phải nội luật hóa chúng thông qua việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới15. Theo Nghị quyết số 102/2020/QH14 của Quốc hội, Việt Nam cần nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung các văn bản luật như: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Công đoàn16… Đây chính là thách thức lớn cho Việt Nam khi phải sửa đổi hàng loạt các văn bản pháp luật, đồng thời phải thực hiện các cam kết khác đối với các lĩnh vực cụ thể khi gia nhập EVFTA.
 
Ba là, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp, sản phẩm của Việt Nam nói riêng tuy đã có những cải thiện đáng kể so với trước đây nhưng vẫn còn rất yếu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đối với các doanh nghiệp hàng đầu, được đánh giá có năng lực cạnh tranh cao thì chưa nhiều các doanh nghiệp có khả năng vươn ra chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, mặc dù đã tạo rất nhiều điều kiện cho các doanh nghiệp này phát triển nhưng vẫn chưa phát huy được vai trò đi đầu, dẫn dắt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới và phát triển theo hướng chuyển đổi số đi đôi với bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, ở thị trường trong nước, các doanh nghiệp nội địa còn phải đối mặt với “làn sóng” hàng hóa nhập khẩu với giá cả phù hợp và chất lượng tốt, điều này gây ra sức ép cạnh tranh cho các ngành sản xuất trong nước. Ngoài ra, hiện nay cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường đã kí FTA có sự chuyển biến, đã giảm tỉ trọng hàng nhiên liệu thô và nông lâm thủy sản, tăng tỉ trọng của nhóm hàng chế biến, chế tạo và vật liệu xây dựng. Tỉ trọng gộp của cả nhóm hàng chế biến, chế tạo và vật liệu xây dựng tăng từ 62,9% năm 2015 lên 69,8% trong tổng kim ngạch năm 202017. Tuy nhiên, chúng ta đã tập trung quá lớn vào thị trường Trung Quốc (xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc với trị giá 400 triệu USD, chiếm 27,3% tổng trị giá xuất khẩu18) mà không đa dạng hàng hóa thị trường. Việc phụ thuộc quá lớn vào một thị trường sẽ gây ra những rủi ro rất lớn cho nền kinh tế Việt Nam khi thị trường đó cắt giảm hoặc tạm ngưng nhập khẩu. Từ đó cho thấy, năng lực cạnh tranh và khả năng chiếm lĩnh chuỗi cung ứng toàn cầu của các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao, đồng thời sản phẩm của Việt Nam chưa thực sự đủ tiêu chuẩn về chất lượng, giá cả để đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm của các quốc gia khác.
 
4. Một số giải pháp 
 
Với đặc điểm là quốc gia đang phát triển, nguồn vốn hỗ trợ cho các doanh nghiệp còn hạn chế, điều kiện về cơ sở hạ tầng còn yếu. Do vậy, để đạt được mục tiêu đề ra, Việt Nam cần tập trung vào các mục tiêu cụ thể để giải quyết hiệu quả các thách thức trọng tâm trong việc thực thi các FTA thế hệ mới. Nhằm tận dụng các cơ hội đang có và khắc phục một số hạn chế, thách thức, qua đó hướng đến thúc đẩy nền kinh tế phục hồi và phát triển theo hướng lâu dài và bền vững thì cần phải tiếp tục nghiên cứu, xem xét thực hiện một số giải pháp sau:
 
Một là, doanh nghiệp cần chú trọng vào chất lượng các sản phẩm xuất khẩu và nắm bắt được đầy đủ thông tin về các FTA thế hệ mới. Theo đó, với yêu cầu khắt khe cùng với các tiêu chuẩn cao từ EU, cũng như các nước châu Âu khác thì buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động trong việc tìm hiểu, nắm bắt rõ đầy đủ thông tin, yêu cầu, các quy định nghiêm ngặt về các FTA thế hệ mới, cũng như các quy định về xuất nhập khẩu của các quốc gia đối tác. Đồng thời, cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tiếp cận với các tiêu chuẩn khắt khe, các quy định từ các FTA thế hệ mới thông qua các buổi hội thảo, tọa đàm, báo cáo, hướng dẫn các doanh nghiệp để các doanh nghiệp có thể nắm rõ, áp dụng linh hoạt, trung thực các quy định và tự tin khi giao kết các hợp đồng với các đối tác đến từ các thị trường khắt khe. Bên cạnh đó, cũng cần đa dạng hóa các thị trường nhập khẩu nguyên liệu sản xuất, cần chú trọng vào chất lượng sản phẩm phù hợp với các tiêu chuẩn từ các nước đối tác. Hạn chế việc sản xuất ồ ạt, không nên chỉ quan tâm về mặt doanh thu, số lượng mà dẫn đến chất lượng không đạt chuẩn. Có như vậy, hàng hóa, sản phẩm của Việt Nam mới có thể vươn ra thế giới, thỏa mãn các tiêu chuẩn về chất lượng của thị trường quốc tế, xây dựng nên giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
 
Hai là, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, các chính sách, tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch nhằm thực hiện tốt các cam kết khi gia nhập các FTA thế hệ mới. Tuy nhiên, việc cải cách các thể chế chính trị, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cần phải đảm bảo tính đồng bộ, không tạo ra các xung đột pháp lí và mâu thuẫn với chính sách, có hiệu quả và duy trì ổn định môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch, hạn chế ảnh hưởng đến lợi ích của các doanh nghiệp đang hoạt động, cũng như các nhà đầu tư mới trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, cũng phải tăng cường năng lực của các cơ quan quản lí nhà nước, các cơ quan thực thi, đặc biệt là hải quan và ngành tòa án là những người có năng lực chuyên môn cao và được trang bị những kĩ năng cần thiết về thông tin các quy định FTA thế hệ mới, các điều kiện, tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế… Có như vậy, mới có thể tận dụng được thời cơ của các FTA thế hệ mới, từ đó thúc đẩy và nâng tầm giá trị nền kinh tế Việt Nam trên thị trường quốc tế.
 
Ba là, cần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường trong và ngoài nước. Theo đó, đối với thị trường trong nước, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước trong những lĩnh vực trọng yếu đang bị gây sức ép cạnh tranh bởi hàng hóa nhập khẩu bên ngoài. Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước cũng cần đổi mới quy trình sản xuất, chú trọng vào chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, các vấn đề về môi trường, hạn chế nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu của Việt Nam, không nên chỉ thu hẹp trong phạm vi các nước khu vực, cần vươn ra thị trường tiềm năng ở châu Âu. Hạn chế việc tổng giá trị xuất khẩu bị chiếm phần lớn quá nhiều bởi một quốc gia nhất định, bởi nó sẽ đem đến những rủi ro rất lớn khi hiện nay tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới đang rơi vào tình trạng bất ổn, các cuộc xung đột, chiến tranh thương mại có thể ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Việt Nam.  
 
5. Kết luận

Trong những năm qua, nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng phải đối mặt với rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc chiến tranh thương mại và tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, nhờ vào sự đẩy mạnh tham gia và kí kết vào các FTA thế hệ mới, điển hình với hai hiệp định nổi bật là CPTPP năm 2018, EVFTA năm 2019 đã góp phần lớn trong việc vực dậy nền kinh tế đang gặp nhiều khủng hoảng sau đại dịch, từ đó thúc đẩy đà tăng trưởng kinh tế, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam “bước chân” vào thị trường “khắt khe” như EU, Mỹ… Bên cạnh những cơ hội đó, việc gia nhập các FTA thế hệ mới cũng đặt ra cho Việt Nam không ít thách thức lớn. Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá các cơ hội, thách thức của nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập FTA thế hệ mới và đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm thúc đẩy khôi phục và phát triển nền kinh tế Việt Nam theo hướng lâu dài và bền vững là điều rất quan trọng, cấp thiết.
 
1 VCCI (2022), truy cập ngày 01/02/2023, https://trungtamwto.vn/an-pham/15709-cac-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-the-he-moi-va-tac-dong-doi-voi-kinh-te-viet-nam
2 Trần Thị Trang, Đỗ Thị Mai Thanh (2018), “Những tác động nổi bật của FTA thế hệ mới đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, Hội thảo Kinh tế Việt Nam năm 2018 - triển vọng năm 2019, tr. 60 - 71.
3 Trần Thị Trang, Đỗ Thị Mai Thanh (2018), “Những tác động nổi bật của FTA thế hệ mới đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, Hội thảo Kinh tế Việt Nam năm 2018 - triển vọng năm 2019, tr. 60 -71.
4 Nguyễn Sơn (2021), “FTA thế hệ mới thúc đẩy mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam”, truy cập ngày 01/02/2023, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/821753/hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-the-he-moi-thuc-day-muc-tieu-phat-trien-ben-vung-cua-viet-nam.aspx
5 Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bình Phước (2022), truy cập ngày 01/02/2023, https://binhphuoc.gov.vn/vi/stttt/thong-tin-doi-ngoai/thuc-trang-tham-gia-fta-cua-viet-nam-556.html
6 Nguyễn Sơn (2021), “Hiệp định thương mại tư do thế hệ mới thúc đẩy mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam”, truy cập ngày 01/02/2023, <https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/821753/hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-the-he-moi-thuc-day-muc-tieu-phat-trien-ben-vung-cua-viet-nam.aspx
7 Ngân An (2021), “Thương mại Việt Nam - EU sau một năm thực hiện Hiệp định EVFTA”, truy cập ngày 01/02/2023, https://consosukien.vn/thuong-mai-viet-nam-eu-sau-mot-nam-thuc-thi-hiep-dinh-evfta.htm
8 Nguyễn Thị Huyền Trang, Ngô Thị Hường (2020), “Cơ hội và thách thức từ EVFTA đối với doanh nghiệp Việt Nam”, truy cập ngày 01/7/2022, https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/co-hoi-va-thach-thuc-tu-evfta-doi-voi-doanh-nghiep-viet-nam-330219.html
9 Tiêu Hải Vân (2021), “Thực thi các FTA thế hệ mới: Lí luận, thực tiễn và giải pháp”, truy cập ngày 01/02/2023, https://vioit.org.vn/vn/hoc-tac-quoc-te/thuc-thi-cac-fta-the-he-moi--ly-luan--thuc-tien-va-giai-phap-4513.4086.html
10 Nguyễn Hồng Diên (2021), “Khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu”, truy cập ngày 01/02/2023, http://tapchimattran.vn/kinh-te/khai-
thac-hieu-qua-cac-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-mo-rong-va-da-dang-hoa-thi-truong-xuat-khau-41379.html
11 Nguyễn Thị Huyền Trang, Ngô Thị Hường (2020), “Cơ hội và thách thức từ EVFTA đối với doanh nghiệp Việt Nam”, truy cập ngày 01/02/2023, https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/co-hoi-va-thach-thuc-tu-evfta-doi-voi-doanh-nghiep-viet-nam-330219.html
12 Nguyễn Ngọc Hà (2019), “Tham gia FTA thế hệ mới: Lợi thế, thách thức và vấn đề đặt ra cho Việt Nam”, truy cập ngày 01/02/2023, https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/tham-gia-fta-the-he-moi-loi-the-thach-thuc-va-van-de-dat-ra-cho-viet-nam-309173.html
13 Nguyễn Thị Thu Trang (2016), “Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết của FTA Việt Nam - EU về Sở hữu trí tuệ”, NXB. Công thương, Hà Nội.
14 Điều 6 Khoản 2 của Luật Điều ước quốc tế năm 2016.
15 Nguyễn Ngọc Hà (2019), “Tham gia FTA thế hệ mới: Lợi thế, thách thức và vấn đề đặt ra cho Việt Nam”, truy cập ngày 01/02/2023, https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/tham-gia-fta-the-he-moi-loi-the-thach-thuc-va-van-de-dat-ra-cho-viet-nam-309173.html
16 Bộ Công thương Việt Nam (2020), “Công tác sửa đổi, xây dựng pháp luật để thực thi Hiệp định EVFTA”, truy cập ngày 01/02/2023, https://moit.gov.vn/tin-tuc/thi-truong-nuoc-ngoai/cong-tac-sua-doi-xay-dung-phap-luat-de-thuc-thi-hiep-dinh-ev.html
17 Nguyễn Phúc Nam (2021), “Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các quốc gia ASEAN”, truy cập ngày 01/02/2023, https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/chuyen-dich-co-cau-hang-hoa-xuat-khau-cua-viet-nam-sang-thi-truong-cac-quoc-gia-asean-342827.html
18 Thùy Dương (2022), “Xuất nhập khẩu của cả nước đạt 3,05 tỉ USD trong dịp Tết Nguyên đán”, truy cập ngày 01/02/2023, https://www.vietnamplus.vn/xuat-nhap-khau-cua-ca-nuoc-dat-305-ty-usd-trong-dip-tet-nguyen-dan/772114.vnp

ThS. Trịnh Tường Khiêm (Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh)
ThS. Phạm Thị Hải Vân (Trường Đại học Phan Thiết)
TS. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)
 
 
 
 
 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Dữ liệu thống kê trong phục vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Dữ liệu thống kê trong phục vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
28/02/2024 1.313 lượt xem
Trải qua hơn 10 năm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, công tác thống kê tiền tệ phục vụ điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có nhiều bước tiến đáng kể.
Nhận định tác động của chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2023 đối với nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị
Nhận định tác động của chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2023 đối với nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị
24/02/2024 1.459 lượt xem
Năm 2023 vừa qua đã chứng kiến những biến động mạnh mẽ trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) trên thế giới, nổi bật là việc các ngân hàng trung ương (NHTW) liên tục tăng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát.
Chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
13/02/2024 1.935 lượt xem
Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các nước đã thừa nhận sự cần thiết của chính sách an toàn vĩ mô (ATVM) trong ổn định tài chính và đặt chính sách ATVM vào vị trí trung tâm của sự tương tác giữa các chính sách kinh tế vĩ mô với chính sách an toàn vi mô.
Chính sách tài khóa năm 2023 góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Chính sách tài khóa năm 2023 góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
11/02/2024 1.859 lượt xem
Nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2023 được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp, khó dự báo. Căng thẳng địa chính trị, tranh chấp giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột giữa Nga - Ukraine và Israel - Hamas diễn biến bất ngờ, lạm phát và giá nhiên liệu tăng cao khiến đà phục hồi của kinh tế thế giới chậm lại.
Phát triển lành mạnh tín dụng tiêu dùng, hạn chế tín dụng đen
Phát triển lành mạnh tín dụng tiêu dùng, hạn chế tín dụng đen
07/02/2024 1.959 lượt xem
Thời gian qua, tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20%/năm, từng bước góp phần giúp người dân, đặc biệt là những người yếu thế tiếp cận được các dòng vốn chính thức; hạn chế tình trạng tín dụng đen.
Bài toán tín dụng năm 2023 và lời giải cho năm 2024
Bài toán tín dụng năm 2023 và lời giải cho năm 2024
31/01/2024 2.235 lượt xem
Năm 2023 đã đi qua với nhiều câu chuyện kinh tế nổi bật và một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm rất lớn trong hoạt động của ngành Ngân hàng là vấn đề tăng trưởng tín dụng.
Triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Kết quả và giải pháp, định hướng thời gian tới
Triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Kết quả và giải pháp, định hướng thời gian tới
29/01/2024 2.127 lượt xem
Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 (ban hành theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ - Quyết định 1813) được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đầu mối phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai thực hiện được hơn hai năm, đã góp phần tạo sự chuyển biến sâu, rộng về TTKDTM trong nền kinh tế, thúc đẩy sử dụng các phương tiện, dịch vụ TTKDTM.
Chính sách tài khóa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô năm 2023 và một số khuyến nghị năm 2024
Chính sách tài khóa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô năm 2023 và một số khuyến nghị năm 2024
11/01/2024 2.639 lượt xem
Năm 2023, kinh tế toàn cầu phải đối mặt với nhiều rủi ro, bất ổn do tình trạng suy thoái và lạm phát tăng cao lan rộng ở nhiều nước và khu vực; xu hướng thắt chặt tiền tệ thông qua lãi suất cao, các căng thẳng địa chính trị và dư địa tài khóa ngày càng thu hẹp… đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phục hồi kinh tế toàn cầu.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với cổ phần là tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với cổ phần là tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng
19/12/2023 3.912 lượt xem
Để đảm bảo quyền thu hồi nợ, các tổ chức tín dụng (TCTD) quy định khoản vay phải có tài sản bảo đảm (TSBĐ). Đối với doanh nghiệp, TSBĐ cho khoản vay khá đa dạng, trong đó cổ phần cũng được xác định là một loại TSBĐ. Tuy nhiên, hiện nay, việc thi hành án cổ phần còn nhiều hạn chế, vướng mắc do pháp luật hiện hành thiếu vắng các quy định cụ thể. Bài viết tập trung phân tích vấn đề thi hành án cổ phần là đối tượng trong giao dịch bảo đảm thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Giải pháp hoàn thiện các chính sách, kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam
Giải pháp hoàn thiện các chính sách, kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam
16/12/2023 3.144 lượt xem
Việt Nam đặt mục tiêu giảm phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, trên cơ sở chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, xây dựng kinh tế carbon thấp, kinh tế tuần hoàn.
Giải pháp tăng cường phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
Giải pháp tăng cường phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
24/11/2023 4.544 lượt xem
Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, các hành vi rửa tiền và tài trợ khủng bố cũng gia tăng, gây nhiều hệ lụy tiêu cực. Đây là cuộc chiến thực sự và đòi hỏi Việt Nam cần liên tục cập nhật, nhận diện và hoàn thiện các giải pháp đồng bộ nhằm ngăn chặn kịp thời và hiệu quả các hành vi này, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp
Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp
17/11/2023 3.501 lượt xem
Doanh nghiệp nhà nước luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam. Sau hơn 35 năm đổi mới, mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam
Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam
07/11/2023 3.504 lượt xem
Bảo lãnh là một trong 09 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Dân sự và được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực xã hội, nhất là trong các hoạt động của tổ chức tín dụng. Ngày 30/9/2022, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 11/2022/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư số 11/2022/TT-NHNN), trong đó, tại Điều 9 có điểm mới nổi bật là hoạt động bảo lãnh điện tử.
Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”
Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”
28/10/2023 3.151 lượt xem
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 7/2023, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Janet Yellen cho biết: “Bộ Tài chính Hoa Kỳ ghi nhận các thành tựu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong quá trình hiện đại hóa công tác điều hành chính sách tiền tệ, cụ thể là cơ chế điều hành tỉ giá. Tỉ giá đã trở nên linh hoạt và minh bạch hơn. Có thể nói, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ tỉ giá đang được phát huy tốt, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Hai năm qua, kinh tế thế giới đã trải qua các cú sốc lớn và theo quan điểm của tôi, việc điều hành tỉ giá linh hoạt hơn đã giúp Việt Nam vượt qua những cú sốc này”.
Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế
Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế
18/10/2023 3.661 lượt xem
Trong 9 tháng đầu năm 2023, bám sát chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

77.500

79.500

Vàng SJC 5c

77.500

79.520

Vàng nhẫn 9999

63.750

64.950

Vàng nữ trang 9999

63.550

64.550


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24,460 24,830 26,071 27,501 30,477 31,774 158.92 168.20
BIDV 24,515 24,825 26,260 27,480 30,602 31,755 159.98 168.42
VietinBank 24,419 24,839 26,295 27,490 30,875 31,885 160.54 168.49
Agribank 24,480 24,820 26,252 27,272 30,685 31,670 160.70 166.31
Eximbank 24,430 24,820 26,348 27,098 30,793 31,668 161.36 165.94
ACB 24,460 24,810 26,399 27,057 30,960 31,604 160.99 166.16
Sacombank 24,445 24,910 26,492 27,050 31,038 31,561 161.75 166.8
Techcombank 24,488 24,834 26,136 27,486 30,466 31,797 157.17 169.61
LPBank 24,240 25,180 26,277 27,616 30,936 31,879 159.36 170.83
DongA Bank 24,530 24,830 26,400 27,060 30,850 31,680 159.20 166.10
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,70
4,70
BIDV
0,10
-
-
-
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
1,90
1,90
2,20
3,20
3,20
4,80
5,00
ACB
0,01
0,50
0,50
0,50
2,40
2,50
2,70
3,70
3,90
4,60
4,60
Sacombank
-
0,50
0,50
0,50
2,20
2,30
2,40
3,70
4,00
4,80
5,55
Techcombank
0,10
-
-
-
2,50
2,50
2,90
3,50
3,55
4,40
4,40
LPBank
0.20
0,20
0,20
0,20
1,80
1,80
2,10
3,20
3,20
5,00
5,30
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,50
3,50
3,50
4,50
4,70
5,00
5,20
Agribank
0,20
-
-
-
1,70
1,70
2,00
3,00
3,00
4,80
4,90
Eximbank
0,50
0,50
0,50
0,50
3,00
3,20
3,40
4,20
4,30
4,80
5,10

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?