Thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị
19/07/2019 22.212 lượt xem
Tính đến cuối 2010, hệ thống NHTM gồm có 5 NHTM Nhà nước, 37 NHTM cổ phần, 50 chi nhánh NHTM nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài.
 
1. Thực trạng thanh khoản tại các NHTM giai đoạn 2006 - 2017

Về lý thuyết, tính thanh khoản của ngân hàng thương mại (NHTM) được xem như khả năng đáp ứng những nhu cầu tức thời về tiền của NHTM như rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết, chi trả chi phí hoạt động hay những nhu cầu cần phải thanh toán bằng tiền khác. Do đó, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng (NH) không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao.
 
1.1. Khái quát về hệ thống NHTM Việt Nam
 
Tính đến cuối 2010, hệ thống NHTM gồm có 5 NHTM Nhà nước, 37 NHTM cổ phần, 50 chi nhánh NHTM nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài. (Bảng 1)

 
Từ năm 2010, do ảnh hưởng của thị trường thế giới cũng như hệ quả của quá trình mở rộng quá nhanh trước đây, hệ thống ngân hàng đã bộc lộ một số vấn đề bất cập. Chất lượng tín dụng sụt giảm, thanh khoản của hệ thống bất ổn, nguy cơ gây ra đổ vỡ hệ thống... Vì vậy, đầu năm 2012, hệ thống NHTM bắt đầu quá trình tái cơ cấu theo Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015 (Đề án 254). Sau 05 năm triển khai, đề án cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra, xử lý cơ bản được các NHTM yếu kém và giữ được ổn định chung của toàn hệ thống. Từ năm 2012 đến năm 2015, hệ thống đã giảm đi 5 NHTM cổ phần thông qua hoạt động sáp nhập, hợp nhất (Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Nhà Hà Nội, Phương Tây, Đại Á) và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã mua lại 3 NHTM cổ phần (VNCB, OceanBank và GPBank). Đến cuối năm 2015, hệ thống có 7 NHTM Nhà nước (gồm 3 NHTM được Nhà nước mua lại với giá 0 đồng, Agribank và 4 NHTM cổ phần Nhà nước), 28 ngân hàng TMCP, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 5 NH liên doanh. Tuy nhiên, hệ thống vẫn tiềm ẩn những vấn đề đáng lo ngại về sở hữu chéo, nợ xấu ở mức cao cũng như năng lực tài chính của các NHTM vẫn ở mức kém.
 
Chính vì vậy, Đề án Tái cơ cấu NH giai đoạn 2 (2016 - 2020) được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg, với các mục tiêu cụ thể: Tiếp tục cắt giảm tỷ lệ nợ xấu một cách bền vững và cắt giảm đáng kể số NHTM yếu kém; kéo lãi suất cho vay xuống mức trung bình của các nước đang phát triển là khoảng 5%/năm; đảm bảo 70% số NHTM thực hiện đầy đủ Basel II vào năm 2020. Đến nay, sau gần 2 năm, quá trình này đã đạt được kết quả bước đầu. NHNN đã phê duyệt phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của 3/4 NHTM Nhà nước. Các NHTM cổ phần tập trung củng cố, chấn chỉnh toàn diện trên các mặt tài chính, quản trị và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh. Nợ xấu của toàn hệ thống tiếp tục được kiểm soát và duy trì ở mức dưới 3%. Bên cạnh đó, một số mục tiêu cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện như yêu cầu tăng vốn để đảm bảo an toàn hoạt động. Theo tính toán của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, tới cuối năm 2020 nhu cầu vốn tự có tăng thêm của 3 NH VietinBank, BIDV và Vietcombank dự kiến gấp 1,8 - 2 lần so với thời điểm hiện tại mới có thể đáp ứng quy định của Basel II. Nhưng các NHTM Nhà nước này chưa được sử dụng lợi nhuận giữ lại để tăng vốn, trong khi đó, tăng vốn theo hình thức bán cổ phần bị hạn chế bởi quy định về tỷ lệ nắm giữ cổ phần tối thiểu của Nhà nước.
 
Hiện nay, hệ thống NHTM đang trong giai đoạn tiếp tục cơ cấu lại để đảm bảo an toàn hoạt động và hướng tới quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế. Trong đó, những vấn đề cụ thể được quy định chi tiết trong các văn bản pháp lý riêng. Đặc biệt là quản lý thanh khoản của các NHTM được quan tâm và các quy định được cập nhật liên tục. 
 
1.2. Hiện trạng thanh khoản tại các NHTM
 
Nghiên cứu thanh khoản hệ thống các NHTM trong giai đoạn 2006-2017, có thể thấy, về cơ bản được đảm bảo an toàn. Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng thanh khoản diện rộng không xảy ra. Song cũng có NH đôi lúc còn căng thẳng thanh khoản và những khó khăn thanh khoản cục bộ đối với một số NHTM. Những trường hợp căng thẳng thanh khoản của hệ thống NHTM có thể được nhận biết thông qua biến động lãi suất trên thị trường.   
 
Căng thẳng thanh khoản của hệ thống trong giai đoạn 2006 đến 2011 có 3 lần xảy ra với diễn biến và tính chất khác biệt nhau. Cụ thể từng lần như sau: (Biểu đồ 1)

 
Lần thứ nhất là vào năm 2008, khi tỷ lệ tín dụng/huy động vốn của hệ thống vượt qua mức 100% từ tháng 1/2008 thì ngay từ tháng 2/2008, lãi suất huy động vốn và cho vay tăng cao. Cụ thể, các NHTM phải áp dụng nhiều hình thức khuyến mại bằng tiền, hiện vật để tìm cách thu hút nguồn vốn. Xuất hiện tình trạng huy động vốn với kỳ hạn rất ngắn, tương tự như thị trường liên ngân hàng (LNH) với mức lãi suất rất cao. Các kỳ hạn đã được huy động là từ 2 đến 6 ngày với mức lãi suất hấp dẫn từ 0,45-0,65%/tháng. Tình trạng này kéo dài đến tháng 7 khiến cho mặt bằng lãi suất trên thị trường bán lẻ liên tục tăng. Mức tăng bình quân theo tháng từ 1 đến 2%/năm. Kết quả là mức lãi suất huy động vốn kỳ hạn 6 tháng tăng mạnh lên mức 10,5%/năm, vượt ngưỡng hơn 0,61%/năm so với quy định về mức lãi suất không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Đồng thời, mức lãi suất cho vay cũng tăng lên đáng kể. Đến tháng 7/2008, mức lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân của các NHTM tăng lên mức 13,8%/năm, trước tháng 2/2008 dao động ổn định quanh mức 12,3-12,7%/năm. Tình hình căng thẳng hơn khi chịu thêm ảnh hưởng của thị trường chứng khoán. Bởi vì, các NHTM không thể thực hiện bán giải chấp với các khoản vay kinh doanh chứng khoán khi thị trường sụt giảm. Nguyên nhân là do VNIndex sụt giảm trên 60% trong 6 tháng đầu năm 2008. Để tránh tình trạng trở nên tệ hơn, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã vận động ngừng bán giải chấp cổ phiếu. 
 
Lần thứ hai thanh khoản NHTM có biểu hiện căng thẳng là tháng 12/2009 khi lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm. Tỷ lệ vốn thanh khoản/tiền gửi huy động từ nền kinh tế tháng 12/2009 giảm ở tất cả các nhóm NHTM so với cuối năm 2008. Trong đó: Nhóm NHTM Nhà nước giảm từ 34,5% xuống 25,8%; Nhóm NHTM cổ phần giảm từ 47,2% xuống 43,4%; Nhóm NH liên doanh và NH nước ngoài giảm từ 65,3% xuống 60,8%. Cuối tháng 12/2009, số dư huy động vốn của các NHTM từ thị trường LNH tăng 65,8% so với cuối năm 2008. Riêng tháng 12/2009, huy động vốn trên thị trường LNH tăng đột biến (gần 21%) so với tháng 11/2009. Theo đó: Tỷ lệ huy động vốn từ thị trường LNH so tổng dư nợ cho vay nền kinh tế tăng từ 21,6% năm 2008 lên 26%; Tỷ lệ chênh lệch (tổng dư nợ tín dụng - huy động vốn trên thị trường I) so với huy động vốn trên thị trường LNH tăng từ -25,3% năm 2008 lên 5,4% năm 2009. Lãi suất LNH qua đêm và 1 tuần tăng mạnh. Trong khi lãi suất thị trường mở và tái cấp vốn chỉ tăng 1% từ mức 7% lên 8%/năm vào tháng 12/2009 thì lãi suất LNH bình quân tăng từ mức trung bình 6%/năm ở các tháng trong năm lên gần 11%/năm vào tháng 12 đối với kỳ hạn qua đêm, tăng từ 8%/năm lên 12%/năm đối với kỳ hạn 1 tuần. 
Lần thứ ba trong giai đoạn từ tháng 10/2010 - 1/2011, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn VND của toàn hệ thống TCTD tăng đáng kể từ mức 98,6% tháng 10/2010 lên mức 100,07% tháng 11/2010. Mặc dù đến thời điểm cuối năm 2010, tỷ lệ này đã giảm nhẹ xuống còn 99,1%. Nhưng ngay sau đó, vào tháng 1/2011, mức 100% lại tiếp tục bị vượt qua và duy trì đến tháng 5/2011. Nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tăng trưởng huy động vốn bằng VND liên tục diễn ra trong vòng 6 tháng kể từ tháng 10/2010. Thậm chí trong 3 tháng đầu năm 2011, số dư huy động vốn VND vào hệ thống NHTM liên tiếp giảm so với các tháng liền trước. Trên thị trường LNH, mức lãi suất qua đêm tăng liên tục. Mặc dù, trước đó, lãi suất đang duy trì xu hướng giảm từ đầu năm 2010 thì xu hướng ngược lại đã được xác lập từ tháng 7 đến cuối năm. Từ tháng 7/2010 đến tháng 10/2010, mức tăng bình quân tháng của mặt bằng lãi suất LNH liên tục là từ 0,1-0,5%/năm. Đến tháng 11/2010, chỉ trong vòng 1 tháng, mức lãi suất đã tăng cao đột biến 2,8%/năm lên mức 10,3%/năm vào tháng 11/2010. Lãi suất bình quân các kỳ hạn từ 1 tuần đến 12 tháng dao động xung quanh mức 13,3-13,5%/năm, cao hơn mức ổn định 7-11%/năm trong các tháng trước đó. Đồng thời, các NHTM tăng vay mượn trên thị trường LNH từ tháng 8/2010. Mức tăng mạnh nhất diễn ra vào tháng 10/2010 với mức tăng theo tháng đạt 19,3%. Sự gia tăng lãi suất này chính là nguyên nhân giúp cho tỷ lệ dư nợ/huy động vốn của các NHTM có dấu hiệu sụt giảm nhẹ vào cuối năm. Bởi vì, số dư huy động vốn VND của các NHTM từ thị trường LNH trong 11 tháng đầu năm tăng khá so với cuối năm 2009, đạt 14,34%. Tỷ lệ vốn huy động từ thị trường LNH/tổng vốn huy động tăng từ mức phổ biến 14% trong 7 tháng liền trước lên mức 17,1% tháng 11/2010 và tăng lên mức cao nhất 21,03% vào tháng 1/2011.
 
Nguyên nhân gây ra tình trạng rủi ro thanh khoản của các NHTM trong thời gian này là do nhiều yếu tố, từ điều kiện khách quan đến các yếu tố chủ quan của NHTM. Điều kiện khách quan có thể kể đến là ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước. Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là các yếu tố chủ quan của hệ thống khi các NHTM không đáp ứng được các yêu cầu về đảm bảo an toàn thanh khoản của NHNN đưa ra cũng như vấn đề về xử lý khủng hoảng thông tin liên quan đến uy tín, ảnh hưởng của Ban Lãnh đạo NHTM. 
 
1.3. Khung pháp lý về quản lý thanh khoản tại các NHTM
 
Từ Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD, các định hướng ban đầu về đảm bảo an toàn thanh khoản của các NHTM đã được quy định. Cụ thể gồm có: (i) yêu cầu nhân sự cũng như cách thức quản lý thanh khoản đối với các NHTM. NHNN yêu cầu các NHTM đều phải thành lập bộ phận chuyên biệt dưới sự điều hành của thành viên Ban Giám đốc (Ban Tổng Giám đốc) để quản lý chiến lược và chính sách đảm bảo khả năng chi trả của NHTM. Cụ thể hơn về cách thức vận hành, các quy định về việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và các dự kiến/phương án ứng phó cũng được đưa ra; (ii) mức an toàn tối thiểu về tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ khả năng chi trả cho kỳ hạn 7 ngày và 30 ngày, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn. Có thể nói, Quyết định 457 có vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức về quản lý thanh khoản trong hoạt động của các NHTM. 
 
Trong giai đoạn 2006-2010, NHNN đẩy mạnh hoàn thiện các quy định pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng để đảm bảo an toàn hệ thống. Nổi bật là yêu cầu nâng mức vốn pháp định và tăng cường kiểm soát việc chuyển đổi các NHTM cổ phần nông thôn lên thành các NHTM cổ phần đô thị. Đồng thời, các quy định về đảm bảo an toàn thanh khoản của hệ thống tiếp tục được bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện của hệ thống cũng như tiến gần đến các thông lệ quốc tế. Cụ thể là Thông tư 15/2009/TT-NHNN đã quy định “Quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn đối với TCTD”. Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD” quy định chi tiết về tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động. 
 
Trong giai đoạn cơ cấu lại hệ thống theo Đề án 254, NHNN đã phối hợp với các NHTM lành mạnh để cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng yếu để giảm thiểu rủi ro thanh khoản của hệ thống. Ðồng thời, NHNN đã cho các NHTM gia hạn nợ đối với doanh nghiệp (DN) và cho phép một số NHTM mua bán nợ dưới dạng cho DN vay và nợ của các TCTD vay lẫn nhau. Đồng thời, NHNN ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TT 36). TT 36 đã tập trung được tất cả các quy định trước đây và tiếp tục nâng dần quy định về đảm bảo an toàn thanh khoản của các NHTM. Quy định của TT 36 đã chi tiết hơn về quản trị nội bộ về thanh khoản của NHTM cũng như các tỷ lệ an toàn thanh khoản. Các tỷ lệ về khả năng chi trả đã được quy định tương đối đầy đủ nhằm phòng ngừa rủi ro thanh khoản, rủi ro chênh lệch kỳ hạn của NHTM như: Tỷ lệ dự trữ thanh khoản (báo cáo theo ngày); Tỷ lệ khả năng chi trả trong vòng 30 ngày (theo ngày); Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trung và dài hạn; Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trái phiếu chính phủ; Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Trong đó, tỷ lệ khả năng chi trả trong vòng 30 ngày và tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trung và dài hạn có ý nghĩa gần giống với các khuyến nghị về thanh khoản của Basel III (LCR và NSFR). 
 
Đến giữa năm 2016, Thông tư 06/2016/TT-NHNN (TT06) được ban hành nhằm sửa đổi và bổ sung một số điều của TT 36. Trong đó, các nội dung về quản lý thanh khoản đã có những thay đổi quan trọng: (i) Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn điều chỉnh giảm từ 60% xuống 40% đối với NHTM và quy định lộ trình giảm trong 2 năm (2017: 50%, 2018: 40%); (ii) Định nghĩa lại khái niệm NHTM Nhà nước, giữ nguyên tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi đối với nhóm NHTM cổ phần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ là 80%; (iii) Thay đổi tỷ lệ đầu tư trên vốn ngắn hạn đối với NHTM Nhà nước từ 15% lên 25%, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài từ 15% lên 35%, Ngân hàng Hợp tác xã từ 40% về 35%. Bổ sung nguồn vốn ngắn hạn bao gồm cả các khoản tiền gửi cá nhân và tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức. Như vậy, các quy định về an toàn thanh khoản của hệ thống NHTM được điều chỉnh theo hướng chú trọng hơn đến đảm bảo an toàn thanh khoản trong dài hạn, tránh tình trạng các NHTM lạm dụng chuyển đổi kỳ hạn. 
 
Nhìn lại quá trình phát triển của hệ thống có thể thấy, các vấn đề về thanh khoản của hệ thống đã luôn được NHNN hết sức quan tâm và điều hành sát sao. Bởi vì, chính những yếu kém về thanh khoản là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc phải thực hiện cơ cấu lại hệ thống để đảm bảo an toàn và phát triển lành mạnh.
 
2. Một số khuyến nghị 
 
Từ việc nhận biết nguyên nhân của tình trạng khó khăn thanh khoản của NHTM cũng như đánh giá hệ thống pháp lý hiện nay về quản lý thanh khoản được NHNN ban hành, tác giả xin đề xuất một số khuyến nghị nhằm khắc phục tình trạng căng thẳng thanh khoản của các NHTM.
 
2.1. Đối với cơ quan quản lý
 
Việc xây dựng được hệ thống hành lang pháp lý phù hợp với hệ thống NHTM là nhiệm vụ hàng đầu và có vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, những vấn đề về cảnh báo và giám sát hệ thống, cùng với công tác phối hợp xử lý khủng hoảng thông tin trong giai đoạn căng thẳng là đặc biệt quan trọng, trong đó cần hướng đến:
 
Thứ nhất, xây dựng hệ thống chỉ số phản ánh thanh khoản của cả hệ thống: với góc độ của cơ quan quản lý hệ thống, NHNN không chỉ cần quan tâm đến việc xây dựng được các tiêu chuẩn đánh giá cho từng NHTM mà còn phải có hệ thống chỉ số cảnh báo chung cho cả thị trường. Hệ thống cảnh báo sớm về thanh khoản cho toàn thị trường sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng với an toàn thanh khoản của cả hệ thống. Hệ thống này sẽ giúp cảnh báo trước được các trường hợp căng thẳng thanh khoản với biểu hiện là lãi suất thị trường liên tục tăng cao như đã phân tích. Việc giám sát an toàn của hệ thống chỉ dựa vào đảm bảo các hệ số của từng NHTM đáp ứng theo yêu cầu là không đủ. Trong điều kiện các NHTM sẽ phụ thuộc lớn vào đặc điểm của thị trường tài chính thì những chỉ báo chung của thị trường sẽ có tác dụng lớn trong việc cảnh báo cho NHNN lường trước những ảnh hưởng có thể có từ môi trường vĩ mô đến hệ thống. Từ đó, NHNN có các chính sách điều tiết thị trường một cách kịp thời. Hệ thống chỉ số của thị trường có thể áp dụng gồm có các mô hình định lượng về cảnh báo sớm rủi ro thanh khoản cho hệ thống NHTM, áp dụng các chỉ số thanh khoản cho toàn hệ thống theo quy định Basel…
 
Thứ hai, đảm bảo công tác giám sát hệ thống NHTM và có chế tài xử phạt thích đáng. Trường hợp mất thanh khoản của 3 NHTM thực hiện hợp nhất vào năm 2011 được nhìn nhận nguyên nhân do chủ quan trong quá trình hoạt động của bản thân các NHTM. Mặc dù đã được xử lý nhanh chóng, tuy nhiên, những thiệt hại của ngân sách vẫn chưa được công bố. Do đó, vai trò của công tác giám sát hệ thống NHTM là rất quan trọng. Thực hiện giám sát thường xuyên sẽ giúp NHNN sớm phát hiện được trường hợp các NHTM đang có nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản. Từ đó, NHNN có thể áp dụng các chế tài chấn chỉnh sớm ngay từ thời điểm phát sinh để tránh những rủi ro chung cho hệ thống.
 
Thứ ba, vấn đề về xử lý khủng hoảng truyền thông là rất quan trọng với thanh khoản. Vai trò thanh khoản của NHTM chỉ thực hiện được khi niềm tin của người gửi tiền được củng cố. Trường hợp ACB xảy ra sự cố về khủng hoảng thanh khoản, có thể nói, nguyên nhân không bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh thường xuyên mà là từ vấn đề về truyền thông. Do đó, NHNN cùng các cơ quan chức năng cần hết sức thận trọng khi có bất cứ thông báo nào về tình hình của NHTM. Nếu xảy ra trường hợp bất khả kháng phải công bố về các thông tin tiêu cực liên quan đến các NHTM, NHNN có thể yêu cầu các NHTM có sự chuẩn bị trước và lên các phương án đối phó kỹ lưỡng.
 
2.2. Đối với các NHTM
 
Mọi quyết định kinh doanh của NHTM đều phải cân bằng giữa rủi ro và lợi ích. Do đó, với mục tiêu chính là sinh lợi thì việc đảm bảo an toàn thanh khoản thậm chí đôi khi còn được nhìn nhận như là “vật cản”. Tuy nhiên, các trường hợp căng thẳng thanh khoản đã xảy ra cũng cho các NHTM một số bài học. Cụ thể:
 
Thứ nhất, NHTM phải tuyệt đối tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn trong thanh khoản nói riêng và tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh trong ngân hàng nói chung. Đối với các tỷ lệ an toàn thanh khoản, thậm chí, trong thực tiễn hoạt động, các NHTM cần duy trì mức độ an toàn cao hơn so với quy định tối thiểu của cơ quan chức năng. Điều này sẽ giúp các NHTM có thêm cơ hội tránh được rủi ro từ các yếu tố bất thường trong kinh doanh. Đối với tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh, những vi phạm về mặt pháp luật, có khi chỉ từ một thành viên của Ban điều hành, cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn thanh khoản của cả ngân hàng. Do đó, hoạt động giám sát và kiểm tra trong ngân hàng cần phải được thực hiện thường xuyên. Từ đó, có thể kịp thời phát hiện những sai sót và điều chỉnh.
 
Thứ hai, các NHTM hoạt động kinh doanh cần tránh tình trạng chạy đua lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh bằng giá. Phương pháp cạnh tranh này sẽ gây thiệt hại cho chính bản thân các NHTM nhiều nhất. Sự hỗn loạn trên thị trường huy động vốn dân cư trong các giai đoạn căng thẳng của hệ thống cũng phần nào làm cho tình trạng chung trở nên tệ hơn. Thay vào đó, các NHTM có thể cạnh tranh thông qua các chính sách phi giá như nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tăng cường quan hệ với khách hàng… 
 
Thứ ba, thực hiện tốt quản lý khe hở thanh khoản và các vấn đề liên quan đến rủi ro lãi suất. Các NHTM cần hoàn thiện các quy định liên quan đến huy động và cho vay (nhất là huy động, cho vay trung, dài hạn) theo lãi suất thị trường; cần có cách giải quyết khoa học để không xảy ra tình trạng các khách hàng gửi tiền rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có các đối thủ khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hàng hơn. Ngoài ra, quản lý sự không cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng là nội dung quan trọng để quản lý thanh khoản được hiệu quả.
 
Có thể nói, dù hệ thống NHTM Việt Nam chưa gặp phải cuộc khủng khoảng thanh khoản hệ thống, tuy nhiên,  quản lý thanh khoản của các NHTM luôn cần được quan tâm và hoàn thiện để đảm bảo an toàn hoạt động và hướng tới quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế.
 
 
1 VN Economy, Ba ngân hàng hợp nhất là “tự nguyện”, 6 tháng 12 năm 2011. http://vneconomy.vn/20111206101234647P0C6/ba-ngan-hang-hop-nhat-la-tu-nguyen.htm

TS. Đỗ Hoài Linh 
ThS. Lại Thị Thanh Loan 
Nguồn: TCNH số 21-2018

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Một số dự báo an ninh mạng trong năm 2023
Một số dự báo an ninh mạng trong năm 2023
01/02/2023 129 lượt xem
Theo nghiên cứu của các chuyên gia bảo mật, bất ổn chính trị thế giới năm 2022 dẫn đến những thay đổi sẽ tác động đến an ninh mạng trong nhiều năm tới. Với sự xuất hiện ngày càng nhiều các cuộc tấn công tinh vi, các tổ chức cần nhanh chóng chuyển từ cách tiếp cận phản ứng sang chủ động bảo vệ an ninh mạng trong kỷ nguyên số.
Ứng dụng Sandbox để bảo mật và ngăn chặn các mối đe dọa trong hệ điều hành
Ứng dụng Sandbox để bảo mật và ngăn chặn các mối đe dọa trong hệ điều hành
31/01/2023 116 lượt xem
Hiện nay, nhiều ứng dụng sử dụng hằng ngày được áp dụng công nghệ Sandbox giúp bảo vệ hệ điều hành tránh khỏi nguy cơ các cuộc tấn công của hacker - người hiểu rõ hoạt động của hệ thống máy tính, mạng máy tính, có thể viết hay chỉnh sửa phần mềm, phần cứng máy tính để làm thay đổi, sử dụng nó với nhiều mục đích tốt/xấu khác nhau.
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Kết quả và những vấn đề đặt ra hiện nay
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Kết quả và những vấn đề đặt ra hiện nay
30/01/2023 129 lượt xem
Phát triển kinh tế số được xem là biện pháp tối ưu nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế số.
Hoạt động khoa học và công nghệ ngành Ngân hàng thời gian qua và định hướng những năm tới
Hoạt động khoa học và công nghệ ngành Ngân hàng thời gian qua và định hướng những năm tới
26/01/2023 140 lượt xem
Khoa học và công nghệ (KH&CN) đã phát triển vượt bậc và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Năm 2022: Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Chuyển đổi số quốc gia
Năm 2022: Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Chuyển đổi số quốc gia
20/01/2023 250 lượt xem
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thanh toán số, ngân hàng số. Các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng đẩy mạnh tích hợp kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để thiết lập hệ sinh thái số và cung ứng sản phẩm, dịch vụ với trải nghiệm liền mạch, xuyên suốt cho khách hàng.
Phát triển hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế tại Học viện Ngân hàng
Phát triển hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế tại Học viện Ngân hàng
16/01/2023 312 lượt xem
Trên tinh thần hội nhập quốc tế về giáo dục, với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển nền giáo dục Việt Nam, phấn đấu đến năm 2030 trở thành trường đại học đa ngành theo định hướng nghiên cứu ứng dụng và nằm trong top các trường hàng đầu của Việt Nam, đạt chuẩn quốc tế, trong những năm vừa qua, HVNH đã tiên phong xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, văn minh, mang đến cơ hội học tập liên tục, khai phóng sự sáng tạo và phát triển con người toàn diện, trong đó hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia
10/01/2023 670 lượt xem
Bám sát định hướng, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, phát huy những kết quả đã đạt được và tiếp tục tinh thần thúc đẩy đổi mới, sáng tạo với phương châm lấy khách hàng làm trọng tâm, trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sẽ tiếp tục triển khai các định hướng, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ để nghiên cứu, hoàn thiện quy định pháp luật thúc đẩy chuyển đổi số và khung pháp lý cho hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia, đem lại sự tiện ích cho doanh nghiệp và người dân.
Tác động của công nghệ mạng 6G và những yêu cầu đảm bảo an ninh bảo mật ứng phó với tấn công mạng
Tác động của công nghệ mạng 6G và những yêu cầu đảm bảo an ninh bảo mật ứng phó với tấn công mạng
06/01/2023 808 lượt xem
Công nghệ mạng 6G sẽ tạo điều kiện điều hành phương tiện vận chuyển một cách thông minh, giúp cắt giảm mức phát thải carbon, hơn nữa khả năng phân phối năng lượng tốt hơn sẽ nâng cao hiệu suất và tối ưu hóa. Công nghệ mạng 6G hiện vẫn đang được các cơ quan tiêu chuẩn quốc tế thảo luận, trong đó, việc nghiên cứu các phương pháp tăng cường an ninh nhằm ứng phó với các cuộc tấn công mạng là một trong ưu tiên hàng đầu khi nghiên cứu về công nghệ mạng 6G.
Siêu ứng dụng - Cơ hội và thách thức
Siêu ứng dụng - Cơ hội và thách thức
05/01/2023 1.419 lượt xem
Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, hầu hết người dùng điện thoại thông minh đều cài đặt ít nhất một ứng dụng (App) để thanh toán hóa đơn hoặc ứng dụng trong các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng. Một thuật ngữ công nghệ mới đang nổi đó là “Siêu ứng dụng” (Super App) đang rất phát triển trên thị trường, đặc biệt là trong công cuộc chuyển đổi số hiện nay. Vậy siêu ứng dụng là gì và Việt Nam có đang sở hữu một siêu ứng dụng mang tính cách mạng không?
Tự động hóa và tối ưu Logistics trong quy trình tiếp quỹ ATM
Tự động hóa và tối ưu Logistics trong quy trình tiếp quỹ ATM
03/01/2023 1.087 lượt xem
Trong thời đại của kỷ nguyên chuyển đổi số, công nghệ số được tích hợp vào mọi lĩnh vực ngân hàng để phục vụ các mục tiêu tự động hóa quy trình, tối ưu chi phí hoạt động và cải thiện chất lượng dịch vụ. Hoạt động tiếp quỹ cho hệ thống ATM (Automated Teller Machine) mang tính thường xuyên và ảnh hưởng nhiều đến chi phí hoạt động cũng như trải nghiệm dịch vụ khách hàng.
Tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 và những vấn đề pháp lý đặt ra
Tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 và những vấn đề pháp lý đặt ra
16/12/2022 1.902 lượt xem
Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư (CMCN 4.0), rất nhiều thành tựu khoa học mới đã ra đời, trong đó có tiền ảo (virtual currency). Ở nước ta, việc sử dụng và giao dịch bằng tiền ảo đang diễn ra khá phổ biến với tính chất phức tạp. Tuy nhiên, hiện nay, khung pháp lý điều chỉnh về tiền ảo của Việt Nam vẫn chưa được đảm bảo và còn nhiều lỗ hổng. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và rủi ro cho người sử dụng tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 phát triển mạnh như hiện nay.
Chuyển đổi số trong ngân hàng truyền thống
Chuyển đổi số trong ngân hàng truyền thống
06/12/2022 2.437 lượt xem
Công nghệ số được ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động ngân hàng và dịch vụ tài chính; trong đó bao gồm: Máy tính, mạng máy tính, truyền thông số, Internet, công nghệ thông tin và điện tử, truyền thông với phần mềm tích hợp, giúp tăng tốc độ, bảo mật hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng và người sử dụng dịch vụ. Bài viết đưa ra các giải pháp kỹ thuật để chuyển đổi hiệu quả dữ liệu tài chính, ngân hàng truyền thống thành ngân hàng số và đưa ra ưu điểm của việc sử dụng công nghệ và ngân hàng số so với ngân hàng truyền thống.
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
05/12/2022 2.554 lượt xem
Trong thời gian qua, người dân ở nhiều quốc gia trên thế giới khá quan tâm đến tiền điện tử. Tương lai của tiền điện tử là một chủ đề nóng không chỉ giữa các nhà đầu tư mà còn trong xã hội, từ những nhà đầu tư lâu năm như Elon Musk cho đến những người trẻ, thậm chí cả học sinh trường trung học.
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
02/12/2022 2.611 lượt xem
Tại Việt Nam, mô hình NeoBank còn ở giai đoạn sơ khai. Với tiềm năng, thế mạnh đi đầu trong chuyển đổi số, ngành Ngân hàng đang và sẽ có những bứt phá trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ hiện đại, trong đó có xu hướng phát triển NeoBank.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.320

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.300

Vàng SJC 5c

66.500

67.320

Vàng nhẫn 9999

53.700

54.700

Vàng nữ trang 9999

53.500

54.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24,639 26.018 27.488 28.660 172.43 182.55
BIDV 23.300 23.600 24,835 26.039 27,641 28.719 173.60 182.70
VietinBank 23.262 23.622 24,899 26.034 27,850 28.860 173.92 180.87
Agribank 23.280 23.595 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.268 23.653 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.280 23.630 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.260 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?